Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

89



thiết bị máy móc xây dựng phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Bên cạnh đó, cũng

do chính nhà thầu trong nước khơng biết hợp tác với nhau để hình thành các

tổ hợp như nhà thầu nước ngoài; 4) Việt Nam đang thiếu hụt vốn Đầu tư cơ sở

hạ tầng và khu vực tư nhân chưa hào hứng tham gia vào phân khúc này khi

chưa có khung pháp lý hồn chỉnh cho mơ hình hợp tác Đầu tư cơng - tư

(PPP); 5) tỷ lệ nợ xấu còn cao sẽ làm nguồn vốn tín dụng thận trọng hơn.

4.2.2. Lập kế hoạch thối vốn Nhà nước

a. Đối với các cơng ty có vốn Nhà nước hoạt động không hiệu quả

Bên cạnh một số công ty hoạt động hiệu quả đáng chú ý, nhiều công ty

hoạt động không hiệu quả. Đối với các DN này, do hoạt động không hiệu quả

trong thời gian gần đây kết hợp với sự không thuận lợi đối với thị trường

chứng khốn, do vậy Nhà nước cần có chiến lược thối vốn ngay, cụ thể đối

với các cơng ty có vốn Nhà nước chi phối cần phải ngay lập tức kiểm tra lại

giá trị thực của các công ty này do hoạt động không hiệu quả và bị thị trường

đánh giá thấp trong giai đoạn từ năm 2013 - 2015. Trong trường hợp giá trị

thực của các công ty này khơng cao như kỳ vọng thì Chính phủ và người đại

diện vốn Nhà nước cần phải thực hiện ngay theo điều 3, Nghị quyết số 15/

NQ - CP về một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thối vốn Nhà nước tại

cơng ty, tức là chấp nhận thối vốn theo giá thị trường thấp hơn mệnh giá.

Trong trường hợp giá trị kỳ vọng cao trong tương lai cần phải có kế hoạch

thối vốn rõ ràng.

b. Đối với các cơng ty có vốn Nhà nước hoạt động hiệu quả

Trong số các cơng ty có sở hữu Nhà nước chiếm đa số hoặc chi phối, có

nhiều cơng ty đã tạo ra nhiều hiệu quả, có thể kể đến các cơng ty có mã chứng

khốn như VNM,.... Tuy nhiên đây chỉ là một số ít cơng ty có vốn Nhà nước

hoạt động hiệu quả. Đối với các công ty này, mặc dù hiệu quả nhưng vẫn có

lộ trình thối vốn, cụ thể:



90



- Xác định lại giá trị của công ty, nếu mức giá thị trường phản ánh đúng

giá trị của công ty thì Nhà nước nên bán ngay để bảo tồn vốn.

- Trong trường hợp các công ty này mức giá không cao (thấp hơn so với

giá kỳ vọng) cũng cần có lộ trình để thối vốn dần trong tương lai.

4.2.3.



Cho phép tăng giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các công ty



Trong những năm tới, các ngành nghề ở Việt Nam có nhiều cơ hội để

phát triển mạnh mẽ do nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nhà ở

trong nước đang tăng mạnh. Trong lĩnh vực giao thơng vận tải, là việc xây

dựng, hồn thiện tuyến đường cao tốc Bắc Nam, xây các cảng nước sâu ở Hải

Phòng, Khánh Hòa và Bà Rịa - Vũng Tàu hay sân bay ở Đồng Nai. Lĩnh vực

năng lượng cũng đòi hỏi xây dựng nhiều nhà máy thủy điện để đáp ứng nhu

cầu trong nước. Trong lĩnh vực nhà ở, Bộ Xây dựng cũng dự báo với tốc độ

tăng trưởng dân số và đơ thị hóa nhanh như hiện nay, nhu cầu nhà ở tại Việt

Nam sẽ tăng mạnh. Trong thời gian tới, trung bình mỗi năm Việt Nam sẽ cần

thêm 36 triệu m2 nhà ở ở khu vực đơ thị.

Những chính sách ưu tiên phát triển ngành xây dựng cơng nghiệp và dân

dụng của Chính phủ nêu trên sẽ tạo ra nguồn cầu lớn cho các nhà thầu xây

dựng và thúc đẩy thị trường xây dựng và cung cấp vật liệu xây dựng ở Việt

Nam phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

Tuy nhiên, thực tế những năm qua cho thấy các cơng trình lớn, đặc biệt

là xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đều do nhà thầu nước ngồi thực hiện

hoặc giữ vai trò chính. Ví dụ như dự án cảng nước sâu quốc tế tại Hải Phòng

do Tổng cơng ty Tân Cảng Sài Gòn liên doanh với đối tác Molnykit (Nhật

Bản) để xây dựng bãi Container và cầu tàu. Ngoài ra, theo thống kê của Viện

Nghiên cứu cơ khí (Bộ Cơng Thương) được cơng bố hồi đầu tháng 4/2014,

Việt Nam hiện có 20 dự án nhiệt điện thì có 15 cơng trình được phía Trung

Quốc làm tổng thầu. Nếu chỉ tính riêng đến năm 2010, có đến 90% các dự án



91



tổng thầu EPC (tư vấn, thiết kế - cung cấp thiết bị - xây lắp, vận hành) do nhà

thầu Trung Quốc đảm nhiệm, trong đó chủ yếu là dự án trong các lĩnh vực dầu

khí, hóa chất, điện, dệt kim.

Một điều đáng quan tâm là phần lớn các cơng trình xây dựng do nhà thầu

nước ngoài, đặc biệt nhà thầu Trung Quốc thực hiện thường bị chậm tiến độ,

làm tăng chi phí, trong khi không đảm bảo được chất lượng cam kết. Trong

nhiều trường hợp, dù đã biết rõ năng lực của nhà thầu nước ngoài, nhưng do

những ràng buộc trong các hiệp định vay ODA, hay do khơng tìm được nhà

thầu trong nước đủ khả năng mà chủ Đầu tư vẫn phải chấp nhận những nhà

thầu nước ngồi đó. Tình trạng này không chỉ làm ảnh hưởng đến sự phát

triển của nền kinh tế nói chung mà còn khơng thể thúc đẩy sự phát triển của

các cơng ty trong nước nói riêng.

Một giải pháp hữu hiệu đó là gia tăng tỷ lệ tham gia của các NĐT nước

ngoài vào quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty.

Hơn nữa, khi tỷ lệ sở hữu vượt qua mức đa số (51%), các NĐT nước ngồi sẽ

có thêm cơ hội tham gia trực tiếp vào việc quản trị công ty. Không chỉ giúp

tăng vốn mà sự tham gia trực tiếp của NĐT nước ngồi vào hoạt động quản trị

của cơng ty còn giúp năng lực quản trị và cạnh tranh nói chung của cơng ty

được cải thiện. Cơng ty còn có cơ hội tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ

thuật và máy móc hiện đại trên thế giới.

Tóm lại, việc các cơng ty được NĐT nước ngồi quan tâm và nắm giữ cổ

phần sẽ khắc phục được những hạn chế về vốn, trình độ cơng nghệ. Đồng

thời, NĐT nước ngồi tham gia nhiều hơn vào quy trình quản lý công ty sẽ

giúp cải thiện đáng kể năng lực hoạt động và tăng cường giá trị thương hiệu

cho các công ty này. Thực tế, tỷ lệ sở hữu nước ngồi tại các cơng ty dưới

50% sẽ khiến cổ đơng là tổ chức nước ngồi khó có được quyền quyết định

trong công tác quản trị và điều hành công ty. Mặt khác, với những công ty



92



gần đạt tới mức giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài vốn là những cơng ty phát

triển tốt, được NĐT quan tâm thì NĐT sẽ khơng có nhiều cơ hội gia tăng nắm

giữ cổ phiếu của các công ty này.

Hiện nay, đa phần các cơng ty niêm yết ở Việt Nam có tỷ lệ sở hữu nước

ngoài ở mức thấp so với giới hạn cho phép. Tuy nhiên, về lâu dài, việc nới

lỏng quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong các công ty niêm yết sẽ giúp

tăng thanh khoản cho cổ phiếu trên thị trường, cải thiện khả năng huy động

vốn cho công ty khi cần thiết, đồng thời giúp NĐT nước ngoài tham gia sâu

hơn vào các hoạt động của các cơng ty.

Mục đích chính của việc thu hút vốn đầu tư nước ngồi thơng qua việc

mua cổ phần của các cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khốn là nhằm

nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị, trình độ khoa học và kỹ thuật

và đa dạng hóa nguồn vốn chủ sở hữu chứ khơng phải để NĐT nước ngồi

chiếm lĩnh thị trường nội địa. Do đó, cần tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh thực

tế để quy định một tỷ lệ sở hữu cổ phần thích hợp của NĐT nước ngồi. Theo

dự thảo trình Thủ tướng chính phủ của Bộ Tài chính từ cuối năm 2013 thì tỷ

lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngồi có thể được tăng lên, cụ thể, NĐT nước

ngồi có thể nâng số cổ phiếu biểu quyết tối đa tại các công ty niêm yết ở một

số ngành lên 60% thay vì 49% như hiện nay. Ngồi ra, NĐT nước ngồi cũng

có thể mua tối đa 100% cổ phần khơng có quyền biểu quyết...

Tuy nhiên, việc nới lỏng mức quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngồi có thể

khiến thị trường trong nước bị phụ thuộc vào NĐT nước ngồi. Để tránh tình

trạng này, nên quy định NĐT nước ngoài phải giảm tỷ lệ sở hữu của họ xuống

một mức nhất định sau một thời gian nắm giữ. Ví dụ như Malaysia quy định

với các doanh nghiệp trong ngành viễn thơng, tổng mức sở hữu nước ngồi

được phép lên tới 61% song các NĐT nước ngoài phải giảm cổ phần của họ

xuống 49% sau 5 năm. Ngoài ra, nên đưa ra bộ tiêu chí đánh giá NĐT nước



93



ngồi nào đủ điều kiện để nắm giữ cổ phần chi phối tại các DN. Ví dụ như

Trung Quốc quy định chỉ những NĐT nước ngồi có chứng chỉ xác nhận đủ

điều kiện (QFII) mới được phép giao dịch cả cổ phiếu Loại A (cổ phiếu được

niêm yết bằng Nhân dân tệ) và Loại B (cổ phiếu được niêm yết bằng đồng

ngoại tệ) còn NĐT nước ngồi nói chung chỉ được giao dịch những cổ phiếu

Loại B.

Những giải pháp từ phía Nhà nước sẽ có tác dụng hỗ trợ tích cực tới hiệu

quả hoạt động của công ty cũng như để thu hút vốn đầu tư nước ngồi vào thị

trường chứng khốn nói chung và cho các cơng ty niêm yết. Tuy nhiên, cho

dù Nhà nước thực thi nhiều chính sách ưu đãi để thu hút NĐT nước ngoài cho

các DN đến đâu mà bản thân các công ty không tự tăng cường năng lực sản

xuất kinh doanh để trở thành ‘hàng hóa’ hấp dẫn NĐT thì cũng khơng thể

khiến NĐT nước ngồi gia tăng mua cổ phần tại các cơng ty này.

4.2.4. Thực hiện các biện pháp nhằm hỗ trợ sự phát triển của thị

trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm, từ

đỉnh cao rồi rơi xuống vực thẳm, mặc dù nhiều chuyên gia có nhận xét lạc

quan rằng năm 2014 thị trường chứng khốn sẽ khởi sắc, tuy nhiên tính đến

thời điểm hiện tại thị trường chứng khốn vẫn còn bất cập. Để phát triển bền

vững TTCK, việc hoàn thiện khung pháp lý là điều kiện tiên quyết. TTCK chỉ

có thể phát triển nếu quốc gia đó ban hành được một hệ thống văn bản pháp lý

đầy đủ, đồng bộ, có tính tiên liệu và hiệu lực pháp lí cao, ...ổn định trong thời

gian dài. Một hệ thống pháp lý chắp vá, không đồng bộ, tính pháp lý thấp và

thay đổi thường xuyên sẽ làm cho TTCK hoạt động không ổn định, hiệu quả

thấp kém và chậm phát triển. Theo Tổ chức Quốc tế của các Uỷ ban Chứng

khốn (IOSCO) thì mục tiêu điều chỉnh pháp luật đối với thị trường chứng

khoán là: “bảo vệ nhà đầu tư; bảo đảm thị trường công bằng, hiệu quả và



94



minh bạch; giảm thiểu rủi ro hệ thống”. Vì vậy, một hệ thống pháp luật ổn

định đáp ứng những chỉ tiêu như Pháp luật chứng khoán phải đồng bộ với

toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, tương thích với chuẩn mực quốc tế

và tiếp thu những nhân tố hợp lý của pháp luật nước ngoài, ngăn ngừa và

kiểm soát được rủi ro hệ thống .... mới có thể bảo đảm cho sự phát triển bền

vững của thị trường chứng khốn.

Bên cạnh đó thị trường chứng khoán trong nước phát triển sẽ tạo ra sức

hút với các NĐT quốc tế, khiến họ quan tâm hơn đến các cơng ty trong nước.

Vì vậy, để tăng tỷ lệ sở hữu nước ngồi trong các cơng ty Việt Nam, trước hết

cần mở rộng quy mô, nâng cao năng lực hoạt động cũng như tăng cường tính

hiệu quả và cạnh tranh của thị trường chứng khoán.

Các cơ quan quản lý cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định

pháp luật, chính sách về hoạt động Đầu tư của các NĐT nước ngoài tham gia

trên thị trường chứng khốn. Bên cạnh đó, ủy ban chứng khốn Nhà nước, các

Sở giao dịch chứng khốn cần tăng cường tính minh bạch của thị trường,

giám sát chặt chẽ việc công bố thông tin của công ty để đảm bảo NĐT nhận

được thơng tin khách quan, chính xác.

Ngồi ra, các cơ quan quản lý cần nghiên cứu và sớm đưa vào giao dịch

các loại hàng hóa khác như các loại chứng khốn phái sinh, chứng khoán lai

ghép, chứng chỉ các quỹ đầu tư... nhằm tăng tính đa dạng và tính thanh khoản

cho thị trường. Đồng thời, cần sớm hình thành các khn khổ pháp lý để cơng

ty Việt Nam có thể chủ động thực hiện niêm yết cổ phiếu ở nước ngoài nhằm

thu hút vốn trên thị trường quốc tế.

Cuối cùng, cần tiếp tục duy trì các hoạt động hợp tác và hội nhập trong

khu vực và quốc tế, học hỏi kinh nghiệm quản lý, điều hành thị trường chứng

khoán của các nước khác để góp phần thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt

Nam phát triển.



95



4.2.5. Cho phép phát hành các loại cổ phiếu dành riêng cho NĐT

nước ngoài

Để tăng tỷ lệ sở hữu nước ngồi trong các cơng ty niêm yết khơng chỉ có

một biện pháp là nới lỏng mức giới hạn mà cho phép công ty phát hành thêm

một tỷ lệ nhất định cổ phiếu khơng có quyền biểu quyết cho NĐT nước ngoài.

Biện pháp này sẽ giúp tăng cường nguồn vốn cho các cơng ty mà vẫn tránh

tình trạng NĐT nước ngoài chi phối toàn bộ hoạt động của cơng ty.

Một ví dụ điển hình là “Chứng chỉ lưu ký khơng có quyền biểu quyết

(None voting depository receipt - NVDR)” đang được áp dụng rất thành công

tại Thái Lan và đã được Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

đề xuất thực hiện lên ủy ban Chứng khốn. Sở hữu NVDR, NĐT được nhận

những lợi ích như Đầu tư vào cổ phiếu thường. Điểm khác biệt duy nhất là

người sở hữu NVDR khơng có quyền biểu quyết hay tham gia vào các quyết

định của công ty. Công ty Thai NVDR mới là người sở hữu hợp pháp số cổ

phiếu của công ty niêm yết và nắm giữ quyền biểu quyết tương ứng với số cổ

phiếu. Tuy nhiên, trên thực tế công ty Thai NVDR sẽ không tham gia vào việc

biểu quyết trong Đại hội đồng cổ đông của công ty niêm yết trừ trường hợp

Đại hội cổ đông được triệu tập để hủy niêm yết trên sàn chứng khốn.

Bên cạnh đó, khi tỷ lệ sở hữu nước ngoài với một cổ phiếu bất kỳ đã

chạm giới hạn thì NĐT nước ngồi tại Thái Lan có hai lựa chọn để mua thêm

cổ phiếu đó: (i) mua “cổ phiếu nước ngồi” (foreign shares) (thường là với giá

cao hơn bình thường) trên Bảng dành cho khối ngoại của Sở giao dịch chứng

khoán Thái Lan hoặc (ii) mua “cổ phiếu địa phương” (local shares) trên các

Bảng khác nhưng không được quyền đăng ký sở hữu bằng tài khoản của

mình. Cổ phiếu giao dịch trên Bảng dành cho khối ngoại sẽ được đăng ký

dưới tên của NĐT nước ngồi. Do đó, NĐT nước ngoài nắm giữ cổ phiếu sẽ

được nhận cổ tức, có quyền ưu tiên mua cổ phiếu phát hành thêm và có quyền



96



biểu quyết. Ngược lại, các “cổ phiếu địa phương” sẽ được đăng ký dưới tên

người được ủy quyền (thường là chuyên viên môi giới). Trong trường hợp

này, lợi ích nhận được từ công ty sẽ được thực hiện qua tài khoản của người

được ủy quyền chứ không phải trực tiếp với NĐT nước ngoài.

Việc tỷ lệ cổ phiếu của một công ty do các cá nhân, tổ chức ngoài nước

nắm giữ bị giới hạn ở một tỷ lệ nhất định đã tạo rào cản cho các NĐT nước

ngoài trong việc đẩy mạnh đầu tư vào các công ty trong nước. Vì thế việc

phát hành các loại chứng khốn đặc biệt dành riêng cho NĐT nước ngoài như

một phương tiện đầu tư thay thế sẽ giúp NĐT nước ngoài nhận được các lợi

ích tài chính tương tự như nhà Đầu tư trong nước mà không phải quan tâm

đến những quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài.

4.2.6. Áp dụng những chính sách ưu đãi đặc biệt để khuyến khích

NĐT nước ngồi Đầu tư vào các DNNY

Hiện nay, theo hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC về việc

"Thu nhập về Đầu tư vốn và thu nhập từ chuyển nhượng vốn”, NĐT nước

ngồi nói chung phải chịu thuế suất thuế thu nhập cá nhân là 5% cho khoản cổ

tức nhận được cũng như chịu thuế suất 0,1% cho mỗi lần giao dịch chuyển

nhượng chứng khoán. Để tăng cường thu hút, tập trung dòng vốn của NĐT

nước ngồi vào các cơng ty trên thị trường chứng khốn, Nhà nước cần có

một số ưu đãi đặc biệt cho các NĐT này.

Ví dụ cụ thể như tại Trung Quốc, NĐT nước ngoài Đầu tư vào nhóm cổ

phiếu loại B (cổ phiếu được niêm yết bằng đồng ngoại tệ) được miễn toàn bộ

các thuế đánh trên thu nhập từ cổ tức và thu nhập từ lãi vốn trong các giao

dịch. Một ví dụ khác là các NĐT nước ngoài tham gia thị trường chứng khốn

Hồng Kơng hồn tồn khơng phải chịu thuế trên thu nhập từ cổ tức hay thu

nhập từ lãi vốn và cũng không bị giới hạn tỷ lệ sở hữu của nước ngồi trong

các cơng ty. Tại Indonesia, khơng có giới hạn về tỷ lệ sở hữu tối đa của NĐT



97



nước ngồi tại các cơng ty trong ngành xây dựng và NĐT nước ngồi khơng

bị giới hạn quyền biểu quyết. Bên cạnh đó, đầu tư tại Indonesia, NĐT nước

ngồi chỉ phải chịu thuế suất 0,1% cho mỗi giao dịch chứng khoán mà không

bị đánh thuế thu nhập từ lãi vốn. Do vậy, cần có chính sách khuyến khích

NĐT nước ngồi tích cực mua cổ phiếu của các công ty đang niêm yết, tức là

ưu đãi về trình tự, thời gian làm thủ tục đăng ký mở tài khoản giao dịch; hay

là ưu đãi về thuế như miễn thuế với NĐT nước ngoài cho các khoản thu nhập

đến từ cổ tức hay giao dịch cổ phiếu của các công ty.

4.2.7 Một số đề xuất khác

Những phân tích ở trên cho thấy, tỷ lệ sở hữu của Nhà nước vẫn tương

đối cao và tỷ lệ sở hữu nước ngồi tại các cơng ty đang niêm yết còn thấp so

với mức giới hạn. Do đó, để tăng hiệu quả hoạt động của cơng ty, các cơng ty

cần tính tốn lại mức sở hữu của từng thành phần. Bên cạnh đó, để thu hút

NĐT nước ngồi và duy trì ổn định tỷ lệ sở hữu nước ngồi thì trước hết bản

thân mỗi cơng ty phải chủ động nâng cao năng lực của mình, bằng một số giải

pháp cụ thể như:

Nâng cao năng lực quản trị công ty của ban quản lý và HĐQT công ty

Nâng cao tính chun nghiệp cho ban quản lý cơng ty là một trong

những vấn đề quan trọng đối với các công ty trong giai đoạn hiện nay. Các

quan điểm về quản trị công ty hiện đại cần được áp dụng, quản trị công ty

hiện đại khác với quản trị kinh doanh thông thường. Theo OECD, quản trị

công ty được hiểu theo những nội dung: Công khai và minh bạch thông tin;

Xử lý mâu thuẫn quyền lợi giữa người quản lý công ty, hội đồng quản trị và

cổ đông khác; Xử lý mâu thuẫn giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số; Vai trò

của quản trị viên độc lập, các tổ chức kiểm tốn độc lập; Chính sách đãi ngộ

với các nhà quản lý; Thủ tục phá sản doanh nghiệp; Quyền tư hữu; Việc thực

thi các điều khoản luật và hợp đồng. Quản trị cơng ty có hiệu quả đóng vai trò



98



quan trọng đối với sự thành cơng của cơng ty. Thực tế cho thấy, những công

ty thực hiện tốt việc quản trị sẽ có khả năng tiếp cận dễ dàng hơn với các

nguồn vốn giá rẻ và thường đạt hiệu quả hoạt động cao hơn các công ty khác.

Lợi ích của quản trị công ty thể hiện ở những mặt như thúc đẩy hoạt động và

nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường vốn,

giảm chi phí vốn và tăng giá trị tài sản, nâng cao uy tín của cơng ty,...

Qua điều tra của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC-2012) về điểm số quản

trị công ty cho thấy Tỷ lệ sở hữu nước ngồi trong cơng ty nghiên cứu giảm

thì điểm số quản trị công ty cũng giảm tương ứng, cụ thể 25 doanh nghiệp có

điểm số quản trị cơng ty thấp nhất đều có Tỷ lệ sở hữu nước ngồi thấp nhất

(11,7%).

Ngược lại, kết quả khảo sát của tổ chức này cho thấy các cơng ty có sở

hữu nước ngồi có cơ hội đạt điểm quản trị công ty cao hơn so với những

doanh nghiệp khác. Điều này phản ánh tác động của yếu tố sở hữu nước ngồi

lên cơng ty. Hoặc là nhà đầu tư nước ngồi thường đòi hỏi các công ty họ Đầu

tư phải áp dụng những thông lệ quản trị công ty tốt hơn, hoặc họ chỉ bỏ vốn

Đầu tư vào những cơng ty đã có chất lượng quản trị công ty tốt. Luận điểm

này cũng được củng cố bởi các nghiên cứu về nhà Đầu tư mà kết quả đã chỉ ra

rằng nhà Đầu tư thường ưu tiên Đầu tư vào những công ty được quản trị tốt

hơn. McKinsey, báo cáo quý, 8/2002, khảo sát nhà Đầu tư cho thấy nhà Đầu

tư sẵn sàng trả thêm cho những cơng ty có tình hình quản trị tốt. Nghiên cứu

này và một số nghiên cứu khác cho biết tỉ lệ sẵn sàng trả thêm của các nhà

Đầu tư là 10%-30% đối với các doanh nghiệp ở các thị trường mới nổi Châu

Á. Tiến hành phân tích tương tự đối với những doanh nghiệp có tỉ lệ sở hữu

nhà nước từ 5% trở lên cho thấy một bức tranh khác với sở hữu nước ngồi.

Sở hữu nhà nước khơng có tác động tích cực đáng kể nào lên điểm số QTCT

cũng như thông lệ QTCT của các doanh nghiệp được khảo sát. Ngun nhân



99



có thể do Nhà nước khơng có lợi thế như nhà Đầu tư tư nhân là được tự do

lựa chọn những doanh nghiệp có QTCT tốt hơn để đầu tư. Các công ty nhà

nước nắm giữ cổ phần hiện nay đều là những công ty nhà nước đã được cổ

phần hóa. Như vậy nhà nước có cơ hội rất lớn để cải thiện thông lệ quản trị

công ty của các công ty niêm yết thông qua việc cải thiện quản trị công ty ở

những công ty mà nhà nước là cổ đơng lớn.

Do vậy, để tăng tính hiệu quả cho các công ty niêm yết, các công ty cần

phải nâng cao chất lượng quản trị công ty, cụ thể: tăng cường quản lý Nhà

nước, có hướng dẫn cụ thể phù hợp để công ty triển khai, áp dụng các quy tắc

quản trị công ty hiện đại. Mặc dù đã áp dụng rất nhiều quy tắc quản trị công

ty từ các nước phát triển trong việc đánh giá năng lực quản trị công ty của các

công ty, tuy nhiên có thể nhận thấy các cơng ty vẫn chưa thực sự hòa nhập với

các nội dung này. Do vậy, Nhà nước cần phải tăng cường quản lý cũng như

thực hiện các khung thể chế cho quản trị công ty.

Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên các công ty là một

trong những nhân tố quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh

doanh của mỗi công ty. Tuy nhiên hiện nay, nguồn nhân lực chủ yếu là lao

động phổ thông hoặc lao động nông nhàn chưa qua đào tạo và khơng có trình

độ kỹ thuật cao. Đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo công ty chủ yếu trưởng

thành qua hoạt động sản xuất kinh doanh, ít được đào tạo một cách bài bản,

nhất là kiến thức quản lý kinh tế. Đây là hạn chế không nhỏ đối với việc nâng

cao năng lực quản trị của các cơng ty. Ngồi ra, các dự án lớn trong nước vẫn

phải thuê tư vấn thiết kế, giám sát cơng trình... là người nước ngồi khiến các

cơng ty khó tự chủ hồn tồn được trong sản xuất kinh doanh.

Do đó, các cơng ty cần có kế hoạch bồi dưỡng nguồn nhân lực chất

lượng cao để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong nước. Các cơng ty có thể



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×