Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY

Tải bản đầy đủ - 0trang

22



 Công ty trách nhiệm hữu hạn: với số thành viên thấp nhất là 2 người

và cao nhất là 50 người, không được quyền phát hành cổ phiếu.

 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do 1 tổ

chức hay cá nhân làm chủ sở hữu, không được quyền phát hành cổ phiếu.

 Công ty cổ phần: số thành viên ít nhất là 3 người, cao nhất không

giới hạn, được quyền phát hành cổ phiếu.

 Công ty hợp danh: có ít nhất 2 thành viên, buộc phải là cá nhân,

không được quyền phát hành cổ phiếu.

 Doanh nghiệp tư nhân: do một cá nhân làm chủ, chịu trách nhiệm bằng

toàn bộ tài sản, mỗi cá nhân chỉ được lập duy nhất một doanh nghiệp tư nhân.

 Nhóm cơng ty: là một tập hợp các cơng ty có mối quan hệ gắn bó lâu

dài với nhau về lợi ích kinh tế, cơng nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh

doanh khác. Nhóm cơng ty bao gồm các hình thức sau đây:

Cơng ty mẹ - cơng ty con.

Tập đồn kinh tế.

Doanh nghiệp nhà nước (quốc doanh)

Các hình thức khác.

1.1.2. Hoạt động của công ty

Hoạt động của công ty là việc công ty thực hiện các hoạt động, các

nhiệm vụ để cung cấp sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ tới khách hàng và thu

được các giá trị gia tăng từ các tài sản mà công ty sở hữu hay còn gọi là lợi

nhuận. Hoạt động của cơng ty bao gồm 3 nguyên tắc cơ bản bao gồm: (1) Tạo

ra thu nhập, (2) Tăng giá trị của các tài sản kinh doanh; (3) Bảo đảm thu nhập

và giá trị của cơng ty. Ba ngun tắc này có mối quan hệ mật thiết với nhau.

Trong đó việc tạo thu nhập là nguyên tắc đơn giản nhất và công ty hoạt động

phải đảm bảo nguồn đầu vào cho công ty cũng như việc cung cấp hàng hóa và



23



dịch vụ cho khách hàng, nhằm tạo ra nhiều doanh thu, đồng thời có chi phí

thấp hơn so với số tiền thu về nói cách khác là công ty phải tạo ra lợi nhuận.

Trong nguyên tắc thứ 2, bên cạnh việc tạo ra lợi nhuận, công ty cần đảm

bảo việc tái đầu tư vào sản xuất để tiếp tục tạo khả năng sinh lời cho tài sản,

tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho tài sản kinh doanh.

Nguyên tắc cuối cùng là một trong những nguyên tắc quan trọng để đảm

bảo duy trì và phát triển bền vững cho công ty. Việc công ty tồn tại được hay

không phụ thuộc vào mong muốn hay nhu cầu của khách hàng đối với hàng

hóa và dịch vụ, khả năng của khách hàng để thanh toán hàng hóa và dịch vụ,

tính độc đáo và khả năng cạnh tranh của mơ hình kinh doanh, sự kiểm sốt về

chất lượng và hiệu quả của hoạt động sản xuất... Một doanh nghiệp có thể thu

được lợi nhuận ban đầu nhưng nếu khơng thể chứng minh khả năng duy trì

hoạt động thì khơng thể được coi là một doanh nghiệp phát triển bền vững,

đáng tin cậy đối với khách hàng.

Hoạt động sản xuất thơng qua các quy trình khác nhau có sử dụng các

phương pháp và công nghệ khác nhau sẽ tạo ra các sản phẩm và dịch vụ với

các giá trị sử dụng khác nhau cho phép thỏa mãn nhu cầu của người tiêu

dùng. Đây chính là hoạt động tạo ra nguồn gốc của giá trị, của cải vật chất

cho xã hội, thu nhập cho doanh nghiệp và người lao động.

Mỗi hoạt động sản xuất khác nhau đều có những đặc trưng riêng. Những

đặc trưng này có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức sản xuất cho doanh nghiệp

một cách có hiệu quả. Dựa theo một hoặc một số các đặc trưng để phân loại hoạt

động sản xuất của doanh nghiệp. Dưới đây là một số cách phân loại tiêu biểu:

- Phân loại theo cách thức tổ chức sản xuất ta chia hoạt động sản xuất

làm 3 loại: Sản xuất liên tục, sản xuất gián đoạn và sản xuất theo dự án.



24



- Phân loại theo mối quan hệ với khách hàng, hoạt động sản xuất cũng

được phân làm 3 loại: Sản xuất để dự trữ, sản xuất theo yêu cầu (theo đơn đặt

hàng) và hình thức hỗn hợp kết hợp 2 hình thức trên.

1.1.3. Khái quát về hiệu quả hoạt động của công ty

a. Khái niệm

Hiệu quả của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể hiện

mối quan hệ giữa “kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra”.

Hiệu quả kinh doanh

Chi phí đầu vào

Về mặt định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ

Kết quả đầu ra







=



kinh tế xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ

ra. Người ta chỉ thu được hiệu quả khi kết quả đầu ra lớn hơn chi phí đầu vào.

Chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao





Về mặt định tính: Hiệu quả kinh tế cao biểu hiện sự cố gắng nỗ lực,



trình độ quản lý của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống công nghiệp, sự gắn bó

của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và

mục tiêu chính trị - xã hội.

Khái niệm hoạt động có thể được hiểu ở rất nhiều nghĩa và khía cạnh, có

thể tổng hợp hiệu quả hoạt động là một trong những nội dung sau:

- Hiệu quả hoạt động là thành công;

- Hiệu quả hoạt động là kết quả của một hành động/hoạt động;

- Hiệu quả hoạt động phản ánh khả năng cạnh tranh của một công ty

trong việc đạt được hiệu quả trong việc duy trì sự tồn tại trên thị trường;

- Hiệu quả hoạt động là kết quả của quá trình tổ chức, điều khiển và thực

hiện các hoạt động theo những yêu cầu nhất định của công việc.

- Hiệu quả hoạt động của công ty là thuật ngữ dùng để mô tả việc tổ

chức, điều khiển và thực hiện các hoạt động của công ty theo những yêu cầu

nhất định sao cho các nguồn lực của công ty (nhân lực và vật lực) có thể phát



25



huy một cách tối đa vai trò và cơng suất của nó. Hiệu quả hoạt động được

dùng để đánh giá tình hình quản lý và tình hình hoạt động chung của cơng ty

trong các thời kỳ khác nhau, hoặc trong quan hệ so sánh với các công ty cùng

loại. Hiệu quả hoạt động của công ty là phải đạt được sự cân bằng của 4 yếu

tố: hiệu quả của quá trình sản xuất, thỏa mãn các cổ đông, đảm bảo thỏa mãn

nhu cầu khách hàng và tăng trưởng của công ty và cuối cùng là năng lực phát

triển, cải cách, tận dụng cơ hội.

b. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty

Việc sử dụng các chỉ tiêu tài chính là rất cần thiết trong việc đánh giá hiệu

quả hoạt động công ty. Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận về đánh giá hoạt

động của công ty, phần lớn các nghiên cứu về tác động cấu trúc sở hữu tới hiệu

quả hoạt động của công ty như Monsen (1968), Palmer (1973), Boudreaux

(1973), Sorenson (1974), Steer và Cable (1978), Bothvvell (1980), Thomsen và

Pedersen (1996), Short và Keasey (1999) đều cho rằng để đánh giá hiệu quả hoạt

động nên sử dụng các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời như ROA, ROE.

Trong khi đó, Sorenson (1977), Stano (1976), Chen, Hexter and Hu (1993), Cho

(1998), Curcio (1994), Mehran (1995), Morck, Shleifer and Vishny (1988)[46],...

lại cho rằng nên sử dụng chỉ số Q-Tobin, bởi vì chỉ số này phản ánh giá trị thị

trường của cổ phiếu và phản ánh đánh giá của thị trường đối với hiệu quả hoạt

động của công ty. Do vậy, trong các nghiên cứu để đánh giá tác động của cấu

trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của công ty, Demsetz và Lehn (1985),

McConnell and Servaes (1990), Denis và Denis (1994) cho rằng nên sử dụng

tổng hợp các chỉ tiêu như ROA, ROE và Q-Tobin.





Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)



ROA



=



Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản bq



26



ROA là tỷ số cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lợi nhuận

sau thuế được tạo ra từ lượng vốn đầu tư, tức là cứ 1 đồng đầu tư vào tổng tài

sản thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tài sản của một công ty

được hình thành từ nợ và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn này được sử dụng để

tài trợ cho các hoạt động của công ty. ROA càng cao càng tốt vì cho thấy

cơng ty đang kiếm được nhiều lợi nhuận từ tổng tài sản.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay còn gọi là doanh lợi vốn

chủ sở hữu là tỷ số đo lường mức lợi nhuận trên vốn đầu tư của các CSH.

Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu bq

Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích

ROE



=



lũy tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Hệ số này thường được các nhà

đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó

tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào. Hầu hết các cổ đông

hoặc các nhà đầu tư rất quan tâm đến tỷ số này bởi nó gắn với lợi nhuận mà họ

có thể nhận được. Nếu tỷ số ROE cao thì sẽ cho thấy hiệu quả sinh lời của công

ty là tốt bởi vốn chủ sở hữu bỏ ra đã tạo ra được mức lợi nhuận sau thuế tốt.

Hệ số Q-Tobin

Giá trị thị trường

Giá trị sổ sách

Đối với các công ty niêm yết, hệ số Q-Tobin rất thông dụng như là công

Q-Tobin



=



cụ đánh giá tốt về hiệu quả tài chính cơng ty; trong đó hệ số Q- Tobin được

tính là giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cộng với giá trị sổ sách các khoản

nợ phải trả so với giá trị sổ sách của tổng tài sản.

Trong các tỷ số trên, các tỷ số ROA và ROE là những chỉ báo hiệu quả

cho kết quả sản xuất kinh doanh và phản ánh khả năng lợi nhuận mà công ty

đã đạt được trong các kỳ kế toán đã qua. Hai chỉ tiêu này là cách nhìn về quá



27



khứ hoặc đánh giá khả năng lợi nhuận ngắn hạn của công ty (Hu & Izumida

2008). Trong khi đó, hệ số Q-Tobin có thể cho biết hiệu quả tương lai của

công ty bởi chúng phản ánh được đánh giá của thị trường cả về tiềm năng lợi

nhuận của công ty trong tương lai (phản ánh vào giá thị trường của cổ phiếu).

Điều này hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa của các phương pháp định giá cổ

phiếu sử dụng dòng tiền tương lai chiết khấu về hiện tại theo một mức rủi ro

xác định. Đó cũng là lý do tại sao Tian & Estrin (2008) cho rằng định giá trên

thị trường luôn dựa trên những dòng tiền tương lai và rủi ro kỳ vọng đi kèm.

Tóm lại, hiệu quả hoạt động của các cơng ty có thể được đánh giá thơng

qua các tỷ số trên kết hợp lại. Mặc dù có thể có các cách tính khác nhau, chủ

yếu do cách xác định lợi nhuận trong tính tốn hệ số, sự kết hợp của hai tỷ số

này có thể đưa ra cho nhà quản lý, lãnh đạo công ty, cổ đông và thị trường

những đánh giá bao quát về hiệu quả hoạt động trong quá khứ cũng như tiềm

năng lợi nhuận và tăng trưởng tương lai của công ty.

1.2. CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU

1.2.1. Lý thuyết đại diện (Agency Theory)

Trong công ty cổ phần có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý

cơng ty, điều này là cần thiết vì nhiều lý do. Thứ nhất các cơng ty lớn thường

có rất nhiều cổ đơng và do đó khơng thể nào thoả mãn việc tất cả cổ đông

cùng tham gia quản lý. Mặc khác việc điều hành đòi hỏi những kỹ năng phẩm

chất mà không phải nhà đầu tư nào cũng có đuợc. Cho nên cần thiết để những

người có vốn nhưng khơng có năng lực quản lý th những chun gia đủ

năng lực điều hành công ty. Những chuyên gia này sẽ thay mặt cho những cổ

đông điều hành và quản lý cơng ty. Từ đó nảy sinh ra quan hệ giữa nguời chủ

sở hữu và người quản lý. Khi người chủ thuê những người quản lý, người chủ

sẽ mong muốn người quản lý đem đến lợi nhuận tối đa cho họ, gia tăng giá trị

công ty, gia tăng cổ tức... Người điều hành được thuê sẽ được ra quyết định



28



và thực hiện các hoạt động đem lại lợi ích cho cổ đơng. Tuy nhiên người điều

hành cũng sẽ có những lợi ích cá nhân riêng biệt và có những thơng tin gần

với tình hình hoạt động của cơng ty nhất để từ đó họ có thể đưa ra những

quyết định đem lại lợi nhuận cho bản thân họ hoặc cho những người có liên

quan với họ hơn là cho tất cả chủ sở hữu công ty.

Lý thuyết đại diện được đưa ra bởi Jensen và Meckling (1976) [25]. Lý

thuyết về đại diện cho rằng chi phí đại diện sẽ tăng lên khi có sự phân tách

giữa người chủ sở hữu và người quản lý công ty. Người chủ sở hữu sẽ mong

muốn tối đa hóa lợi ích của mình thơng qua việc tăng giá trị cơng ty, còn lợi

ích của nhà quản lý thường gắn với mức thu nhập có được. Nếu cả hai bên

trong mối quan hệ này (Cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa

hố lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không

luôn ln hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đơng và

cơng ty. Với vị trí của mình, người quản lý cơng ty được cho là ln có xu

hướng tư lợi và khơng đủ siêng năng, cần mẫn, và có thể tìm kiếm các lợi ích

cá nhân cho mình hay người thứ ba của mình chứ khơng phải cho cơng ty.

Theo Jensen và Meckling (1976) chính mâu thuẫn này dẫn đến phát sinh

chi phí đại diện. Theo đó chi phí đại diện là những chi phí bao gồm chi phí

giám sát, chi phí ràng buộc tăng thêm và mất mát phụ trội. Chi phí giám sát

nhằm hạn chế những sai lệch do việc điều hành của người quản lý, chi phí

ràng buộc tăng thêm là những khoản tăng thêm để đảm bảo người quản lý

không thực hiện một số hành động nhất định có tổn hại lợi ích của chủ sở

hữu. Tuy nhiên chúng ta khơng thể khống chế hồn tồn những bất đồng lợi

ích này, và nó sẽ dẫn đến một số mất mát tài sản – mất mát phụ trội do vấn đề

này gây ra.

Chi phí đại diện phát sinh từ sự phân chia tách bạch giữa người chủ sở

hữu công ty và người quản lý. Khi giảm thiểu sự phân tách này thì chi phí đại



29



diện cũng sẽ giảm đi. Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của người chủ công ty

trên giác độ là các tổ chức kinh doanh. Các nhà đầu tư tổ chức khi sở hữu vốn

trong cơng ty còn tích cực tham gia vào hoạt động giám sát, quản lý nhằm

giảm thiểu những thất thốt khơng đáng có do vấn đề tách bạch, thiếu thông

tin giữa người chủ và người quản lý. Và từ đó giảm thiểu vấn đề do chi phí

đại diện tăng lên. Trong đề tài này, lý thuyết liên quan đến nhóm cổ đơng là tổ

chức mà có tham gia trong hoạt động giám sát, quản lý đìều hành. Vì khi đó

họ vừa là nhà đầu tư vừa là người tham gia quản lý điều hành công ty cho nên

có thể giảm thiểu được chi phí đại diện gây ra.

1.2.2. Lý thuyết đánh đổi (Trade-off theory)

Lý thuyết đánh đổi (Trade-off theory) được đưa ra bởi Donald và Jerry

(1994). Trong đó tác giả giải thích tại sao doanh nghiệp tài trợ kinh doanh một

phần bằng nợ vay và một phần từ vốn chủ sở hữu. Lý thuyết về đánh đổi đề

cập đến ý tưởng một doanh nghiệp nên sử dụng bao nhiêu phần nợ và bao

nhiêu vốn chủ sở hữu trong kinh doanh để từ đó đạt được những lợi ích về chi

phí và tài chính. Mặt khác lý thuyết được dùng để giải thích thực tế hiện nay

rằng các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng nợ trong kinh doanh nhiều hơn

bên cạnh nguồn vốn chủ sở hữu. Trong trường hợp đó doanh nghiệp sẽ có

được những thuận lợi trong việc sử dụng nợ, đó là lá chắn thuế và mở rộng

được quy mô. Tuy nhiên không phải tài trợ tất cả bằng nợ vay là tốt, việc tài

trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình là chi phí khó khăn tài

chính bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Theo thuyết đánh đổi,

khơng phải vay mượn nợ là tốt hồn toàn mà chỉ đúng với một mức nợ hợp

lý. Theo đó khi lợi ích cận biên của việc vay, sử dụng nợ nhiều hơn sẽ giảm đi

khi nợ tăng lên trong khi chi phí cận biên cũng tăng lên. Do đó một doanh

nghiệp có thể tối đa hố giá trị nếu chú ý đến vấn đề đánh đổi trong việc chọn

lựa mức nợ hợp lý để đưa vào phục vụ kinh doanh. Lợi ích từ lá chắn thuế sẽ



30



được bù trừ do phát sinh chi phí tài chính và do đó là cơ sở để lý thuyết có tên

là “Lý thuyết đánh đổi”. Đánh đổi ở đây là đánh đổi giữa lợi ích và chi phí do

việc gây nợ gây ra.

Lý thuyết này liên quan đến tỷ lệ nợ trên tổng tài sản trong đề tài. Yếu tố

đòn bẩy cũng đóng vai trò tác động quan trọng đến hiệu quả hoạt động.

Doanh nghiệp phải chọn được tỷ lệ nợ vay tối ưu là bao nhiêu để đem đến

hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp. Khi tổ chức ngày càng đóng vai trò

quan trọng trong doanh nghiệp thì những quyết định của tổ chức cũng có tác

động đến tỷ số nợ của doanh nghiệp và từ đó ảnh hưởng hiệu quả của doanh

nghiệp.

1.3. TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT

ĐỘNG CỦA CÔNG TY

1.3.1. Cấu trúc sở hữu

a. Khái niệm

Cấu trúc sở hữu được hiểu là sự phân bổ vốn chủ sở hữu theo quyền mối

tương quan tỷ lệ vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi các chủ sở hữu có ảnh

hưởng rất quan trọng trọng việc điều hành cơng ty do nó tác động đến việc ra

quyết định của các nhà quản lý.

Cấu trúc sở hữu có thể được phân loại dựa trên nhiều khía cạnh khác

nhau như sau:

Cấu trúc sở hữu tập trung: tập trung được hiểu là việc một cá nhân hoặc

một nhóm cá nhân liên quan hoặc tổ chức sở hữu phần lớn vốn chủ sở hữu

của một cơng ty và có quyền chi phối các quyết định của công ty. Bởi vậy,

cấu trúc tập trung thường được xem là hệ thống nội bộ. Những cổ đơng lớn

kiểm sốt cơng ty trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều

hành, cổ đơng lớn có thể khơng sở hữu vốn tồn bộ nhưng có quyền biểu

quyết đáng kể, nên vẫn có thể được kiểm sốt cơng ty.



31



Cấu trúc sở hữu phân tán: phân tán là việc khơng có cá nhân hoặc nhóm

các cá nhân, tổ chức nào sở hữu đa số vốn của cơng ty và có quyền chi phối

cơng ty. Đối với hình thức cấu trúc này, một cơng ty có nhiều cổ đơng. Mỗi

cổ đơng sở hữu một số cổ phần cơng ty, quyền kiểm sốt hoạt động công ty

do ban giám đốc nắm giữ. Các cổ đông nhỏ ít có động lực để kiểm tra chặt

chẽ hoạt động và không muốn tham gia điều hành công ty. Bởi vậy họ được

gọi là người bên ngoài và cấu trúc phân tán được gọi là hệ thống bên ngoài.

Theo Nhịp cầu đầu tư, cấu trúc sở hữu của 100 cơng ty có giá trị vốn hóa

lớn nhất trên 2 sàn chứng khoán Hà Nội và TP.HCM năm 2010 cho thấy, tỉ lệ

nắm giữ cổ phần bình quân của 10 cổ đông lớn nhất trong các công ty là 70%

và của 5 cổ đông lớn nhất là 61%. Điều này cho thấy cấu trúc sở hữu của các

công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là rất tập trung.

Mỗi hệ thống cấu trúc sở hữu có những điểm thuận lợi và bất lợi cũng

như tiềm ẩn những thách thức về quản trị công ty. Đối với cấu trúc sở hữu tập

trung, công ty do những người bên trong kiểm sốt có những điểm thuận lợi

đáng chú ý. Những người này có quyền lực và động lực để kiểm sốt cơng ty

chặt chẽ. Nhờ đó, giảm thiểu được tình trạng sai phạm hay gian dối trong

quản trị và điều hành. Hơn nữa, do nắm quyền sở hữu và quyền kiểm sốt lớn,

những người này có khuynh hướng giữ vốn đầu tư trong cơng ty trong thời

gian dài. Vì thế họ sẽ ủng hộ những quyết định giúp tăng cường hiệu quả hoạt

động dài hạn hơn là những quyết định mang lại lợi ích ngắn hạn. Tuy nhiên,

hệ thống này cũng dẫn công ty đến những thất bại trong quản trị. Chẳng hạn,

khi những người điều hành là các cổ đơng lớn hay có quyền biểu quyết lớn,

họ có thể dùng quyền của mình để tác động đến quyết định của hội đồng quản

trị sao cho có lợi cho mình nhưng lại khơng có lợi cho cơng ty. Một trường

hợp phổ biến là các nhà quản lý thuyết phục hội đồng quản trị trả lương và

phúc lợi rất cao cho cấp quản lý hoặc phê duyệt việc mua bán yếu tố đầu vào



32



giá cao từ các công ty mà họ có sở hữu hoặc có mối quan hệ. Nghiêm trọng

hơn, họ có thể sử dụng những thơng tin bí mật để trục lợi như giao dịch nội

gián.

Ngoài phân loại như trên, cấu trúc sở hữu có thể được phân loại dựa vào

đối tượng sở hữu như sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, sở hữu ngân hàng...

b. Các hình thức sở hữu

Các hình thức sở hữu doanh nghiệp bao gồm:

- Hình thức tồn diện 100% vốn chủ sở hữu, khơng có sự phân định;

- Hình thức sở hữu tồn diện có phân định;

- Hình thức sở hữu liên kết có hình thành pháp nhân;

- Hình thức sở hữu liên kết khơng hình thành pháp nhân;

- Hình thức sở hữu khơng liên kết.

Đối với hình thái tồn diện 100% vốn chủ sở hữu, khơng có sự phân

định, các đơn vị được hình thành theo hình thái sở hữu này phụ thuộc hồn

tồn vào cơng ty mẹ, tn thủ hồn tồn các quyết định của cơng ty mẹ mà

khơng được phản kháng.

Cấp độ quản lý giảm dần đối với hình thái sở hữu tồn diện có phân

định, về ngun tắc, trong hình thái sở hữu này, cơng ty con cũng vẫn phải

tn thủ hồn tồn các quyết định của cơng ty mẹ, tuy nhiên cách thức quản

lý đối với công ty con là thông qua người đại diện vốn chủ sở hữu của cơng ty

mẹ.

Đối với hình thái sở hữu liên kết có hình thành pháp nhân, mức độ quản

lý và tầm ảnh hưởng của công ty mẹ đối với cơng ty con còn phụ thuộc vào

lượng vốn (cổ phần) chi phối của công ty mẹ tại công ty con.

Nếu như trong các hình thái sở hữu nêu trên vẫn tồn tại một pháp nhân

có cơ cấu tổ chức ổn định mà công ty mẹ nắm giữ vốn hoặc cổ phần chi phối

thì trong hình thái sở hữu liên kết khơng hình thành pháp nhân chỉ đơn thuần



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×