Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 TỔNG QUAN VỀ THỰC TIỄN CÔNG BỐ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH VẬN TẢI

1 TỔNG QUAN VỀ THỰC TIỄN CÔNG BỐ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH VẬN TẢI

Tải bản đầy đủ - 0trang

51



nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước cùng với sự hình thành và phát triển của

thị trường chứng khoán sẽ tạo ra môi trường kinh doanh cởi mở và lành mạnh

hơn. Ngày 10 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số

48/1998 / NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán và quyết định

thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội và thành phố Hồ

Chí Minh. Ngày 20/7/2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ

Chí Minh chính thức đưa vào hoạt động và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên

ngày 28 tháng 7 năm 2000 với hai loại cổ phiếu niêm yết. Tháng 8 năm 2007,

nó được đổi tên thành HOSE.

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội được thành lập năm 2005,

sau đó được đổi tên thành HNX năm 2009. Hiện tại có 342 cơng ty niêm yết

trên HOSE và 393 công ty niêm yết trên sàn HNX với tổng vốn hóa khoang

964.000 tỷ đồng, tương đương với 31% GDP.

Liên quan đến các quy định công bố thông tin, Luật Chứng khoán số

70/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội Việt Nam đã ban hành một

hành lang pháp lý quan trọng cho sự phát triển của Thị trường Chứng khoán

Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu tiên, Luật Chứng khoán đã thơng qua

mục tiêu, mục đích, nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là công

bằng, công khai, minh bạch, bao vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư. Trong

hơn một thập kỷ hình thành và phát triển, Thị trường Chứng khoán Việt Nam

đã phát triển mạnh về số lượng và định lượng và đã trở thành một trong

những kênh vốn hiệu qua của nền kinh tế. Sau ba năm thực hiện, bên cạnh

nhiều mặt tích cực của Luật Chứng khoán đã chứng minh được một phần góp

phần vào sự phát triển của thị trường, có một số thiếu sót cần điều chỉnh để

phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường chứng khoán; Trong số

những thiếu sót đó là việc cơng bố thơng tin. Để khắc phục những thiếu sót



52



này, ngày 24 tháng 11 năm 2010, Quốc hội đã ban hành Luật Chứng khoán số

62/2012/QH12 sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán số 70/QH11, đáp ứng đầy

đủ các yêu cầu phát triển thị trường và bổ sung các quy định về cơng bố thơng

tin.

Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của việc công bố thông tin

minh bạch trong các thị trường chứng khoán trẻ của Việt Nam trong việc bao

vệ quyền và lợi ích của cổ đơng, nhà đầu tư và các bên liên quan, trong năm

2010, Bộ Tài chính đã ban hành Thơng tư số 09/2010/TT-BTC ngày

15/01/2010 hướng dẫn công bố thông tin tại Công ty Chứng khoán Việt Nam,

thay thế Thông tư số 38/2007/TT-BTC ban hành trước đây. Tuy nhiên, các

quy định về công bố thông tin theo Thông tư số 09/2010/TT-BTC không bao

gồm tất ca các nội dung của Luật Chứng khoán 62/2012/QH12 như mở rộng

đối tượng công bố thông tin, phân loại việc công bố thông tin của công ty đại

chúng dựa trên quy mô vốn và cơng khai của cơng ty (thay vì phân loại vào

các công ty đại chúng niêm yết và không niêm yết). Đó là lý do tại sao Thơng

tư số 52/2012/TT-BTC ngày 5/4/2012 và sau cùng là thông tư 155/2015/TTBTC đã được ban hành và đã bổ sung các quy định chi tiết về công bố thông

tin của công ty đại chúng và nhằm xây dựng thị trường chứng khoán công

khai, minh bạch để bao vệ tốt hơn quyền và lợi ích của nhà đầu tư. Bộ Tài

chính và Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là hai cơ quan chính phủ quan lý và

điều tiết thị trường chứng khoán.

Sau 15 năm chính thức đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán Việt

Nam đã có sự phát triển vượt bậc về quy mô, chứng tỏ thị trường chứng

khoán đang được nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp quan tâm, ưa thích.

Đến cuối năm 2015, giá trị vốn hóa của thị trường cổ phiếu đã lên đến 1.360

nghìn tỷ đồng, tương đương 34,5%GDP (mức cao nhất trong vòng 5 năm



53



qua), giá trị dư nợ trái phiếu đạt khoang 22%GDP. Tính chung, quy mô thị

trường chứng khoán đạt 57%GDP, đạt mức cao nhất từ trước đến nay.

Năm 2015 cũng đánh dấu sự tăng trưởng về quy mô huy động vốn qua

thị trường chứng khoán, với mức huy động vốn cao nhất từ trước đến nay.

Tổng giá trị huy động vốn qua thị trường chứng khoán năm 2015 ước đạt hơn

300 nghìn tỷ đồng; trong đó, huy động vốn qua đấu thầu trái phiếu đạt hơn

249 nghìn tỷ đồng và phát hành cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, cổ phần hóa đạt gần

55 nghìn tỷ đồng. Quy mô huy động vốn qua thị trường chứng khoán đáp ứng

khoang 28% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tương đương gần 60% so với cung

tín dụng qua thị trường tiền tệ - tín dụng. Điều này cho thấy thị trường chứng

khoán đang ngày càng trở thành một kênh huy động vốn quan trọng cho đầu

tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần từng bước hình thành một hệ thống tài

chính hiện đại trên nền tang hài hòa giữa thị trường chứng khoán và thị

trường tiền tệ - tín dụng.

2.1.2 Thực trạng cơng bố thơng tin của các doanh nghiệp Việt Nam

niêm yết trên thị trường chứng khoán

Mặc dù các doanh nghiệp niêm yết đã công bố thông tin về cơ ban

đúng thời hạn quy định, tuy nhiên lỗi phổ biến vẫn là chậm nộp các báo

cáo định kỳ, nhất là BCTC. Các công ty đại chúng vẫn còn hiện tượng

chưa kịp thời cơng bố đơn vị kiểm toán, kết qua điều chỉnh hồi tố BCTC...

Một vài nguyên nhân được các doanh nghiệp giai trình cho việc chậm trễ

công bố thông tin như: nguyên nhân đến từ hệ thống tài chính kế toán

doanh nghiệp chưa chuẩn hóa nên khi tổng hợp số liệu thì mất nhiều thời

gian để chỉnh lý, một số doanh nghiệp có quy mô lớn nên thực hiện báo

cáo mất nhiều thời gian hơn. Một vài trường hợp khác, doanh nghiệp giữ



54



lợi thế kinh doanh nên cố tình cơng bố thơng tin chậm và chấp nhận chịu

phạt.

Mặt khác, chất lượng của các BCTC mà các doanh nghiệp công bố cũng

chưa cao. BCTC chưa có sự phân tích sâu về ngun nhân dẫn đến những

biến động lớn về doanh thu, lợi nhuận... Sự chênh lệch đáng kể số liệu tài

chính trước và sau kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết cũng trở thành

vấn đề nóng khi tính đến giữa tháng 9/2014 có tới trên 50% doanh nghiệp

niêm yết tiến hành điều chỉnh số liệu lợi nhuận so với các báo cáo trước đó.

Phần lớn các doanh nghiệp chưa chú trọng đến cơng bố tự nguyện cũng

như chưa hiểu rõ được lợi ích do các công bố này mang lại cho doanh nghiệp.

Hiện tại thì các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam mới chỉ chú trọng đến việc

công bố bắt buộc theo luật định, có nghĩa là chỉ cơng bố những gì pháp luật

yêu cầu, chứ chưa chú trọng đến việc các công bố tự nguyện. Theo nghiên

cứu của rất nhiều nhà khoa học trên thế giới ở các nước có thị trường chứng

khoán phát triển như Mỹ, Úc thì các thơng tin được công bố tự nguyện của

các công ty niêm yết có anh hưởng lớn đến quyết định quan lý của nhà đầu tư.

Thơng thường thì các nhà đầu tư sẽ quan tâm hơn đến cổ phiếu của các công

ty mà họ có cơ hội được tiếp cận với nhiều thơng tin nhất. Điều đó cũng có

nghĩa rằng, nhà đầu tư sẽ có cơ hội nắm bắt và theo dõi thường xun tình

hình san xuất kinh doanh của cơng ty niêm yết giúp họ ra quyết định chuẩn

xác liên quan đến hoạt động đầu tư của mình. Theo một số nhà nghiên cứu thì

cơng bố tự nguyện còn là một kênh quang cáo cho doanh nghiệp niêm yết.

Đối với báo cáo thường niên: Tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật

Ban… khi cơng ty ý thức được vai trò quan trọng của báo cáo thường niên,

cơng ty thường trình bày khá đầy đủ báo cáo đánh giá của ban giám đốc và



55



hội đồng quan trị. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc lập báo cáo thường niên chưa

được nhiều doanh nghiệp chú trọng, các nội dung tại báo cáo này trên thực tế

còn khá sơ sài.

Đối với các loại thơng tin cơ ban khác như điều lệ công ty, quy chế nội

bộ về quan trị công ty... tỷ lệ công khai tương đối thấp. Hơn 57% cơng ty có

cơng bố điều lệ cơng ty. Tuy nhiên chỉ có 28,2% cơng ty công bố quy chế nội

bộ về quan trị công ty. Liên quan đến việc xây dựng bộ phận quan hệ nhà đầu

tư (IR), kết qua khao sát của HNX cho thấy 81,5% trang thông tin điện tử của

doanh nghiệp có chuyên mục riêng về quan hệ nhà đầu tư. Tuy nhiên, các

chức năng website liên quan đến cơ chế giao tiếp, phan hồi với nhà đầu tư của

nhiều doanh nghiệp hầu như không hoạt động. Đối với vấn đề đại hội đồng cổ

đông thường niên của các doanh nghiệp, theo thống kê, chỉ có 31,33% số

doanh nghiệp đăng tai thông báo mời họp và tài liệu họp trước 15 ngày so với

ngày họp.

Ngoài ra, pháp luật hiện hành yêu cầu công ty đại chúng phai thực hiện

công bố thông tin trên website nhưng việc lưu trữ các thông tin này như thế

nào hoặc bao lâu cũng chưa được quy định cụ thể. Do đó, nhiều thơng tin khi

nhà đầu tư muốn tìm kiếm lại trên website của các cơng ty này rất khó khăn.

Các cơng ty khi cơng bố thông tin cũng không hiển thị thời gian công bố trên

trang thơng tin điện tử. Nhiều trường hợp, họ có thể sửa lại thời gian công bố

nhưng ca nhà đầu tư và cơ quan quan lý khó có thể kiểm soát. Do đó, cần có

biện pháp hữu hiệu để quan lý các thông tin được đăng tai trên website của

công ty, giúp nhà đầu tư có thể tìm kiếm được thông tin dễ dàng.



56



2.1.3 Đặc điểm ngành vận tải

- Vận tai là yếu tố cần thiết của tất ca các giai đoạn của quá trình san

xuất; trong quá trình hoạt động của mình, dịch vụ vận tai đã góp phần tiêu thụ

một khối lượng lớn các san phẩm của ngành khác. Do vậy mối quan hệ giữa

ngành vận tai với các ngành kinh tế khác là mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau.

- Ngành vận tai tuy không tạo ra các san phẩm vật chất mới cho xã hội

như các ngành kinh tế khác song nó lại tạo ra kha năng sử dụng các san phẩm

xã hội, bằng cách đưa các san phẩm đó từ nơi san xuất đến nơi tiêu dùng, làm

cho giá trị san phẩm được tăng lên. Do tính thống nhất giữa san xuất và tiêu

thụ nên hoạt động vận tai khơng có san xuất dự trữ.

- Hoạt động kinh doanh vận tai phụ thuộc lớn vào biến động giá nguyên

liệu (chủ yếu là xăng dầu) thế giới và điều kiện địa hình tự nhiên, mạng lưới

giao thông của mỗi quốc gia.

- Hoạt động kinh doanh vận tai chịu sự anh hưởng, tác động của thị

trường rất lớn. Khi nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu vận chuyển hàng hóa

nhiều, hoạt động vận tai sẽ phát triển và ngược lại.

- Ngành vận tai là một ngành kinh tế thâm dụng vốn, các tài san của

ngành là những tài san nặng vốn, do đó áp lực chi phí khấu hao của ngành khá

cao.

- Hệ số nợ của các doanh nghiệp kinh doanh vận tai thường cao, đặc biệt

đối với các doanh nghiệp vận tai đường thủy. Đặc điểm này xuất phát từ nhu

cầu đầu tư, đóng mới và sửa chữa phương tiện lớn. Do vay nợ lớn, đặc biệt là

nợ dài hạn, các doanh nghiệp vận tai thường chịu chi phí lãi vay cao trong

hoạt động kinh doanh.



57



- Các doanh nghiệp vận tai niêm yết chủ yếu là các doanh nghiệp cổ

phần hóa từ các doanh nghiệp nhà nước, tuy nhiên tỷ lệ sở hữu nhà nước ở

các doanh nghiệp vận tai niêm yết vẫn còn khá cao, điều đó cho thấy ngành

vận tai là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước nên nhà

nước tham gia vào để điều chỉnh hướng đi của nền kinh tế.

Các đặc điểm riêng của ngành vận tai ít nhiều sẽ có những anh hưởng

đến việc cơng bố thơng tin của nhóm ngành này. Mức độ anh hưởng, chiều

hướng anh hưởng như thế nào sẽ được cụ thể hóa trong những phần phân tích

tiếp theo của luận văn.

2.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu là nhằm tra lời câu hỏi: Thực trạng công bố

thông tin của các doanh nghiệp trong ngành vận tai niêm yết trên thị trường

chứng khoán Việt Nam như thế nào? Các yếu tố nào anh hưởng đến mức độ

công bố thông tin của các công ty trong ngành vận tai niêm yết trên thị trường

chứng khoán Việt Nam?

2.2.2 Giả thuyết nghiên cứu

Nội dung phân tích các nhân tố anh hưởng ở mục 1.3.2 đã trình bày tất

ca các nhân tố có thể có anh hưởng đến mức độ cơng bố thơng tin. Có thể

thấy có rất nhiều nhân tố anh hưởng đến mức độ công bố thông tin bao gồm

ca các nhân tố có thể kiểm soát được và các nhân tố khơng kiểm soát được.

Các nhân tố có thể kiểm soát được là các nhân tố dưới góc độ quan lý, quan

trị có thể tác động để nâng cao mức độ công bố thông tin như các nhân tố

thuộc về cơ cấu sở hữu, quan trị doanh nghiệp, còn các nhân tố khơng kiểm



58



soát được là các nhân tố mang tính khách quan, dưới giác độ quan lý, quan trị

không tác động vào được như các nhân tố thuộc về thuộc tính doanh nghiệp.

Do đó luận văn tập trung vào các nhân tố cốt lõi là các nhân tố có thể kiểm

soát được, nhìn nhận các nhân tố này trong bối canh nghiên cứu cụ thể là thị

trường chứng khoán Việt Nam để xây dựng nên các gia thuyết nghiên cứu;

còn những nhân tố khơng kiểm soát (nhân tố liên quan đến đặc điểm doanh

nghiệp) được mang tính chất là những biến kiểm soát. Các nhân tố liên quan

đến cơ cấu sở hữu và quản trị doanh nghiệp sẽ lần lượt được trình bày và dự

đoán chiều hướng anh hưởng (thuận, nghịch, không anh hưởng) đến mức độ

công bố thơng tin của các doanh nghiệp nhóm ngành vận tai.

 Cơ cấu sở hữu:

Sở hữu nhà nước: Quyền sở hữu nhà nước là đặc trưng riêng của thị

trường chứng khoán Việt Nam. Mặc dù ngày càng có nhiều cơng ty đại chúng

thuộc sở hữu của các tổ chức phi chính phủ, nhưng với phần lớn các doanh

nghiệp vận tai niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, quyền sở hữu

nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ

ra cơng ty có sở hữu nhà nước cao hơn thường thiếu động lực cho việc công

bố thông tin tự nguyện cho các cổ đơng bên ngồi. Nghiên cứu của Vu (2012)

nhận thấy mối quan hệ ngược chiều giữa sở hữu nhà nước và mức độ công bố

thông tin tự nguyện [34] với lập luận rằng:

Thứ nhất, sở hữu nhà nước chính là sở hữu tồn dân do đó sẽ khơng có

chủ sở hữu thực. Việc thiếu các quyền sở hữu thực sẽ làm mất quyền kiểm

soát trực tiếp từ chủ sở hữu dẫn đến tham nhũng và quan trị doanh nghiệp yếu

kém, người quan lý sẽ hành động vì mục đích cá nhân hơn là lợi ích của cổ

đơng. Do đó, mức độ công bố thông tin tự nguyện là thấp.



59



Thứ hai, các cơng ty sở hữu nhà nước thường có ít động cơ để tối đa hóa

lợi nhuận vì lợi nhuận và nguồn vốn tái đầu tư của công ty được đam bao bởi

nhà nước. Do đó, cơng ty khơng có động lực để tự nguyện cơng bố thơng tin

ra bên ngồi để tăng giá trị công ty và thu hút nguồn vốn đầu tư. Do đó gia

thuyết đặt ra là:

H1: Sở hữu nhà nước có mối quan hệ nghịch biến với mức độ công bố

thông tin.

Sở hữu nhà đầu tư nước ngoài: Cùng với sự phát triển và hội nhập nền

kinh tế thế giới, sở hữu nước ngoài tại Việt Nam những năm gần đây có xu

hướng tăng dần, đặc biệt là quyền sở hữu nước ngồi trong các cơng ty niêm

yết ngày càng tăng. Các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phần lớn xuất

phát từ các nền kinh tế phát triển và một nền tài chính mạnh, cơng khai vì vậy

áp lực về bất cân xứng thơng tin là rất lớn. Điều này làm cho các nhà đầu tư

ngoại có thể gây áp lực đòi hỏi thơng tin lên các công ty mà họ dự định đầu tư

qua đó quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngồi có thể là một yếu tố quyết

định quan trọng mức độ công bố thông tin của công ty tại thị trường Việt

Nam. Theo kết qua nghiên cứu của Barako (2004) ở Kenya, Vu (2012), Hiếu

và Lan (2015) ở Việt Nam cho thấy có sự anh hưởng cùng chiều giữa tỷ lệ sở

hữu nước ngồi và mức độ cơng bố thơng tin tự nguyện của các công ty niêm

yết [9], [34], [37]. Dựa trên phần lớn các nghiên cứu trước đây và lý thuyết

đại diện, gia thuyết được đưa ra là:

H2: Sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài sẽ tương quan dương

với mức độ công bố thông tin.



60



Sở hữu của nhà quản lý:

Dựa trên lý thuyết đại diện, Jensen và Meckling (1976) cho rằng việc sở

hữu của nhà quan lý trong cơng ty có thể làm cho nhà quan lý phai quan tâm

nhiều hơn về hiệu qua kinh tế từ các quyết định của họ, vì lợi ích của họ phụ

thuộc vào giá trị công ty [32]. Do đó, nhà quan lý có động cơ thao túng thơng

tin theo hướng có lợi cho họ, hạn chế cung cấp thông tin tự nguyện. Theo

quan điểm của lý thuyết đại diện và trên cơ sở Việt Nam là một nước đang

phát triển có cơ cấu sở hữu tập trung cao độ, hoạt động bao vệ cổ đơng thiểu

số còn yếu kém (Vu, 2012) , quyền sở hữu quan lý cao có thể dẫn đến kha

năng hạn chế cơng bố thơng tin tự nguyện [34].

Theo kết qua các nghiên cứu trước đây của Akhtaruddin và cộng sự

(2009) ở Malaysia, Vu (2012), Hiếu và Lan(2015) ở Việt Nam thì tỷ lệ sở hữu

của nhà quan lý tác động ngược chiều với mức độ công bố thông tin tự

nguyện của các công ty niêm yết [6], [34], [37]. Dựa trên kết qua của các

nghiên cứu trước và lý thuyết đại diện, gia thuyết đưa ra:

H3: Tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà quản lý tỷ lệ nghịch với mức độ công

bố thông tin.

 Quản trị công ty

Số lượng thành viên của hội đồng quản trị: Thông tư 121/2012/TTBTC ngày 26/7/2012 ban hành quy chế quan trị công ty áp dụng cho các cơng

ty đại chúng thì số lượng thành viên trong hội đồng quan trị từ 3 đến 11 thành

viên. Nghiên cứu của Akhtaruddin và cộng sự (2009), Phạm Thị Bích Vân

(2012) cho thấy có mối tương quan dương giữa số lượng thành viên của hội



61



đồng quan trị và mức độ công bố thơng tin tự nguyện [6], [4]. Lập luận rằng

kích cỡ hội đồng quan trị càng lớn thì năng lực kiểm soát và ra quyết định

càng cao, bởi: thứ nhất: số lượng thành viên tăng, sự giàu có về kiến thức và

kha năng theo dõi hoạt động doanh nghiệp, đánh giá tình hình sẽ tăng lên, thứ

hai, cũng là yếu tố quan trọng nhất, tăng số lượng thành viên sẽ tránh được sự

tập trung quyền lực vào một vài nhân vật then chốt, cũng do đó mà quyền lợi

của cổ đơng nhỏ hoặc khơng có mặt trong hội đồng quan trị được bao vệ ở

mức cao hơn. Từ đó gia thuyết đặt ra là:

H4: Có mối quan hệ thuận chiều giữa số lượng thành viên hội đồng

quản trị và mức độ công bố thông tin của của các doanh nghiệp thuộc nhóm

ngành vận tải.

Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập: Theo lý thuyết đại diện,

những thành viên hội đồng quan trị độc lập đóng vai trò quan trọng để giam

bớt mâu thuẫn đại diện giữa chủ sở hữu và nhà quan trị. Trong bối canh thị

trường vốn mới nổi ở Châu Á, nhiều nghiên cứu cho kết qua rằng mức độ độc

lập của hội đồng quan trị có mối quan hệ cùng chiều với mức độ cơng bố

thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết [6], [49]. Nguyên nhân là do:

thứ nhất, theo lý thuyết tín hiệu sự tồn tại của các thành viên độc lập trong hội

đồng quan trị hỗ trợ các công ty trong các quyết định chiến lược về kinh tế và

tài chính của mình do đó cai thiện hiệu suất kinh tế và tài chính làm cho các

cơng ty có động cơ để công bố thông tin nhiều hơn. Thứ hai, theo lý thuyết

đại diện các thành viên độc lập trong hội đồng quan trị có thể giúp giám sát

hoạt động của nhà quan lý tốt hơn, khi đó người quan lý ít có kha năng lạm

dụng quyền lực của họ cho mục đích riêng có lợi cho ban thân. Vậy tại một

nền kinh tế thị trường còn non nớt như Việt Nam, các thành viên hội đồng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 TỔNG QUAN VỀ THỰC TIỄN CÔNG BỐ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH VẬN TẢI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×