Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

41



nghiệp có thể có nguồn từ các cơng ty nhà nước khác, nên họ có thêm lý do

để hạn chế cơng bố thơng tin. Như vậy cơng ty có sở hữu nhà nước cao hơn

thường thiếu động lực cho việc công bố thông tin tự nguyện cho các cổ đông

bên ngoài. Thực trạng tại Việt Nam, khi các doanh nghiệp nhà nước được cổ

phần hóa và niêm yết, cho thấy phần lớn các chức danh quan lý như giám đốc,

phó giám đốc và kế toán trưởng vẫn do những người cũ nắm giữ. Những con

người cũ áp dụng các biện pháp quan trị của doanh nghiệp nhà nước nên

chậm thay đổi trong mơ hình quan trị (Duy và Anh , 2012) [1]. Hành động của

ban điều hành công ty bị hạn chế và do đó, tối đa hóa lợi nhuận và giá trị cổ

đông không phai là các mục tiêu chính của các cơng ty. Cùng với đó các nhà

quan lý của các cơng ty có sở hữu nhà nước cao khơng có động cơ để cung

cấp thêm thơng tin ngồi những thơng tin bắt buộc.

Sở hữu nhà đầu tư nước ngồi: Có thể thấy cổ đơng nước ngồi dường

như chịu nhiều rủi ro khi đầu tư hơn so với các cổ đơng trong nước như: rủi ro

pháp luật, chính trị, tỉ giá, thông tin bất cân xứng…Đặc biệt là rủi ro về thông

tin bất cân xứng trong các thị trường mới nổi nên có một nhu cầu thơng tin

lớn hơn từ phía các nhà đầu tư nước ngồi. Xiao và Yuan (2007) cho rằng thị

trường vốn mới nổi như Trung Quốc thì các vấn đề thơng tin bất cân xứng

thậm chí còn cao hơn bởi vì khó tiếp cận được các ban báo cáo thường niên

[48]. Trong trường hợp này các cơng ty có một động lực cao hơn trong việc

công bố thông tin, minh bạch thông tin nhằm mục đích gia tăng vốn từ các

nhà đầu tư nước ngoài. Điều này phù hợp với nghiên cứu của Barako (2004)

cung cấp bằng chứng cho thấy sở hữu nhà đầu tư nước ngồi tỷ lệ thuận với

mức độ cơng bố thơng tin tại Kenya [9]. Haniffa và Cooke (2002) tìm thấy

một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ sở hữu nước ngồi và mức độ cơng bố

tự nguyện của các công ty niêm yết tại Malaysia [26]. Nghiên cứu lập luận



42



rằng có một nhu cầu lớn hơn về cơng bố thông tin như một phương tiện để

kiểm tra các hoạt động của nhà quan lý do các chủ sở hữu nước ngồi đưa ra.

Các cơng ty có sở hữu nước ngồi chịu nhiều sự giám sát cơng bố thơng tin

hơn. Vì vậy các cơng ty này cai thiện tính minh bạch công khai trong công bố

thông tin nhiều hơn . Với một nền kinh tế mới mở cửa như Việt Nam, nguồn

vốn ngoại là một nguồn lực quan trọng để kích thích kinh tế phát triển. Đã có

những quy định cụ thể về sở hữu nước ngoài tối đa 49% đối với các công ty

và 30% đối với các ngân hàng niêm yết. Các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt

Nam phần lớn xuất phát từ các nền kinh tế phát triển và một nền tài chính

mạnh, cơng khai vì vậy áp lực về bất cân xứng thơng tin là rất lớn, nghĩa là

các nhà đầu tư nước ngoài ủng hộ việc đầu tư vào các công ty mà họ tránh

được thơng tin bất cân xứng (Phạm Thị Bích Vân, 2012) [4]. Điều này làm

cho các nhà đầu tư ngoại có thể gây áp lực đòi hỏi thơng tin lên các công ty

mà họ dự định đầu tư qua đó quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngồi có thể

là một yếu tố quyết định quan trọng mức độ công bố thông tin của công ty tại

thị trường Việt Nam.

Sở hữu của nhà quản lý: Theo lý thuyết về người đại diện thì sở hữu

của nhà quan lý sẽ làm giam bớt chi phí hoạt động bởi nhà quan lý phai chịu

nhiều hậu qua về mặt kinh tế từ đó dẫn đến việc giam tần suất cơng bố thông

tin. Tuy vậy việc tham gia sở hữu của nhà quan lý sẽ làm cho nhà quan lý

quan tâm nhiều hơn đến hoạt động của cơng ty, bởi vì hành động gây hại của

họ sẽ dẫn đến thiệt hại kinh tế cho chính ban thân mình. Trong trường hợp

nhà quan lý nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu thì có kha năng gây ra sự thay

đổi về mối quan hệ từ nhà quan lý đối với cổ đông lại chuyển sang cổ đông

lớn và cổ đông thiểu số. Điều này xay ra dẫn đến tình trạng nhà quan lý có

kha năng gây ra những thiệt hại về tài san cho các cổ đông thiểu số, cũng như



43



thao túng về mặt thơng tin để mang lại lợi thế riêng cho mình. Eng và Mak

(2003) cho rằng quyền sở hữu quan lý liên quan ngược chiều đến cơng bố

thơng tin [20]. Vì vậy, khi có một mức độ lớn hơn của quyền sở hữu quan lý

mức độ tự nguyện công bố thông tin là thấp. Trong nghiên cứu này Eng và

Mak (2003) cũng cho rằng các cơng ty có mức độ thấp hơn sở hữu của nhà

quan lý thì các nhà đầu tư có lý do mạnh mẽ hơn để tăng cường giám sát các

nhà quan lý và do đó có thể yêu cầu thêm thông tin từ các công ty [20]. Trong

hồn canh như vậy, các nhà quan lý có động cơ để cung cấp thông tin công

khai và rộng rãi hơn.

1.4.2 Nhóm nhân tố liên quan đến quản trị doanh nghiệp

Quan trị doanh nghiệp được đề cập trong nghiên cứu này bao gồm số

lượng thành viên của hội đồng quan trị, tỷ lệ thành viên hội đồng quan trị độc

lập, chủ tịch hội đồng quan trị kiêm tổng giám đốc và loại công ty kiểm toán

độc lập.

Số lượng thành viên của hội đồng quản trị có thể anh hưởng đến mức

độ công bố thông tin tự nguyện. Các công bố đó là những vấn đề về chiến

lược, kế hoạch của hội đồng quan trị. Hội đồng quan trị là một cơ quan quan

lý cao cấp đề ra các chính sách và các nhà quan lý có trách nhiệm hiện thực

hóa những chính sách đó. Số lượng thành viên của hội đồng quan trị được

xem là anh hưởng đến kha năng hội đồng quan trị giám sát và đánh giá hoạt

động của các nhà quan lý. Nghiên cứu của Zahra và cộng sự (2000) lại cho

rằng hội đồng quan trị nhỏ thì có kha năng xử lý cơng việc nhanh hơn [50].

Nguyên nhân vì số lượng thành viên hội đồng quan trị quá lớn dễ gây ra sự

bất đồng trong ý kiến khó đạt sự thống nhất trong quá trình ra quyết định. Tuy

nhiên, số lượng ít thành viên hội đồng quan trị dẫn đến không tận dụng lợi thế



44



từ sự đa dạng của năng lực và kinh nghiệm của thành viên hội đồng quan trị.

Nghiên cứu trước tìm thấy một mối liên hệ giữa số lượng thành viên hội đồng

quan trị và công bố thông tin tự nguyện. Barako và cộng sự (2006),

Akhtaruddin và cộng sự (2009) thấy rằng số lượng thành viên hội đồng quan

trị có tương quan dương với mức công bố tự nguyện của doanh nghiệp [10],

[6].

Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập: Trong doanh nghiệp hội

đồng quan trị, đặc biệt là thành viên hội đồng quan trị độc lập là đại diện để

bao vệ quyền lợi cổ đơng. Vì thế một cơ chế quan trị doanh nghiệp tốt phai

gồm nhiều hơn các thành viên hội đồng quan trị độc lập. Bởi vì, sự tồn tại của

thành viên hội đồng quan trị độc lập sẽ giúp hỗ trợ các công ty với việc ra

quyết định chiến lược kinh doanh và tài chính. Ngồi ra các thành viên hội

đồng quan trị độc lập của công ty cho phép giám sát tốt hơn các hoạt động của

nhà quan lý. Trong một môi trường giám sát như vậy, các nhà quan lý ít có

kha năng lạm dụng quyền lực của họ. Các nghiên cứu của Akhtaruddin và

cộng sự (2009), Yuen và Liu (2009) tìm thấy rằng các cơng ty có thể cơng bố

thơng tin tự nguyện nhiều hơn nếu các cơng ty đó có một số lượng lớn các

thành viên hội đồng quan trị độc lập không điều hành [6], [49]. Tuy nhiên, Ho

và Wong (2001) không tìm thấy mối liên quan giữa tỷ lệ các thành viên hội

đồng quan trị độc lập và mức độ công bố tự nguyện [30]. Thực tế tại các thị

trường mới nổi như Việt Nam khi cổ đông lớn đang cố gắng chi phối để

chiếm đoạt các quyền của cổ đông thiểu số, một cơ chế quan trị doanh nghiệp

tốt giúp bao vệ các nhà đầu tư nhỏ, tránh tình trạng lũng đoạn thị trường tài

chính (Tuấn và Linh, 2012) [3].

Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc: Theo lý thuyết người

đại diện, chức năng kép của Giám đốc điều hành và chủ tịch hội đồng quan trị



45



làm giam sự độc lập các công ty trong giám sát, xử lý kỷ luật và bồi thường

các nhà quan lý (Jensen, 1976) [32]. Nói cách khác nếu có sự kiêm nhiệm xay

ra sẽ anh hưởng đến chức năng ban hành, giám sát và phê duyệt các quyết

định của hội đồng quan trị, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các giám đốc

điều hành có hành vi cơ hội vì lợi ích cá nhân bởi quyền giám sát và quyền

quan lý đang nằm trong tay giám đốc điều hành. Có nhiều nghiên cứu trước

đây đã xem xét mối quan hệ giữa việc kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch hội đồng

quan trị và tổng giám đốc với mức độ công bố thông tin như Barako (2004),

Yuen và Liu (2009), Chau và Gray (2010) [9], [49], [15]. Các nghiên cứu

trước đã chỉ ra sự kiêm nhiệm này tạo ra quyền lực và thẩm quyền quá lớn

của một cá nhân dẫn đến sự hạn chế việc kiểm soát của hội đồng quan trị của

công ty (Chau và Gray, 2010) [15]. Al-Shammari (2008) theo kinh nghiệm

nghiên cứu mối quan hệ giữa quan trị doanh nghiệp và chất lượng cơng bố

thơng tin, đã trình bày bằng chứng của một mối quan hệ ngược chiều giữa

chất lượng công bố thông tin và sự kiêm nhiệm của chủ tịch hội đồng quan trị

và tổng giám đốc.

Loại công ty kiểm toán độc lập: Lý thuyết đại diện cho thấy rằng các

công ty lựa chọn công ty kiểm toán độc lập như là cơ chế để giam xung đột

lợi ích giữa các cổ đơng và người quan lý, vì kiểm toán tạo điều kiện cho các

cổ đơng trong quá trình giám sát (Jensen & Meckling, 1976). Công ty kiểm

toán được chia làm 2 nhóm, cơng ty nhỏ và cơng ty lớn. các công ty kiểm

toán lớn gồm bốn công ty quốc tế lớn nhất về dịch vụ kiểm toán chuyên

nghiệp thường được gọi là "Big 4", trong khi các công ty kiểm toán nhỏ đề

cập đến là những hoạt động trong nước. Các nghiên cứu trước đây đã kiểm tra

mối liên quan giữa công bố tự nguyện của công ty và vai trò của kiểm toán

viên bên ngồi. Vũ (2012) chỉ ra rằng khơng có sự khác biệt đáng kể giữa việc



46



cơng bố thơng tin tự nguyện nói chung của các công ty được kiểm toán bởi

các công ty kiểm toán "Big 4" và các công ty kiểm toán không phai là "Big 4"

[34]. Wallace và cộng sự (1994) cho thấy rằng mức độ công bố thông tin bị

anh hưởng bởi các kiểm toán viên [47]. Điều này được lập luận rằng các cơng

ty kiểm toán lớn để duy trì danh tiếng thì thơng tin trên kết qua BCTC của

cơng ty mà họ kiểm toán phai minh bạch. Các công ty này sẽ đầu tư nhiều

hơn vào công tác kiểm toán, thông tin đưa ra cho người sử dụng BCTC một

cách đầy đủ, tuân thủ các chuẩn mực kế toán phức tạp và càng ngày sẽ có

nhiều khách hàng hơn. Vì vậy, cơng ty kiểm toán có thể sử dụng các thông tin

được tiết lộ bởi khách hàng của họ như một cách để truyền tín hiệu về chất

lượng của riêng của họ nên các công ty kiểm toán lớn sẽ công bố nhiều thông

tin trên BCTC của các khách hàng hơn các công ty kiểm toán nhỏ.

Điều này cũng liên quan đến thực tế là các công ty kiểm toán quốc tế lớn

có nhiều kiến thức về tiêu chuẩn quốc tế và do đó chi phí thực hiện kiểm toán

trong các khách hàng là thấp hơn so với vác công ty kiểm toán nhỏ.

Street và Gray (2002) cho thấy các cơng ty có BCTC được kiểm toán bởi

các cơng ty lớn sẽ có mức độ cơng bố thơng tin cao hơn so với các công ty

nhỏ [43]. Công ty kiểm toán lớn hơn sẽ cố gắng để cai thiện chất lượng kiểm

toán bằng cách công bố thêm thông tin. Kết qua là các doanh nghiệp được

kiểm toán bởi các cơng ty kiểm toán lớn có thể cơng bố thơng tin nhiều hơn

các cơng ty khác

1.4.3 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm doanh nghiệp

Quy mô công ty: Một số lý thuyết về công bố thông tin doanh nghiệp

như lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi phí sở hữu và một số

nghiên cứu thực nghiệm của Wallace và cộng sự (1994); Wallace và Naser



47



1995; Gray và cộng sự (1995); Hassan (1999) … đã chỉ ra rằng có một mối

quan hệ cùng chiều giữa quy mơ công ty và mức độ công bố thông tin [47],

[46], [25], [27]. Các lập luận như sau:

- Thứ nhất, các doanh nghiệp có quy mơ lớn ln tự tin về triển vọng

phát triển của mình, do đó thường sẵn sàng để giao tiếp với các nhà đầu tư

thơng qua hình thức công bố thêm nhiều thông tin tự nguyện nhằm phân biệt

với các doanh nghiệp khác và làm tăng giá trị của doanh nghiệp.

- Thứ hai, các doanh nghiệp có quy mơ càng lớn thì càng có lợi thế hơn

trong việc giao dịch ký kết hợp đồng đầu tư và thường có xu hướng thực hiện

các hợp đồng có giá trị lớn hơn, phức tạp hơn so với các doanh nghiệp nhỏ

hơn; chi phí đại diện vì thế sẽ lớn hơn. Do vậy, các doanh nghiệp càng lớn

càng công bố thơng tin nhiều hơn để giam chi phí đại diện.

- Thứ ba, theo như lý thuyết tín hiệu thì sự bất đối xứng thơng tin ở các

doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ lớn hơn so với các doanh nghiệp nhỏ hơn, do

đó các doanh nghiệp có quy mơ càng lớn càng có xu hướng cơng bố thơng tin

nhiều hơn để giam thiểu sự bất đối xứng thông tin.

- Thứ tư, theo lý thuyết chi phí sở hữu, các doanh nghiệp có quy mơ lớn

sẽ cơng bố nhiều thơng tin hơn các doanh nghiệp có quy mơ nhỏ bởi các

doanh nghiệp lớn hơn được cho là đã có hệ thống thông tin tốt hơn so với các

doanh nghiệp nhỏ, do đó việc cơng bố thêm thơng tin trong các doanh nghiệp

này sẽ ít tốn kém, trong khi đó các doanh nghiệp có quy mơ càng nhỏ cơng bố

càng nhiều thơng tin sẽ dẫn đến bất lợi và làm tổn hại đến lợi thế cạnh tranh

của công ty trên thị trường.



48



Khả năng sinh lời: Dựa trên lý thuyết tín hiệu, các cơng ty có lợi nhuận

cao thường có động cơ để cơng bố thơng tin nhiều hơn nữa bởi vì họ muốn

báo hiệu thông tin trên đến các nhà đầu tư để có chi phí huy động vốn thấp

nhất. Có nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng lợi nhuận anh hưởng đến mức

độ công bố thông tin trong các báo cáo hàng năm [46]. Nghiên cứu này cho

rằng, từ quan điểm của lý thuyết người đại diện, người quan lý cơng ty có lợi

nhuận tốt sẽ tích cực cơng bố thơng tin để hưởng những lợi ích cho cá nhân

người quan lý đó. Từ đó cũng có thể được lập luận, rằng các cơng ty hoạt

động kém hơn có thể cơng bố thơng tin ít hơn để che giấu hoạt động kém hiệu

qua

Một số nghiên cứu khác thì ngược lại. Skinner (1994) cho rằng các

doanh nghiệp có lợi nhuận thấp cũng có thể lựa chọn việc truyền tín hiệu này

để giam bớt mất mát về danh tiếng, giam bớt sự mất mát từ việc đánh giá thấp

giá trị cổ phiếu và rủi ro về nghĩa vụ pháp lý [41]. Ngoài ra, các cơng ty có lợi

nhuận thấp cũng sẽ được quan tâm công bố thêm thông tin để biện minh cho

mức độ lợi nhuận này.

Đòn bẩy nợ: Các doanh nghiệp có đòn bẩy nợ càng cao càng có xu

hướng cơng bố thông tin nhiều hơn. Lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu và

một số bằng chứng thực nghiệm cũng đã chứng minh được luận điểm này

Lý thuyết đại diện chỉ ra rằng, doanh nghiệp càng nợ nhiều sẽ càng cơng

bố nhiều thơng tin hơn nhằm giam chi phí đại diện, vì khi doanh nghiệp nợ

càng nhiều thì chi phí đại diện càng lớn. Người quan lý được các cổ đơng bầu

ra vì muốn giữ được chức vụ và lấy lòng các cổ đơng nên cơng bố thơng tin

trên BCTC nhiều hơn nhằm giam sự kiểm soát của hội đồng quan trị cũng

như các chủ nợ.



49



Lý thuyết tín hiệu cũng gợi ý rằng, nếu doanh nghiệp có đòn bẩy nợ cao

thì có xu hướng cơng bố thơng tin nhiều hơn nhằm giai thích rõ các khoan nợ

hoặc cơng bố nhiều thông tin về các dự án, các kế hoạch kinh doanh nhằm

giai quyết nợ trong thời gian ngắn nhất tạo tâm lý an tâm cho những nhà đầu

tư.

Nghiên cứu của Barako (2006) cho thấy sự anh hưởng thuận chiều của

đòn bẩy nợ và mức độ công bố thông tin [10]. Trong khi Gray và cộng sự

(1995) đã tìm thấy một mối quan hệ nghịch chiều giữa đòn bẩy và cơng bố

thông tin [25].



KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, luận văn trình bày cơ sở lý luận về cơng bố thơng tin và

các nhân tố anh hưởng đến mức độ công bố thông tin thông qua các lý thuyết

nhân tố anh hưởng. Có rất nhiều lý thuyết để giai thích cho việc công bố

thông tin khác nhau như: lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi

phí sở hữu.

Trong đó, luận văn đã nêu được các nội dung về khái niệm cũng như

nguồn công bố thông tin, yêu cầu về cơng bố thơng tin và vai trò của cơng bố

thông tin. Đồng thời, hệ thống hoá phương pháp đo lường mức độ công bố

thông tin, các lý thuyết về các vấn đề anh hưởng đến công bố thông tin và

phân tích các nhân tố anh hưởng.

Có nhiều nhân tố nêu ra trong chương này, tuy nhiên chiều và mức độ

tác động của mỗi nhân tố là không đồng nhất. Từ đó làm cơ sở tiền đề để tác

gia làm rõ nhân tố nào thật sự anh hưởng đến mức độ công bố thông tin được

nghiên cứu thực nghiệm trong các chương tiếp theo.



50



CHƯƠNG 2



THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1 TỔNG QUAN VỀ THỰC TIỄN CÔNG BỐ THÔNG TIN TẠI VIỆT

NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH VẬN TẢI

2.1.1 Khái quát về môi trường công bố thông tin tại Việt Nam

Môi trường công bố thông tin của công ty Việt Nam đã thay đổi đáng kể

trong suốt thập kỷ qua. Các chuẩn mực kế toán Việt Nam đã được hài hoà với

các Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS), và các cơ quan quan lý

của Chính phủ Việt Nam đã dần dần thiết lập một khung pháp lý toàn diện

cho việc công bố thông tin của công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Cai cách kinh tế được đưa ra tại Việt Nam từ năm 1986 đã dẫn đến một số

thay đổi quan trọng đối với xã hội Việt Nam. Với nỗ lực để cơng nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước, duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định và cơ cấu lại nền

kinh tế để nâng cao hiệu qua và cạnh tranh, Việt Nam cần vốn đầu tư khổng

lồ. Do đó, xây dựng thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã trở thành một nhu

cầu cấp bách để huy động vốn trung và dài hạn trong và ngoài nước vào đầu

tư kinh tế thông qua chứng khoán nợ và chứng khoán vốn. Ngồi ra, việc tư



51



nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước cùng với sự hình thành và phát triển của

thị trường chứng khoán sẽ tạo ra môi trường kinh doanh cởi mở và lành mạnh

hơn. Ngày 10 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số

48/1998 / NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán và quyết định

thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội và thành phố Hồ

Chí Minh. Ngày 20/7/2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ

Chí Minh chính thức đưa vào hoạt động và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên

ngày 28 tháng 7 năm 2000 với hai loại cổ phiếu niêm yết. Tháng 8 năm 2007,

nó được đổi tên thành HOSE.

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội được thành lập năm 2005,

sau đó được đổi tên thành HNX năm 2009. Hiện tại có 342 cơng ty niêm yết

trên HOSE và 393 cơng ty niêm yết trên sàn HNX với tổng vốn hóa khoang

964.000 tỷ đồng, tương đương với 31% GDP.

Liên quan đến các quy định công bố thông tin, Luật Chứng khoán số

70/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội Việt Nam đã ban hành một

hành lang pháp lý quan trọng cho sự phát triển của Thị trường Chứng khoán

Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu tiên, Luật Chứng khoán đã thơng qua

mục tiêu, mục đích, ngun tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là công

bằng, công khai, minh bạch, bao vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư. Trong

hơn một thập kỷ hình thành và phát triển, Thị trường Chứng khoán Việt Nam

đã phát triển mạnh về số lượng và định lượng và đã trở thành một trong

những kênh vốn hiệu qua của nền kinh tế. Sau ba năm thực hiện, bên cạnh

nhiều mặt tích cực của Luật Chứng khoán đã chứng minh được một phần góp

phần vào sự phát triển của thị trường, có một số thiếu sót cần điều chỉnh để

phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường chứng khoán; Trong số

những thiếu sót đó là việc cơng bố thơng tin. Để khắc phục những thiếu sót



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×