Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 LÝ THUYẾT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN

3 LÝ THUYẾT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN

Tải bản đầy đủ - 0trang

37



công ty trong tương lai [32]. Người quan lý là một dạng của lao động nhưng

với một vai trò đặc biệt đó là điều phối hoạt động của tồn cơng ty hướng tới

mục đích của người chủ. Theo lý thuyết về đại diện, quan hệ giữa các cổ đông

và người quan lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện – hay quan hệ ủy

thác. Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó, các cổ

đơng bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quan lý công ty để thực hiện việc

quan lý cơng ty cho họ mà trong đó bao gồm ca việc trao thẩm quyền để ra

quyết định định đoạt tài san của cơng ty. Lý thuyết đại diện mơ hình hóa mối

quan hệ giữa người sở hữu thực sự và người đại diện. Trong trường hợp một

cơng ty thì người đại diện làm việc thay mặt các cổ đơng. Nói cách khác, các

giám đốc điều hành là những người được cổ đông ủy quyền đứng ra điều hành

công ty, đem lại lợi ích cho ca hai phía. Kết qua nghiên cứu Jensen và

Meckling (1976) có một số điểm chính như sau:

Thứ nhất, chủ sở hữu và người quan lý luôn có sự đối lập về mặt lợi ích.

Người chủ sở hữu quan tâm đến giá trị và định hướng lâu dài của công ty.

Trong khi nhà quan trị quan tâm đến lợi ích của ban thân, thích nghỉ ngơi hơn

thích làm, thích những vấn đề ít rủi ro hơn và thu nhập nhiều hơn, ln có xu

hướng tư lợi và khơng đủ mẫn cán và có thể tìm kiếm lợi ích cá nhân cho

mình hay người thân của mình chứ không phai cho công ty.

Thứ hai, từ việc không đồng nhất lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quan lý

làm phát sinh chi phí người đại diện. Jensen và Meckling (1976) cho rằng chi

phí người đại diện càng lớn khi nhà quan lý sở hữu ít cổ phiếu cơng ty [32].

Cuối cùng, một vấn đề quan trọng nay sinh khi có sự tách rời giữa quyền

sở hữu và quyền quan lý là hiện tượng thông tin bất đối xứng giữa người đại

diện và các cổ đông. Trong mối quan hệ này, người bên trong có thơng tin nội



38



bộ rõ ràng hơn, sớm hơn. Vì vậy, các cổ đơng đang đối mặt với nhiều vấn đề

như: họ không thể xác định và đánh giá một cách chính xác giá trị của các

quyết định mà nhà quan trị đưa ra. Lý thuyết người đại diện có kha năng lý

giai hành động công bố hoặc không công bố thông tin của người quan lý cơng

ty từ đó anh hưởng tới mức độ cơng bố thơng tin của cơng ty.

Các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến tình trạng các cổ

đông cần thường xuyên giám sát hoạt động của người quan lý cơng ty nhằm

đam bao lợi ích của mình. Lý thuyết về đại diện cho rằng cổ đơng cần sử

dụng cơ chế thích hợp để hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đơng và người

quan lý công ty bằng cách thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các

nhà quan trị và thiết lập cơ chế giám sát hiệu qua để hạn chế những hành vi

không minh bạch và tư lợi của người quan lý cơng ty.

1.3.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)

Lý thuyết tín hiệu đã được hình thành vào đầu những năm 1970 và được

dựa trên hai đóng góp nghiên cứu chính Arrow (1972) và Spence (1973) [8],

[42]. Lý thuyết tín hiệu xuất phát từ nguồn thông tin bất cân xứng giữa chủ

doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng như giữa các nhà đầu tư. Thông tin bất cân

xứng trên thị trường chứng khoán xay ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở

hữu được nhiều thông tin hơn các nhà đầu tư khác. Đây được xem là một lý

do cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu qua sử dụng thơng tin tài chính để

gửi tín hiệu đến thị trường. Thơng tin được công bố bởi các nhà quan lý đến

thị trường làm giam thông tin bất đối xứng và được xem như là một tín hiệu

tốt của thị trường. Sự bất đối xứng thơng tin ở các doanh nghiệp có quy mô

lớn sẽ lớn hơn nên các doanh nghiệp này thường công bố thông tin nhiều hơn

để giam thiểu sự bất đối xứng thông tin.



39



Xét trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư khi mua cổ phiếu của một

công ty niêm yết, ít nhiều họ cũng cần biết cơng ty đó hoạt động ra sao, san

xuất cái gì…Các cơng ty muốn nâng cao vị thế, bán cổ phiếu với giá cao và

hợp lý, nó phai cho nhà đầu tư thấy được danh tiếng, hiệu qua hoạt động và

tiềm năng phát triển của nó. Vì vậy các cơng ty có quy mơ, lợi nhuận và kha

năng tăng trưởng cao có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn đến thị trường

nhằm tăng độ tin cậy, sức hấp dẫn trên thị trường.

1.3.3 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory)

Lý thuyết chi phí sở hữu áp dụng đối với việc cơng bố thông tin được

phát triển bởi nghiên cứu của Verrecchia (1983) [45]

Lý thuyết chi phí sở hữu lưu ý đến chi phí cơng bố thơng tin cũng như

các lợi ích của nó. Các nhà quan lý xem xét các chi phí cơng bố thơng tin và

khơng cơng bố khi chi phí lớn hơn lợi ích. Các chi phí này bao gồm khơng chỉ

những chi phí lập và cơng bố các thơng tin mà còn là các chi phí để có được

các thông tin của đối thủ cạnh tranh.

Lý thuyết chi phí sở hữu cho thấy rằng các nhà quan lý có động cơ để

giữ lại một số thơng tin nếu cơng bố nó có nghĩa là cơng ty phai chịu một số

chi phí (Verrecchia, 1983) [45]

Một cơng ty cũng sẽ phai chịu chi phí sở hữu hay chi phí cạnh tranh bất

lợi khi các bên liên quan, như đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp, các khách

hàng, các nhóm lao động và các cơ quan quan lý vốn đầu tư, có thể dựa trên

các thơng tin được cơng bố mà có tác động tiêu cực đến cơng ty chỉ vì các lợi

ích riêng của họ. Các thành phần trên có thể sử dụng các thơng tin được cơng



40



bố bởi các công ty để đánh giá lại lần lượt các mối quan hệ hợp đồng của họ

với công ty và có thể làm giam dòng tiền của cơng ty (Cormier, 1999) [18]

1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG

TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

Dựa vào việc phân tích các lý thuyết về các vấn đề anh hưởng đến công

bố thông tin và tổng hợp các nhân tố anh hưởng đến mức độ công bố thông tin

từ các nghiên cứu trước, có thể thấy rằng các nhân tố liên quan đến cơ cấu sở

hữu, quan trị doanh nghiệp và đặc điểm doanh nghiệp được dùng để giai thích

mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng

khoán, cụ thể như sau:

1.4.1 Nhóm nhân tố liên quan đến cơ cấu sở hữu

Các khía cạnh khác nhau của các cấu trúc quyền sở hữu đã được đề cập

trong các nghiên cứu trước đây như quyền sở hữu tập trung, sở hữu gia đình,

quyền sở hữu của chính phủ, sở hữu nước ngồi, sở hữu tổ chức (Barako,

2006) [10]. Nghiên cứu này xem xét ba khía cạnh của cơ cấu sở hữu của một

cơng ty, cụ thể là, quyền sở hữu nhà nước, quyền sở hữu nước ngồi và sở

hữu nhóm quan lý.

Sở hữu nhà nước: Nghiên cứu của Ghazali và Weetman (2006) tại

Malaysia, nơi có một kết nối chính trị mạnh mẽ, lập luận rằng các cơng ty có

sở hữu nhà nước cao khơng được khuyến khích cung cấp thêm thơng tin để

bao vệ mối quan hệ chính trị, lợi ích của các chủ sở hữu chính là nhà nước

[24]. Ngồi ra, Jiang và Habib (2009) lập luận rằng các công ty nhà nước ít có

nhu cầu huy động vốn vì họ dễ dàng được tiếp cận với nguồn vốn nhà nước

[33]. Ngay ca khi nhà nước khơng cung cấp tài chính trực tiếp, các doanh



41



nghiệp có thể có nguồn từ các cơng ty nhà nước khác, nên họ có thêm lý do

để hạn chế cơng bố thơng tin. Như vậy cơng ty có sở hữu nhà nước cao hơn

thường thiếu động lực cho việc công bố thông tin tự nguyện cho các cổ đơng

bên ngồi. Thực trạng tại Việt Nam, khi các doanh nghiệp nhà nước được cổ

phần hóa và niêm yết, cho thấy phần lớn các chức danh quan lý như giám đốc,

phó giám đốc và kế toán trưởng vẫn do những người cũ nắm giữ. Những con

người cũ áp dụng các biện pháp quan trị của doanh nghiệp nhà nước nên

chậm thay đổi trong mơ hình quan trị (Duy và Anh , 2012) [1]. Hành động của

ban điều hành công ty bị hạn chế và do đó, tối đa hóa lợi nhuận và giá trị cổ

đông không phai là các mục tiêu chính của các cơng ty. Cùng với đó các nhà

quan lý của các cơng ty có sở hữu nhà nước cao khơng có động cơ để cung

cấp thêm thơng tin ngồi những thơng tin bắt buộc.

Sở hữu nhà đầu tư nước ngồi: Có thể thấy cổ đơng nước ngồi dường

như chịu nhiều rủi ro khi đầu tư hơn so với các cổ đông trong nước như: rủi ro

pháp luật, chính trị, tỉ giá, thơng tin bất cân xứng…Đặc biệt là rủi ro về thông

tin bất cân xứng trong các thị trường mới nổi nên có một nhu cầu thơng tin

lớn hơn từ phía các nhà đầu tư nước ngồi. Xiao và Yuan (2007) cho rằng thị

trường vốn mới nổi như Trung Quốc thì các vấn đề thơng tin bất cân xứng

thậm chí còn cao hơn bởi vì khó tiếp cận được các ban báo cáo thường niên

[48]. Trong trường hợp này các cơng ty có một động lực cao hơn trong việc

công bố thông tin, minh bạch thông tin nhằm mục đích gia tăng vốn từ các

nhà đầu tư nước ngoài. Điều này phù hợp với nghiên cứu của Barako (2004)

cung cấp bằng chứng cho thấy sở hữu nhà đầu tư nước ngồi tỷ lệ thuận với

mức độ cơng bố thông tin tại Kenya [9]. Haniffa và Cooke (2002) tìm thấy

một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ sở hữu nước ngồi và mức độ cơng bố

tự nguyện của các công ty niêm yết tại Malaysia [26]. Nghiên cứu lập luận



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 LÝ THUYẾT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×