Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

2 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

Tải bản đầy đủ - 0trang

30



thước đo thống kê đo lường mức độ công bố thơng tin thể hiện được các

thuộc tính của thơng tin (1) thể hiện độ tin cậy của thông tin (2) tính khách

quan của thơng tin (3) tính kịp thời của thơng tin (4) tính tồn diện của thơng

tin. Nghiên cứu của Beattie và cộng sự (2004) [11] về phân tích thông tin

trong báo cáo thường niên cho thấy các phương pháp chủ yếu để phân tích

thơng tin như sơ đồ sau :



31



Đo lường có trọng số

Phân tích chỉ số



Chủ quan



Đo lường khơng có trọng số



Phân tích nội dung báo cáo thường niên

Phân tích nội dung chuyên đề



Bán khách quan



Phân tích văn bản

Nghiên cứu khả năng đọc



Phân tích ngơn ngữ



Sơ đồ 1.1: Phương pháp phân tích thơng tin trên báo cáo thường niên

(Nguồn: Beattie và cộng sự, 2004)



Hiện nay phương pháp tiếp cận bán khách quan được sử dụng nhiều

nhất, phương pháp này sử dụng số lượng công bố thông tin như một đại diện



32



cho chất lượng công bố thông tin (Beattie và cộng sự, 2004) [11]. Cách tiếp

cận bán khách quan được chia thành phân tích văn ban và phân tích chỉ số.

Phân tích văn ban là việc phân tích tồn bộ văn ban, điều này có thể chia

thành các hình thức phân tích nội dung chun đề, nghiên cứu kha năng đọc

và phân tích ngơn ngữ. Phân tích nội dung chun đề nhìn vào đó chủ đề

được nêu trong các văn ban, điều này có thể là trong tồn bộ văn ban hoặc

trong một phần nhất định. Nghiên cứu kha năng đọc đánh giá những khó khăn

của văn ban mà thường được thực hiện bằng cách sử dụng một công thức dễ

đọc (Beattie và cộng sự, 2004) [11]. Các điểm thu được sau đó được so sánh

với một bộ tiêu chuẩn để xác định mức độ khó hoặc dễ đọc. Phân tích ngơn

ngữ còn được gọi là một phương pháp tập trung vào các điểm tường thuật. Có

hai hạn chế chính liên quan đến phân tích văn ban theo Beattie và cộng sự

(2004) là phân tích một chiều, như tập trung chủ yếu vào việc phân loại các

chủ đề và sự vắng mặt hay hiện diện của các thông tin về chủ đề này [11].

Thứ hai, thường không phai là toàn bộ nội dung của các báo cáo thường niên

được phân tích và do đó chỉ phân tích là một phần.

Một cách tiếp cận bán khách quan khác là phân tích chỉ số. Số lượng

thơng tin được cung cấp trong báo cáo thường niên liên quan đến một chủ đề

cụ thể được đo và sử dụng như một đại diện cho chất lượng công bố thông tin

(Beattie và cộng sự , 2004) [11]. Các nghiên cứu chỉ ra rằng có hai hình thức

phổ biến, đo lường khơng trọng số nghĩa là khơng có tỉ trọng điểm giữa các

mục. Đo lường không trọng số là tương đối đơn gian, được sử dụng ghi lại sự

tồn tại hay không tồn tại của một mục. Cách tiếp cận trọng số là khi trọng số

khác nhau (ví dụ từ 1-10) được ấn định cho các thông tin, nghĩa là các mục

thông tin càng quan trọng thì được cho điểm số nhiều hơn.



33



1.2.2 Danh mục đánh giá mức độ công bố thông tin

Các nghiên cứu trước đây đã kiểm tra các hành vi công bố thông tin của

các công ty bằng cách sử dụng một danh sách kiểm tra công bố thông tin.

Phương pháp này lần đầu tiên được sử dụng bởi Cerf (1961) trong nghiên cứu

của 527 công ty niêm yết của Mỹ trong năm 1956 và 1957 [14]. Kể từ đó,

nhiều nghiên cứu tính toán theo phương pháp này đã áp dụng tương tự để đo

lường ca về số lượng và chất lượng cơng bố thơng tin. Tuy nhiên, chưa có một

sự thống nhất về lựa chọn và đo lường các mục công bố thông tin cho mỗi chỉ

số. Danh sách kiểm tra mức độ công bố thông tin được phát triển bởi Gray và

cộng sự (1995) đã được sử dụng để kiểm tra việc công bố thông tin tự nguyện

của các doanh nghiệp ở các nước phát triển [25]. Chau và Gray (2002) cũng

đã sử dụng danh sách của Gray và cộng sự (1995) với một số sửa đổi để kiểm

tra công bố thông tin của các doanh nghiệp Hồng Kông và Singapore [16].

Một danh sách kiểm tra việc công bố thông tin đã được sử dụng như một công

cụ trong rất nhiều nghiên cứu về công bố thông tin [17], [12], [20]. Hầu hết

các nhà nghiên cứu thực hiện những nỗ lực để tạo ra một danh sách kiểm tra

hợp lý trong môi trường nghiên cứu cụ thể đang được điều tra.

Một số nhà nghiên cứu áp dụng một chỉ số được lập sẵn của các tổ chức

để đo lường mức độ cơng bố thơng tin. Ví dụ, Rajan và Zingales (1998) sử

dụng chỉ số của (CIFAR) để đo lường mức độ công bố thông tin [38]. Trong

khi, Khanna và cộng sự (2004) sử dụng các chỉ số minh bạch của Standard

and Poor (S&P) [35]. Tuy nhiên phương pháp này không được khách quan

khi bang điểm được xây dựng dựa trên nhận thức của các nhà phân tích tài

chính. Hơn nữa, các chỉ số này thường được thiết kế và phục vụ cho nhu cầu

của các tổ chức phát triển nó. Vì vậy, các bang điểm này ít có giá trị để tra lời

các câu hỏi của từng nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, cũng có các nhà nghiên



34



cứu như Cooke (1989) dựa trên bộ khuyến nghị công bố thông tin của

Swedish Institute of Authorized Public Accountants and the International

Standards Committee để tạo ra danh sách 146 mục để kiểm tra mức độ công

bố thông tin tại Thụy Điển [17]. Hay Yuen và cộng sự (2009) tham chiếu các

mục trong khuyến nghị công bố thông tin và quan trị doanh nghiệp của

OECD, Sàn chứng khoán Úc (ASX), Sàn chứng khoán Hồng Kông (HKSE)

và CSRC để tạo ra ban đầu gồm 120 mục về mức độ cơng bố thơng tin, sau

đó sàng lọc cho phù hợp với nghiên cứu tại Trung Quốc đã đưa ra danh sách

cuối cùng gồm 51 mục [49]. Tại Việt Nam nghiên cứu của Phạm Thị Bích

Vân (2012) sử dụng thơng tư 52/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về

Công bố thông tin để tạo ra 24 câu hỏi để đánh giá mức độ công bố thông tin

của các doanh nghiệp niêm yết trên 2 Sở giao dịch chứng khoán HOSE, HNX

[4].

Một phương pháp tạo ra bang tính điểm mức độ cơng bố thơng tin khác

đó là tham khao những bang điểm được tạo ra ban đầu của các nghiên cứu

đầu tiên như Cooke (1989), Gray và cộng sự (1995), Botosan (1997) sau đó

sửa đổi để tạo ra một chỉ số đáng tin cậy và phù hợp để đánh giá mức độ công

bố thông tin phù hợp với môi trường nghiên cứu cụ thể. Cách tiếp cận này đã

được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu sau này về vấn đề xác định mức

độ công bố thông tin. Cụ thể, Hossain và cộng sự (1995) tham khao các

nghiên cứu trước của Cooke (1989), Gray và cộng sự (1995) và những quy

định bắt buộc về công bố thông tin tại New Zealand để chọn lọc và cuối cùng

lựa ra 95 mục trong bang điểm đánh giá về công bố thông tin từ danh sách

110 mục ban đầu [31]. Nghiên cứu của Ferguson và cộng sự (2002) đã sàng

lọc từ ban đầu 102 mục công bố thông tin từ danh sách tham khao của các

nghiên cứu trước như Gray và cộng sự (1995), Hossain và cộng sự (1995) so



35



sánh và đánh giá với yêu cầu tại Hong Kong để loại bỏ và kết qua là một danh

mục gồm 93 câu hỏi để đánh giá [22]. Tại Malaysia có nghiên cứu của Ho

(2009) đã tích hợp nhiều nghiên cứu trước để có ban đầu 151 mục về cơng bố

thơng tin và sau quá trình sàng lọc cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu thì

danh sách điểm đánh giá cơng bố thơng tin còn 85 mục [29]. Kelly Vu (2012)

khi nghiên cứu mức độ công bố thông tin tự nguyện tại Việt Nam cũng tạo ra

danh sách ban đầu gồm 119 mục được tích hợp từ các nghiên cứu của Gray và

cộng sự (1995), Ferguson và cộng sự (2002), Xiao và Yuan (2007), Ho

(2009), Akhtaruddin và cộng sự (2009) [34]. Sau đó, nghiên cứu này đã sàng

lọc danh mục này so với những quy định luật kế toán 2003, luật chứng khoán

2006, Quyết định 38/2007/TT – BTC để loại bỏ 35 mục là những quy định bắt

buộc về công bố thông tin để tạo ra danh mục gồm 84 mục để đánh mức độ

công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam vào

năm 2009.

1.2.3 Trọng số trong đo lường mức độ công bố thông tin

Một số nghiên cứu đã ủng hộ cho quan điểm mỗi mục trong một danh

sách kiểm tra mức độ cơng bố thơng tin khác nhau có mức độ quan trọng khác

nhau [12], [21]. Trong nghiên cứu Botosan (1997) gán một điểm cho từng

hạng mục giới thiệu công ty, hai điểm cho thống kê hiệu suất và các tỷ số tài

chính của cơng ty, và ba điểm về các thơng tin dự báo tương lai [12]. Phương

pháp tương tự được sử dụng bởi Eng và cộng sự (2001); Eng và Mak (2003)

[21], [20].

Cũng có nhiều nghiên cứu lại cho rằng khơng có trọng số nào cho mỗi

mục trong danh sách kiểm tra tiêu biểu là Cooke (1989); Gray và cộng sự

(1995); Chau và Gray (2002); Akhtaruddin và cộng sự (2009); Hossain (1995)



36



[17], [25], [15], [6], [31]. Theo cách tiếp cận này cách tính điểm “1” cho cơng

ty khi có một thơng tin nào đó trong báo cáo thường niên và “0” nếu không

công bố thông tin này trên báo cáo thường niên. Cách thức này được coi là

thích hợp để áp dụng vì phương pháp khơng trọng số này được xem là ít chủ

quan hơn. Do đó việc áp dụng không trọng số đối với điểm số công bố thông

tin tự nguyện tại Việt Nam có thể coi là thích hợp.

1.3 LÝ THUYẾT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN

Như nội dung đã trình bày ở phần trên, có khá nhiều cơng trình trên thế

giới nghiên cứu về các nhân tố anh hưởng đến mức độ công bố thông tin và

kết qua của các nghiên cứu này cho thấy có nhiều nhân tố anh hưởng đến

công bố thông tin. Tuy nhiên kết qua của các nghiên cứu khơng giống nhau,

có nhân tố trong nghiên cứu này không tác động nhưng trong nghiên cứu khác

lại có tác động, thêm vào đó cũng có trường hợp nhân tố tác động thuận chiều

đến công bố thông tin ở nghiên cứu này nhưng lại có kết qua ngược chiều ở

nghiên cứu khác. Vì vậy để có cơ sở cho việc phát triển gia thuyết nghiên

cứu, tác gia thực hiện phân tích các lý thuyết nền tang có liên quan, các lý

thuyết đó là lý thuyết đại diện (Agency theory), lý thuyết tín hiệu (Signalling

theory), lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory).

1.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)

Lý thuyết đại diện xuất hiện từ những năm 1970 với sự phát triển vượt

bậc của các cơng ty trên thế giới và cũng từ đó phát sinh mối quan hệ giữa

người chủ và người quan lý thông qua hợp đồng đại diện. Nghiên cứu này sử

dụng lý thuyết được đề cập trong nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976).

Theo nghiên cứu này chủ sở hữu hay cổ đông người cung cấp vốn cho công ty

hoạt động, phát triển và kỳ vọng sẽ nhận được những mức lợi tức nhất định từ



37



công ty trong tương lai [32]. Người quan lý là một dạng của lao động nhưng

với một vai trò đặc biệt đó là điều phối hoạt động của tồn cơng ty hướng tới

mục đích của người chủ. Theo lý thuyết về đại diện, quan hệ giữa các cổ đông

và người quan lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện – hay quan hệ ủy

thác. Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó, các cổ

đơng bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quan lý công ty để thực hiện việc

quan lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm ca việc trao thẩm quyền để ra

quyết định định đoạt tài san của công ty. Lý thuyết đại diện mơ hình hóa mối

quan hệ giữa người sở hữu thực sự và người đại diện. Trong trường hợp một

cơng ty thì người đại diện làm việc thay mặt các cổ đơng. Nói cách khác, các

giám đốc điều hành là những người được cổ đông ủy quyền đứng ra điều hành

cơng ty, đem lại lợi ích cho ca hai phía. Kết qua nghiên cứu Jensen và

Meckling (1976) có một số điểm chính như sau:

Thứ nhất, chủ sở hữu và người quan lý ln có sự đối lập về mặt lợi ích.

Người chủ sở hữu quan tâm đến giá trị và định hướng lâu dài của công ty.

Trong khi nhà quan trị quan tâm đến lợi ích của ban thân, thích nghỉ ngơi hơn

thích làm, thích những vấn đề ít rủi ro hơn và thu nhập nhiều hơn, luôn có xu

hướng tư lợi và khơng đủ mẫn cán và có thể tìm kiếm lợi ích cá nhân cho

mình hay người thân của mình chứ khơng phai cho cơng ty.

Thứ hai, từ việc khơng đồng nhất lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quan lý

làm phát sinh chi phí người đại diện. Jensen và Meckling (1976) cho rằng chi

phí người đại diện càng lớn khi nhà quan lý sở hữu ít cổ phiếu cơng ty [32].

Cuối cùng, một vấn đề quan trọng nay sinh khi có sự tách rời giữa quyền

sở hữu và quyền quan lý là hiện tượng thông tin bất đối xứng giữa người đại

diện và các cổ đông. Trong mối quan hệ này, người bên trong có thơng tin nội



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×