Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

Tải bản đầy đủ - 0trang

20



công ty bao gồm hai loại: công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự

nguyện.

- Công bố thông tin bắt buộc:

Là việc công bố những thông tin cơ ban theo quy định của pháp luật mà

cụ thể là các quy định công bố thông tin theo luật doanh nghiệp, luật chứng

khoán 2005 (đã có sửa đổi và bổ sung), thông tư 155/2015/TT-BTC về công

bố thông tin. Theo Simon (2001) công bố thông tin bắt buộc là các quy tắc

cho phép truy cập những thông tin cơ ban [40]. Hay công bố thông tin bắt

buộc là các thông tin mà các doanh nghiệp nhất thiết phai công bố theo quy

chuẩn, nội dung và thời gian bắt buộc do luật quy định (Durukan, 2003) [19].

Hiện tại theo quy định của thông tư 155/2015/TT-BTC việc công bố thông tin

được phân chia làm 3 loại gồm: công bố thông tin định kỳ, công bố thông tin

bất thường, công bố thông tin theo yêu cầu.

Công bố thông tin định kỳ: Công bố thông tin định kỳ gồm những báo

cáo: báo cáo tài chính q, bán niên, năm, đối với cơng ty là cơng ty mẹ cơng ty con hoặc cơng ty có kế toán phụ thuộc phai có ca báo cáo tài chính

riêng và báo cáo tài chính hợp nhất. Ngồi ra, cơng bố thơng tin định kỳ còn

có báo cáo thường niên và báo cáo quan trị. Thơng tư 155 còn quy định cụ thể

nội dung, thời hạn và cách thức công bố thông tin.

Công bố thông tin bất thường: Cũng theo quy định của thông tư 155

những sự kiện, thông tin xay ra anh hưởng đến tình hình hoạt động kinh

doanh, cổ đơng của cơng ty thì phai cơng bố thông tin trong thời hạn quy định

của thông tư này. Một số sự kiện phai công bố thông tin bất thường như: tài

khoan công ty bị phong tỏa, nghị quyết/quyết định của Đại hội đồng cổ đông,



21



các nghị quyết quan trọng của Hội đồng quan trị, thay đổi nhân sự chủ chốt,

sự kiện anh hưởng lớn đến họat động san xuất kinh doanh….

Công bố thông tin theo yêu cầu: Công ty phai cơng bố thơng tin trong

vòng 24h khi có yêu cầu của Ủy ban chứng khoán nhà nước khi xay ra các sự

kiện anh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của cổ đông, giá chứng khoán. Cách

thức và nội dung công bố thông tin cũng được quy định rõ trong thông tư 155.



22



- Công bố thông tin tự nguyện:

Công bố thông tin tự nguyện là thuật ngữ khá mới ở Việt Nam và các thị

trường tài chính mới nổi nhưng đối với các thị trường phát triển như Châu Âu,

Châu Mỹ thì đây là thuật ngữ phổ biến. Như FASB (Financial Accounting

Standard Board in US) đã định nghĩa công bố thông tin tự nguyện là các

thông tin được công bố ngoại trừ những báo cáo tài chính đã cơng bố theo yêu

cầu. Gray và cộng sự (1995) xác định công bố thông tin tự nguyện như là

những công bố được thực hiện vượt quá những yêu cầu thông tin cơ ban.

Công bố thông tin tự nguyện như là công cụ giam bớt thông tin bất cân xứng

giữa lãnh đạo công ty và nhà đầu tư . Công bố thông tin tự nguyện thường

xuyên được chia thành ba loại thông tin: chiến lược, tài chính và phi tài chính.

Nghiên cứu đầu tiên về ba loại thông tin này là của Gray và cộng sự (1995).

Chiến lược và thông tin tài chính thường liên quan đến nhà đầu tư và các nhà

san xuất. Trong khi đó thơng tin phi tài chính tập trung nhiều hơn về trách

nhiệm xã hội của một doanh nghiệp, bên cạnh việc thông tin cho các nhà đầu

tư, cũng liên quan đến cơng chúng nói chung. Có nhiều phương thức khác

nhau để cung cấp thông tin tự nguyện, thông qua các báo cáo thường niên,

nửa năm, hàng quý, báo cáo quan hệ nhà đầu tư, báo cáo phát triển bền vững,

chú thích, phỏng vấn, thơng cáo báo chí và những cách thức khác [25].

1.1.2 Tầm quan trọng của việc công bố thông tin

Verrecchia (1983) lập luận rằng quyết định của người quan lý tiết lộ

hoặc che giấu thông tin phụ thuộc vào sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích của

việc cung cấp thơng tin [45]. Chi phí liên quan cơng bố tự nguyện, bao gồm

chi phí thu thập, lưu trữ, kiểm toán và chi phí cạnh tranh bất lợi. Trong đó, chi

phí cạnh tranh bất lợi là đến từ các thông tin như các chiến lược và đổi mới



23



công nghệ, quan lý về hoạt động của một công ty. Như công bố thông tin liên

quan đến kế hoạch phát triển san phẩm trong tương lai của cơng ty với cơng

chúng thì dễ xay ra một nguy cơ cạnh tranh tiềm tàng cho chính cơng ty đã

cơng bố thơng tin. Đó chính là đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng cơng bố

thơng tin của cơng ty để phát triển một san phẩm tương tự hoặc cập nhật san

phẩm, kết qua là gây bất lợi trong cạnh tranh với cơng ty.

Tuy nhiên, có nhiều ích lợi trong việc công bố thông tin của các công ty

như khuyến khích các giao dịch thị trường vốn. Khi quan lý một công ty dự

kiến giao dịch thị trường vốn trong tương lai gần, một số công bố thông tin tự

nguyện được sử dụng để làm giam sự bất đối xứng thông tin giữa công ty và

nhà đầu tư. Lý do việc nhà quan lý làm như vậy là nó có thể làm giam chi phí

tài chính bên ngồi. Nhiều nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng thực nghiệm

cho lý thuyết này. Botosan (2000) kết luận rằng kết qua công bố thơng tin

nhiều hơn thì có chi phí vốn thấp hơn [13].

Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng tăng công bố tự nguyện có thể cai thiện

tính thanh khoan thị trường vốn bằng cách giam chi phí giao dịch và do đó

làm tăng nhu cầu đối với cổ phiếu của một công ty. Nhu cầu cao hơn đối với

cổ phiếu dẫn đến giá cổ phiếu cao hơn, dẫn đến chi phí thấp hơn vốn

(Verrecchia, 1983) [45]. Trong một nghiên cứu về công bố tự nguyện và thanh

khoan thị trường trong thị trường mới nổi ở Jordan, Cormier (1999) thấy rằng

tăng cường công bố thông tin tự nguyện giúp giam thiểu khoang cách giữa

lệnh đặt mua – lệnh đặt bán trong các hoạt động giao dịch cổ phiếu, làm giam

chi phí vốn và do đó cai thiện tính thanh khoan của thị trường [18] .

Hiệu qua của việc công bố thông tin tốt là làm giam chi phí nợ cũng

được xem xét trong nghiên cứu trước đây. Bằng chứng thực nghiệm từ



24



Botosan (2000) nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ lãi suất thấp có liên quan với

mức độ cao hơn trong công bố thông tin [13]. Điều này là do khi các vấn đề

thông tin bất đối xứng tồn tại, chủ nợ có thể cho rằng các cơng ty đang che

giấu thơng tin, có thể dẫn đến sự gia tăng trong chi phí đi vay vì chủ nợ phai

tự bao vệ mình từ các thơng tin khơng đầy đủ nhận được từ các cơng ty. Điều

đó cũng có nghĩa là khi một công ty công bố thêm thông tin tự nguyện giúp

chủ nợ tiết kiệm chi phí tìm kiếm thơng tin và giúp làm giam chi phí đi vay.

Mức độ cơng bố thơng tin tự nguyện có thể làm giam sự không chắc

chắn xung quanh một công ty cụ thể và cho phép nhà đầu tư hoặc các nhà đầu

tư tiềm năng có được dự báo chính xác hơn từ đó, cổ phiếu chịu ít biến động

và giá trị của chúng được xác định chính xác hơn (Healy và Palepu , 2001)

[28]. Các nghiên cứu trước đây cũng tìm thấy rằng mức độ cơng bố thơng tin

tốt có một tác động tích cực trở lại cổ phiếu của một cơng ty. Barako (2004)

cho rằng việc công bố thông tin tự nguyện phi tài chính có thể nâng cao giá trị

cổ phiếu của một cơng ty cũng như uy tín xã hội [9].

Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng có anh hưởng đến việc phân

bổ hiệu qua các nguồn lực của xã hội và giam thiểu sự nhiễu loạn thông tin

giữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thơng tin bên ngồi doanh

nghiệp, (Adina, 2008) [5]. Thật vậy, một số các vấn đề liên quan đến thông tin

và động cơ công bố thông tin đã can trở việc phân bổ nguồn lực tối ưu trong

thị trường vốn. Đó chính là các vấn đề như vấn đề bất đối xứng thông tin, vấn

đề đại diện,... Vấn đề bất đối xứng thông tin nay sinh từ sự khác biệt về mức

độ và nội dung thông tin, từ sự khác biệt về động cơ giữa chủ doanh nghiệp,

nhà quan trị doanh nghiệp với các nhà đầu tư. Thông tin bất đối xứng tạo ra

những kỳ vọng về giá khác nhau đối với mỗi chủ thể trên thị trường dẫn đến

sự khác nhau về mặt hiệu qua kinh tế và thường là thiệt hại cho các nhà đầu tư



25



có những thơng tin khơng đầy đủ hay những thơng tin thiếu chính xác, thậm

chí còn gây ra các hành vi tiêu cực như đầu cơ, giao dịch nội gián, tung tin

đồn thất thiệt, ... làm cho thị trường kém hiệu qua, dễ chao đao, hoạt động đầu

tư của các nhà đầu tư cũng dễ rủi ro hơn, .... Còn vấn đề đại diện phát sinh khi

các cổ đông của doanh nghiệp, tức là những nhà đầu tư đã đầu tư vốn vào

doanh nghiệp, bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quan lý doanh nghiệp

(người đại diện - agents), để thực hiện việc quan lý doanh nghiệp cho họ,

trong đó bao gồm ca việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài san

của doanh nghiệp. Nếu ca cổ đông và người quan lý doanh nghiệp đều muốn

tối đa hóa lợi ích của mình, thì chắc chắn rằng người quan lý doanh nghiệp sẽ

khơng ln ln hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông

và doanh nghiệp, mà trái lại họ ln có xu hướng tìm kiếm lợi ích cá nhân (lý

thuyết đại diện). Và một trong số những giai pháp làm giam các vấn đề nêu

trên là việc thúc đẩy công bố thông tin doanh nghiệp trên thị trường chứng

khoán.

Nhìn chung, tăng cường cơng bố thơng tin cho phép các công ty dễ dàng

huy động vốn bên ngồi thơng qua một chi phí vốn giam và chi phí nợ giam,

đồng thời nâng cao giá trị của cơng ty và cai thiện thanh khoan thị trường,

đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế của một quốc gia.

1.1.3 Yêu cầu về công bố thông tin

 Yêu cầu công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết

Thơng tư số 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài Chính hướng dẫn về việc

công bố thông tin trên thị trường chứng khoán có các quy định điều về yêu

cầu thực hiện công bố thông tin như sau:



26



- Việc công bố thông tin phai đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định

pháp luật;

- Đối tượng công bố thông tin phai chịu trách nhiệm về nội dung thông

tin công bố. Trường hợp có sự thay đổi nội dung thơng tin đã cơng bố, đối

tượng công bố thông tin phai công bố nội dung thay đổi và lý do thay đổi so

với thông tin đã cơng bố trước đó;

- Trường hợp có sự kiện, thông tin làm anh hưởng đến giá chứng khoán,

đối tượng cơng bố thơng tin phai xác nhận hoặc đính chính về sự kiện, thơng

tin đó trong vòng 24 giờ, kể từ khi nhận biết được về sự kiện, thông tin đó

hoặc theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng

khoán;

-Việc công bố thông tin phai do người đại diện theo pháp luật của công

ty hoặc người được uỷ quyền công bố thông tin thực hiện. Người đại diện

theo pháp luật của công ty phai chịu trách nhiệm về tính chính xác, kịp thời và

đầy đủ về thông tin do người được uỷ quyền công bố thông tin công bố;

-Việc công bố thông tin phai được thực hiện đồng thời với việc báo cáo

UBCKNN, Sở GDCK về nội dung thông tin công bố.

 Các tiêu chí đánh giá chất lượng cơng bố thơng tin trên thị trường chứng

khốn

- Độ tin cậy của thơng tin được công bố

Mức độ tin cậy của các thông tin được biểu hiện qua các khía cạnh như

sau: Độ rõ ràng của các thông tin được công bố, thông tin được cơng bố bởi

các chủ thể có thẩm quyền, các thơng tin đó có thể dễ dàng tìm kiếm và được



27



kiểm chứng khi cần thiết, các thơng tin sai sót (nếu có) có thể dễ dàng được

đính chính, sửa chữa.

- Tính khách quan của thơng tin được cơng bố

Tính khách quan của thông tin được hiểu là, các thông tin được công bố

phai phục vụ cho sự phát triển của công ty, vì quyền lợi của cổ đơng. Tính

khách quan của thông tin được công bố phai phan ánh trung thực tình hình

hoạt động tại thời điểm cơng bố, cơng ty không được che giấu những thông

tin gây bất lợi cho nhà đầu tư.

- Thông tin công bố phải đa dạng và dễ dàng truy cập, tiếp cận bình đẳng đối

với mọi chủ thể

Khi công bố thông tin các chủ thể có nghĩa vụ cơng bố thơng tin phai

bao đam những thơng tin đó phan ánh trung thực tình hình hoạt động của

công ty, đồng thời cũng phai bao đam khi nhà đầu tư hay cơ quan quan lý nhà

nước cần tra cứu hay kiểm chứng thơng tin thi có thể tìm kiếm trên trang

thơng tin điện tử của cơng ty, quyền bình đẳng trong tiếp cận thơng tin của cổ

đơng phai tuyệt đối được tôn trọng.

- Thông tin công bố phải kịp thời

Tính kịp thời của thơng tin có ý nghĩa rất quan trọng. Tính kịp thời của

thơng tin được hiểu là thông qua kênh thông tin, diễn biến hoạt động của công

ty được phan ánh đầy đủ, thông tin thường xun được cập nhất, tìm kiếm.

Khi có những dấu hiệu bất lợi cho cơng ty thì phai thơng báo kịp thời để cổ

đơng biết và tìm cách tháo gỡ những khó khăn. Nếu tiêu chí này được bao

đam sẽ hạn chế được tình trạng cố tình che giấu hoặc khơng cung cấp thơng



28



tin và hạn chế được tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng

khoán.

1.1.4 Báo cáo thường niên – kênh công bố thông tin quan trọng

Có một số lượng lớn nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc

công bố thông tin thông qua báo cáo thường niên cho tính toán và đầu tư. Báo

cáo thường niên thường được coi như là một phương tiện quan trọng giai trình

những sự việc của cơng ty trong năm và nó là một trong những phương tiện

giúp cơng ty có thể nâng cao nhận thức của cổ đơng và các bên liên quan về

trách nhiệm của công ty. Botosan (1997) cho rằng mặc dù các báo cáo thường

niên không phai là phương tiện công bố thông tin duy nhất của công ty nhưng

là một biểu hiện tốt nhất cho mức độ công bố thông tin tự nguyện cung cấp

bởi các công ty [12] . Flack và Douglas (2007) cho rằng hoạt động công bố

thông tin báo cáo thường niên là hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về trách

nhiệm giữa các bên liên quan và cộng đồng rộng lớn hơn [23]. Ngồi ra, cơng

bố thơng tin trong báo cáo thường niên là một cơng cụ chiến lược, có thể tăng

cường kha năng của công ty trong việc huy động vốn với chi phí thấp nhất có

thể (Healy và Palepu, 1993) [28]. Báo cáo thường niên được sử dụng như một

phương tiện để giao tiếp thông tin doanh nghiệp ca về số lượng và chất lượng

cho các cổ đông, các nhà đầu tư và người sử dụng khác (Al-Shammari, 2008)

[7]. Tầm quan trọng của báo cáo thường niên cũng đã được đưa ra trong các

nghiên cứu trước ở các thị trường vốn mới nổi. Hassan và Christopher (1999)

cho rằng các nhà phân tích đầu tư tại Malaysia xem các báo cáo thường niên

là nguồn thông tin quan trọng nhất để ra quyết định đầu tư [27]. Ho và Wong

(2001) thấy rằng các nhà phân tích đầu tư tại Hồng Kông xem xét các báo cáo

thường niên như là nguồn thông tin quan trọng nhất của công ty [30]. Trong



29



khi đó, báo cáo thường niên được coi là một tài liệu quan trọng của cán bộ tín

dụng ngân hàng trong nước mới nổi như Kenya (Barako 2004) [9].

Báo cáo thường niên của các công ty niêm yết là một yếu tố quan trọng

trong quá trình cơng bố thơng tin (Todd và Sherman, 1991) [44]. Hơn nữa,

mức độ công bố thông tin trong các báo cáo thường niên là có mối tương

quan dương đến việc việc công bố các thông tin hàng quý và các loại công bố

thông tin khác (Gray và cộng sự, 1995) [25]. Ngoài ra, ở Việt Nam báo cáo

thường niên còn tập hợp các báo cáo có mức độ uy tín cao của doanh nghiệp

như Thư ngỏ chủ tịch hội đồng quan trị, Báo cáo tài chính được kiểm toán,

Báo cáo hoạt động của tổng giám đốc, hội đồng quan trị....Vì vậy, có thể nói

rằng mức độ công bố thông tin được thực hiện trong các báo cáo thường niên

phan ánh thái độ của công ty đối với việc công bố thông tin cho nhà đầu tư

bên ngoài.

Bài viết này cũng sẽ sử dụng báo cáo thường niên như là nguồn thu thập

thông tin chủ yếu để đo lường mức độ công bố thông tin của các doanh

nghiệp.

1.2 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.2.1 Phương pháp đo lường mức độ công bố thông tin

Theo Wallace và Naser (1995) công bố thông tin là một khái niệm trừu

tượng mà khó để đo lường trực tiếp [46]. Nó khơng có đặc trưng vốn có để có

thể xác định cường độ hoặc chất lượng của nó. Mức độ công bố thông tin ở

đây cũng không đồng nghĩa với việc chỉ công bố thông tin đầy đủ, nghĩa là đo

lường “mức độ” phai là thể hiện như là một thước đo về chất lượng tổng thể

trong các báo cáo thường niên. Vì vậy đo lường mức độ cơng bố thơng tin là

một vấn đề khó khăn vì phai lượng hóa những yếu tố trừu tượng thành một



30



thước đo thống kê đo lường mức độ công bố thông tin thể hiện được các

thuộc tính của thơng tin (1) thể hiện độ tin cậy của thơng tin (2) tính khách

quan của thơng tin (3) tính kịp thời của thơng tin (4) tính tồn diện của thơng

tin. Nghiên cứu của Beattie và cộng sự (2004) [11] về phân tích thơng tin

trong báo cáo thường niên cho thấy các phương pháp chủ yếu để phân tích

thơng tin như sơ đồ sau :



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×