Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1Thực trang và những khó khăn trong hoạt động cho vay của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam hiện nay.

1Thực trang và những khó khăn trong hoạt động cho vay của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam hiện nay.

Tải bản đầy đủ - 0trang

GVHD:Nguyễn Thị Hạnh

định chính xác hộ nghèo .Nhiều trường hợp thuộc diện nghèo cần hỗ trợ nhưng lại không

thuộc diện được nhà nước hỗ trợ làm cho họ không thể vươn lên thốt nghèo.

+Khó khăn do ảnh hưởng từ lãi suất:

Hiện nay ,ngân hàng chính sách có nhiều mức lãi suất khác nhau đối với các đối tượng

khác nhau : Mức 0.5%/tháng áp dụng trong cho vay hộ nghèo,cho vay giải quyết việc

làm và cho vay xuất khẩu lao động. Mức lãi suất 0.65% được áp dụng cho vay học sinh

sinh viên .Mặc dù có nhiều mức lãi suất cho vay khác nhau như trên nhưng nóichung lãi

suất cho vay của NHCSXHVN đều rất thấp .Do lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất của các

ngân hàng thương mại do đó để dẫn đến việc lợi dụng vay vốn .Điều này có thể khiến cho

cơng tác xác định các đối tượng vay vốn gặp khó khăn

b , Khó khăn trong việc giúp khách hàng sử dụng vốn hiệu quả .



Khó khăn hiện nay của ngân hàng chính sách là nguồn vốn cho vay các đối tượng,

trong đó có hộ nghèo chưa đáp ứng được yêu cầu, mức cho vay thấp. Theo quy định

mức vay tối đa của chương trình cho vay hộ nghèo là 30 triệu đồng/hộ, nhưng mức

cho vay thực tế mới chỉ đạt 11 triệu đồng/hộ. Vì ngân hàng không chủ động được

nguồn vốn nên việc giải ngân có lúc chậm so với thời vụ. Do hộ nghèo thường thiếu

vốn, thiếu kiến thức và kinh nghiệm nên đầu tư sản xuất, kinh doanh thường để gặp

rủi ro, khả năng thu hồi vốn thường không cao. Phương thức quản lý vốn vay qua ủy

thác là phù hợp với bộ máy gọn nhẹ của ngân hàng chính sách, nhưng mức độ rủi ro

thường cao hơn hình thức trực tiếp quản lý nguồn vốn của các ngân hàng thương

mại...

Trong thực tế có nhiều truờng hợp nguời nơng dân được vay vốn của ngân hàng để

làm kinh tế và có nhiều hộ thốt được đói nghèo nhưng do thời hạn vay vốn không dài

nên sau khi trả vốn cho ngân hàng họ lại rơivào tình trạng nghèo đói. Ðây là một thực tế

đã xảy ra ở rất nhiều địa phương trong cả nước. Nguyên nhân dẫn dến hiện tượng này

một phần là do người nghèo chưa sử dụng vốn có hiệu quả, họ chưa hiểu biết nhiều về

khoa học ki thuật nên chỉ có thể kinh doanh trên quy mơ nhỏ nên hiệu quả đem lại không

lớn. Một số vùng ,các cán bộ ngân hàng sau khi cho người nghèo vay vốn đã có nhiều

SVTH:Nguyễn Hữu Chương –K15QNH7



Trang 22



GVHD:Nguyễn Thị Hạnh

chính sách hỗ trợ họ trong việc sử dụng nguồn vốn đó hiệu quả ,tuy nhiên không phải địa

phương nào cũng giống nhau ,cần phải có những phương thức sản xuất kinh doanh cho

phù hợp với từng vùng miền ,từng thời vụ nên cần có những cán bộ có trình độ cao trong

việc giúp dân sản xuất kinh doanh .

c.Khó khăn trong hoạt động thu hồi vốn

Gặp khó khăn trong việc sử dụng vốn hiệu quả khiến cho nhiều khoản vay không có

khả năng trả nợ .Chính điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thu hồi vốn của ngân

hàng .Những khoản cho vay người nghèo là những khoản vay có khả năng mất vốn khá

cao nếu các cán bộ ngân hàng khơng có những chính sách phù hợp

Đối với các khoản vay cho học sinh sinh viên : Thực tế khoản vay này gây khó khăn

cho ngân hàng trong việc theo dõi thu nợ sau khi học sinh ra trường, rủi ro mất vốn là

khó tránh khỏi. Việc quản lí các đối tượng vay vốn học sinh sinh viên rất khó ,do các đối

tượng vay vốn thường đi xa địa bàn để làm ăn sịnh sống ,ngân hàng không có khả năng

kiểm sốt được khả năng trả nợ của khách hàng

3.2.Những vấn đề bất cập trọng hoạt động cho vay và nguyên nhân dẫn đến những

bất cập.

a, Xuất phát từ phía ngân hàng

Cho vay vốn đối với hộ nghèo còn nhiều bất cập và hạn chế bởi một số cấp chính

quyền địa phương, hội, đồn thể chưa thực sự quan tâm đến công tác cho vay vốn đối với

hộ nghèo. Có nơi còn sợ trách nhiệm khơng kí xét duyệt cho vay hoặc không hương dẫn

hộ nghèo thành lập tổ vay vốn để tiếp cận vốn vay ngân hàng. Còn nhiều tổ chức cho vay

vốn đối với hộ nghèo dẫn dến sự chồng chéo (một hộ nghèo vay ở nhiều nơi) gây khó

khăn trong kiểm tra sử dụng vốn và đánh giá hiệu quả vốn. Một số chủ dự án, tổ truởng tổ

vay vốn còn có biểu hiện thu thêm phí của nguời vay ngồi lãi suất trong hợp đồng tín

dụng kí với ngân hàng. Một số ít truờng hợp chủ dự án, tổ truởng tổ vay vốn thu nợ của

người vay không trả nợ vào ngân hàng mà sử dụng vốn vào mụch đích khác.Nhiều các

khoản nợ quá hạn, nợ khoanh...đến nay khó có khả năng thu hồi vốn.

Đánh giá thực trạng của ngân hàng ta thấy :



SVTH:Nguyễn Hữu Chương –K15QNH7



Trang 23



GVHD:Nguyễn Thị Hạnh

+ Hệ thống đánh giá hộ nghèo và diện chính sách có bất cập, chồng chéo bởi

nhiều cơ quan chức năng khác nhau. Làm cho việc xác định hộ nghèo khơng chính

xác và cơng bằng, gây lãng phí và thất thốt nguồn vốn vào tay những nguời có

chức quyền muốn trục lợi.

+ Phương thức tín dụng rườm rà, hồ sơ, thủ tục cho vay phức tạp, trong khi

người đi vay phần lớn là có trình độ thấp.

+ Lãi suất cho vay không phù hợp. Như lãi xuất khoản vay học sinh sinh viên

tăng lên sau khi ra trường ,thời giạn trả gốc quá ngắn trong khi sinh viên ra trường

gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm các cơng việc ,lãi suất cứ tăng thời hạn sắp

hết nhưng người đi vay lại khơng có khả năng trả nợ cho ngân hàng.

b, Xuất phát từ phía người đi vay

Tuy nhiên khơng phải những bất cập đó chỉ xuất phát từ phía cán bộ ngân hàng mà

còn ẩn chứa bên trong những người đi vay .Nhiều các hộ gia đình ,tuy khơng thuộc

những diện chính sach hay diện nghèo nhưng vẫn vay vốn ,điều này có thể do những

người này lợi dụng những mối quan hệ với các cán bộ trong ngân hàng hay khai báo sai

sự thật trong đơn vay .Mục đích vay của họ khơng phải để sử dụng vào việc giúp gia đình

mình thốt nghèo mà vay vốn đó để sủ dụng vào các mục đích khác như mua sắm hay ăn

chơi ,có nhiều trường hợp còn sử dụng tiền đó để gửi tiết kiệm hoặc mua chứng chỉ có

giá với lãi suất cao hơn để kiếm lời. và không phải những hộ không nghèo mới có tư

tưởng đó ,ngay cả những hộ nghèo sau khi được vay vốn vẫn sử dụng nguồn vốn đó vào

các mục đích khác ,có người khơng muốn thốt khỏi hộ nghèo bởi nếu thốt ra thì họ

khơng còn được nhà nước hỗ trợ nữa ,người ta cứ nghĩ tiền của nhà nước là tiền của

chung không trả cũng khơng sao dẫn đến những người cần hỗ trợ thì không được hỗ trợ

hoặc hỗ trợ không đủ ,những người khơng cần hỗ trợ thì vẫn được hỗ trợ đều đều .

Thực trạng những học sinh chuyển truờng, bỏ học, bị kỉ luật, bị xố tên, bị đình chỉ

và buộc thơi học có vay vốn ngân hàng, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xác dịnh

địa chỉ cư trú của học sinh sinh viên do đó nguy cơ mất vốn là rất lớn. Từ bản thân học

sinh,sinh viên, có nhiều học sinh, sinh viên có ý thức trách nhiệm trả nợ kém, nhiều

SVTH:Nguyễn Hữu Chương –K15QNH7



Trang 24



GVHD:Nguyễn Thị Hạnh

trường hợp coi đây nhu một khoản hỗ trợ của nhà nuớc khơng cần hồn trả, nhất là sau

khi sinh viên ra trừơng ngân hàng không nắm được địa chỉ gây khó khăn cho ngân hàng

trong việc theo dõi thu nợ...Nhiều trường hợp sinh viên không phải vay để sử dụng vào

mục đích trang trải cho q trình học tập mà để mua xe hay để ăn chơi với bạn bè làm

cho khoản vay mất đi tính chất thực của nó là hỗ trợ học tập.

Nguồn vốn của NHCSXHVN chủ yếu dựa vào nhà nước chiếm tỷ trọng lớn,tuy nhiên

chưa thực hiện được chủ trương xã hội hoá nguồn vốn cho vay dối với nguời nghèo. Từ

truớc đến nay, ngân sách nhà nước đã phải bỏ ra hàng trăm tỉ đồng mỗi năm để cấp bù

cho các khoản tín dụng ưu đãi. Hiện nay kinh tế nuớc ta còn rất nhiều khó khăn, rất nhiều

chương trình dự án cấp được ngân sách nhà nuớc hỗ trợ trong khi nguồn này lại q eo

hẹp. Vì vậy dây là vấn đề còn rất nhiều bất cập cần có biện pháp tháo gỡ . Hơn nữa lãi

suất ưu đãi dối với nguời nghèo chỉ có thể hỗ trợ trong thời gian có hạn, khơng thể là

công cụ lâu dài giúp cho người nghèo phát triển được. Bởi vì: việc nâng cao dời sống và

khơng ngừng phát triển đi lên đối với nguời nghèo chỉ có thể dựa vào sự phát triển chung

của nền kinh tế,họ phải tự mình nỗ lực phấn dấu, khơng thể trông chờ ỷ lại vào sự giúp

đỡ của xã hội. Cái chính khơng phải là việc ưu đãi lãi suất bao nhiêu cho nguời nghèo mà

chính là nguời nghèo được giúp đỡ về việc làm, văn hoá,ki thuật… và họ cần vay bao

nhiêu vốn để phát triển sản xuất kinh doanh,tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập để cải

thiện đời sống và trả nợ Ngân hàng.

3.3. Giai pháp và định hướng hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

Những kết quả đạt được trong thời gian qua của ngân hàng chính sách xã hội việt nam

là rất lớn, nhưng khó khăn lớn nhất đã và đang đặt ra cho NHCSXHVN là cơ chế tạo

nguồn vốn, về cơ bản chưa có tính ổn định lâu dài; cơ cấu nguồn vốn hiện nay vẫn còn bị

động và chắp vá. Mặt khác, đối tượng phục vụ Nhà nước giao cho NHCSXHVN ngày

càng mở rộng, nhưng việc bố trí vốn có hạn, tạo nên khoảng cách lớn giữa cung và cầu,

dẫn tới bị động cho các cơ quan quản lý Nhà nước và ngân hàng. Ngân hàng chính sách

xã hội việt nam cần đạt được mục tiêu là phát triển theo hướng ổn định bền vững, đảm

bảo thực hiện tốt chính sách tín dụng ưu đãi của nhà nước.Nhằm đạt được mục tiêu đề ra



SVTH:Nguyễn Hữu Chương –K15QNH7



Trang 25



GVHD:Nguyễn Thị Hạnh

NHCSXHVN cần có những điều chỉnh hợp lí trong quy trình tổ chức cho vay và cách

thức hoạt động của ngân hàng.

a. Giải pháp về tổ chức, bộ máy NHCSXHVN:

Thứ nhất: NHCSXHVN và các tổ chức liên quan cần thực hiện kiểm tra, đánh giá lại

vốn, tài sản và các khoản nợ đã cho các đối tuợng chính sách vay ưu đãi, nay thuộc dối

tượng vay vốn của NHCSXH, để xác định rõ số vốn và tài sản đã bị tổn thất; căn cứ vào

đó để cân đối tài lực đề ra các phương án vốn điều lệ cho NHCSXHVN

Thứ hai: NHCSXHVN cần phối hợp chặt chẽ với các chính quyền địa phương nhanh

chóng triển khai hệ thống tổ chức bộ máy, nhân sự từ trung ương đến địa phương, đảm

bảo việc cho vay hộ nghèo thuận lợi. Ðồng thời NHCSXHVN cần khuyến khích mở tài

khoản tiền gửi đốivới nhiều tổ chức và doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi.

Thứ ba: Ðể dảm bảo an toàn và phục vụ đúng đối tượng, ngoài những quy dịnh của

luật pháp và Ðiều lệ, NHCSXHVN cần hoàn thiện và mở rộng hệ thống các tổ vay vốn ở

cơ sở cho phù hợp với đối tượng vay vốn mới của ngân hàng.

Thứ tư: Chấn chỉnh bổ sung các quy định về tổ chức hoạt động của các bộ phận chức

năng , nhằm nâng cao quyền hạn, trách nhiệm đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Ðồng thời

triển khai hoạt dộng của NHCSXHVN tạicác địa bàn tỉnh, huyện mới, vùng sâu vùng xa

chưa có phòng giao dịch.

Thứ năm: Ðổi mới cơng tác quản lý và điều hành trong toàn hệ thống theo hướng

phân cấp, phân quyền, giảm cấp trung gian, thực hiện chế độ quản lý dân chủ từ cơ sở

nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp .Tiến hành nâng cao năng lực quản lí của hệ thống



ngân hàng của những nguời điều hành, lựa chọn những cán bộ có năng lực chun

mơn và đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nguời nghèo

Thứ sáu: Tập trung sức nâng cao năng lực tài chính cho NHCSXHVN để đáp ứng

ngày càng tốt hơn nhu cầu vay vốn của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, đồng

thời nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng.

Thứ bảy: Tăng cuờng cơ sở vật chất cho NHCSXH, bởi dây là điều kiện và phương

tiện hoạt động, đảm bảo an toàn và thuận lợi.

b, Giải pháp về hoạt dộng

SVTH:Nguyễn Hữu Chương –K15QNH7



Trang 26



GVHD:Nguyễn Thị Hạnh

Thứ nhất: Chính phủ cần cấp bổ sung vốn điều lệ và vốn các chương trình chỉ định

để nâng tỷ trọng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, phù hợp với mức độ tăng trưởng tín

dụng hằng năm; có chính sách khuyến khích các tổ chức tài chính, tín dụng đóng góp vào

nguồn vốn tín dụng chính sách...; tạo điều kiện cho NHCSXHVN được tiếp nhận các

khoản vốn vay ưu đãi trong và ngoài nước nhằm tăng cường nguồn vốn vay hỗ trợ do

nhu cầu vay vốn hiện nay lớn hơn mức cho vay quy dịnh,

Thứ hai: Đối với khoản vay cho học sinh sinh viên cần :

-Để Chương trình tín dụng HSSV phát huy hơn nữa tính nhân văn, ý nghĩa xã hội, cần

có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, ngân hàng, địa phương và các tổ chức xã hội để

nắm bắt được con số HS, SV được vay , việc sử dụng vốn có đúng mục đích học tập hay

khơng. Tiến hành chuyển cho vay trực tiếp đối với học sinh, sinh viên sang cho vay thơng

qua hộ gia đình để đảm bảo khả năng trả nợ. Mặt khác cũng cần điều chỉnh chính sách

ưu đãi về lãi suất đối với học sinh sinh viên , có những ưu đãi và linh hoạt hơn trong việc

thu hồi vốn vay của sinh viên cho phù hợp với từng đối tương ,vùng miền khác nhau.

- Mức cho vay 10.000.000đồng/HSSV/năm hiện nay khơng còn phù hợp nữa , số tiền

này chỉ đáp ứng đủ cho việc đóng học phí, trong khi đó còn nhiều khoản chi phí khác mà

mỗi HSSV cần có để đảm bảo chi phí cho học tập, sinh hoạt với tình hình thực tế về mức

chi phí trong qúa trình học tập; khi mà học phí ở các trường tăng lên và giá cả thị trường

có biến động, vì vậy cần tăng mức cho vay để đảm bảo nhu cầu trang trải chi phí học tập

và sinh hoạt cho HSSV.

Thứ ba: Có cơ chế xử lý rủi ro triệt để cho người nghèo vay vốn khi gặp rủi ro bất

khả kháng. Ðiều đó có nghĩa khi những đối tượng vay vốn gặp phải thiên tai nặng nề, ốm

đau kéo dài, tai nạn lao động, thiệt hại về nguời... thì Chính phủ nên xố nợ cho họ tạo

diều kiện cho họ tiếp tục vươn lên. Ngược lại đối với cá đối tượng kinh doanh không hiệu

quả hay sử dụng vốn sai mục đích thì cần có các chính sách hỗ về kĩ thuật giúp người dân

sử dụng vốn hiệu quả .Trước khi hỗ trợ thêm vốn cho người dân cán bộ ngân hàng cần

kiểm tra tính hiệu quả của khoản vay trước nhằm tránh tủi ro mất vốn cho ngân hàng.

Thứ tư : Tăng cường công tác kiểm tra kiểm tốn nội bộ trong tồn hệ thống. Chú

trọng đào tạo bồi dưỡng và quản lý cán bộ đội ngũ cán bộ chuyên trách làm nghiệp vụ.

SVTH:Nguyễn Hữu Chương –K15QNH7



Trang 27



GVHD:Nguyễn Thị Hạnh

.Ðặc biệt, ngoài việc đào tạo kiến thức chuyên môn cần chú trọng giáo dục đạo đức nghề

nghiệp, phong cách giao tiếp, tiếp xúc với khách hàng.Bên cạnh đó cần đẩy mạnh cơng

tác kiểm tra hoạt động tại các chi nhánh trong cả nước để kịp thời phát hiện và chấn

chỉnh sửa chữa sai sót trong thực tiễn điều hành

Thứ năm: NHCSXHVN cần xây dựng một hệ thống mới về đánh giá mức dộ



nghèo đói và nhu cầu cấp phát tín dụng. Hệ thống đó phải khách quan, chặt chẽ,

không bị ảnh huởng bởi các cơ quan chức năng khác. Tiến hành kiểm tra giám sát

quá trình tổ chức thực hiện, khơng nên giao tồn bộ trách nhiệm này cho chính quyền địa

phương như thời gian vừa qua ở một số địa phương, đảm bảo nguồn vốn được chuyển

tới dúng đối tượng cần vay.

Thứ sáu: Chính quyền địa phương cần phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng chính

sách xã hội việt nam trong việc hỗ trợ người nghèo sử dụng các nguồn vốn .Giúp người

dân phấn đấu để nhanh chóng xố đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu cho mình và cho

đất nuớc: góp phần thựchiện mục tiêu “dân giàu, nuớc mạnh, xã hội công bằng, van

minh”

Thứ bảy : Thực hiện các chính sách cho vay với quy mô phù hợp, dựa vào

thực tiễn địa phương, đi sâu vào tình hình dời sống nguời nghèo . Tăng cường tuyên

truyền để người dân thuộc đối tượng hiểu rõ được mục đích chương trình. Nghiên cứu,

cải tiến quy trình thủ tục hành chính giúp hộ vay vốn làm thủ tục thuận lợi . Tăng cường

công tác kiểm tra, giám sát đối tượng xin vay, đối tượng được vay và việc sử dụng mục

đích tiền vay, hiệu quả tín dụng



Thứ tám : Thực hiện song song các chính sách về van hoá, y tế, giáo dục cho

nguời nghèo, giúp họ khơng chỉ thốt nghèo về kinh tế mà còn thoát nghèo về nhận

thức.Áp dụng các quan điểm tiến bộ và sáng tạo.



SVTH:Nguyễn Hữu Chương –K15QNH7



Trang 28



GVHD:Nguyễn Thị Hạnh



KẾT LUẬN

Hoạt động của Ngân Hàng chính sách xã hội là khơng thể thiếu đối với một nước xã

hội như Việt Nam .Nhà nước ta luôn đặt người dân lên hàng đầu tạo điều kiện tốt nhất

cho mọ người dân ,bởi vì đó chính là tình đồn kết gắn bó chia sẽ khó khăn của người

việt chúng ta và nó ln là đức tính tốt của người việt chúng ta .Với những chính sách hỗ

trợ người nghèo của nhà nước thong qua ngân hàng chính sách đã giúp người dân ổn định

cuộc sống ,tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế xã hội trong những năm qua của

ngân hàng chính sách đã góp phần rất nhiều trong cơng cuộc đổi mới đất nước .Nhà nước

đã và đang rất tích cực làm cho đất nước ta khơng còn những người nghèo ,người khơng

có việc làm ,từ những khoản vay nhỏ được vay thơng qua hoạt dộng của Ngân Hàng

Chính Sách Xã Hội Việt Nam những người dân nghèo đã và đang từng bước ổn định lại

cuộc sống và tạo nên thu nhập cho bản thân .Trong công cuộc đổi mới đất nước ,nhà

nước ta đã đạt được rất nhiều những thành tựu lớn trong cơng tác quản lí và đất nước ta

sau bao năm đổi mới với công cụ là ngân hàng chính sách xã hội được đặt khắp cả nước

để hỗ trợ người nghèo ,người có hồn cảnh khó khăn đã làm cho đất nước ta giàu mạnh

khơng ngừng .Nhìn lại sự thay đổi của đất nước ta nhận thấy những hộ gia đình nghèo

hầu như đã giảm đáng kể ,Chúng ta khơng còn nhìn thấy những người lang thang khơng

có việc làm ,đó chính là những thành quả lớn trong cơng tác hoạt động của Ngân hàng

Chính Sách xã hội Việt Nam .Tuy nhiên đi đôi với những thành quả đạt được qua chặng

đường phát triển đất nước chúng ta cũng nhận thấy rằng trong hoạt động của ngân hàng

chính sách xa hội việt nam còn nhiều bất cập đã và đang ảnh hưởng đến hoạt động của

Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam .Vì vậy chính các ngân hàng chính sách sách xã

hội Việt nam hay các cơ quan quản lí cấp trên hiện nay cần có những thay đổi trong cơ

chế chính sách hỗ trợ người nghèo ở nước ta ,cần có những biện pháp sử lí phù hợp với

SVTH:Nguyễn Hữu Chương –K15QNH7



Trang 29



GVHD:Nguyễn Thị Hạnh

những hành động gây ảnh hưởng đến các chính sách hỗ trợ người nghèo đúng với các

tiêu chí đề ra của đảng và nhà nước ta .Từ đó sẽ góp phần làm những người nghèo có

được cơ hội hỗ trợ từ nhà nước ,có như vậy thì nhà nước của chúng ta mới phát triển

mạnh được ,Ngân hàng chính sách mới chính là chỗ dựa vững chắc đối với người nghèo

được.

Thơng qua việc phân tích tìm hiểu về thực trạng hoạt động của Ngân hàng chính sách

xã hội Việt Nam giúp chúng ta hiểu hơn về cơ chế hoạt động của một ngân hàng chính

sách ,thấy được ưu điểm cũng như nhược điểm của nó từ đó giúp chúng ta có những biện

pháp nhằm ngăn chặn hay khắc phục những nhược điểm đó .Đó cũng chính là một việc

góp phần hỗ trợ những người nghèo .

Tài liệu tham khảo :

Các trang web :

http://tailieu.vn/

http://www.vbsp.org.vn/

Báo cáo thường niên : 2010 của ngân chính sách xã hội việt nam

Bản tin số 60 :10/2010 của ngân hàng chính sách xã hội việt nam

http://taichinh2a.com

http://sinhviennganhang.com/



SVTH:Nguyễn Hữu Chương –K15QNH7



Trang 30



GVHD:Nguyễn Thị Hạnh



MỤC LỤC



SVTH:Nguyễn Hữu Chương –K15QNH7



Trang 31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1Thực trang và những khó khăn trong hoạt động cho vay của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam hiện nay.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×