Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

CHƯƠNG I: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hộ sản sản xuất kinh doanh hoạt động trong nhiều ngành nghề, trong

nhiều lĩnh vực. Các hộ sản xuất kinh doanh này đa dạng, kết hợp với trồng

trọt chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề.

Kết quả sản xuất kinh doanh còn phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện tự n

hiên, ngoài sự lỗ lực áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất

kinh doanh.

Lao động của hộ sản xuất kinh doanh thường là lao động thủ công cần

nhiều lao động và chủ yếu là lấy công làm lãi.

1.4. Vai trò của hộ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

Người dân Việt Nam từ xưa đến nay vốn có lòng u nước cần cù, sáng

tạo trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Họ đã tạo ra khối lượng của cải

vật chất vô cùng lớn như các mặt hàng cây công nghiệp, nông nghiệp, lương

thực, thực phẩm phục vụ cho cuộc sống trong nền kinh tế thị trường.

Hộ sản xuất kinh doanh là những người trực tiếp áp dụng những thành

tựu khoa học kỹ thuật của ngành cơng nghiệp, nơng nghiệp, sinh học, hố

chất và đã tạo ra những sản phẩm mới, nâng cao thu nhập mức sống cho chính

bản thân họ và từng bước đổi mới bộ mặt kinh tế xã hội.

Hộ sản xuất kinh doanh là một thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm

của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, sinh học, hoá học thúc đẩy việc tăng

năng suất lao động và thu nhập, tạo ra sự phát triển cân đối nhịp nhàng nền

kinh tế thị trường của đất nước.

- Hộ sản xuất là người thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong xã

hội, tạo ra sự phát triển toàn diện trong công nghiệp, nông nghiệp và trong các

lĩnh vực khác.

- Hộ sản xuất và kinh doanh góp phần cải tạo và bảo vệ môi trường

sinh thái ở mỗi vùng của đất nước, khai thác tài nguyên thiên nhiên có trên

mỗi vựng ú.



Trần Huy Trờng



Ngân hàng 46C



1.5. Xu hng phỏt trin của hộ sản xuất kinh doanh

Để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong một đất nước Đảng và

chính sách như ta ln ln khuyến khích sự phát triển của các thành phần

kinh tế trong đó có kinh tế hộ sản xuất kinh doanh. Để có được những biện

pháp, chính sách phù hợp, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất kinh

doanh phát triển một cách nhanh chóng. Chúng ta cần hiểu được xu hướngn

phát triển của kinh tế hộ sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.

Có 3 xu hướng phát triển chính.

+ Xu hướng phát triển không đồng đều giữa các hộ sản xuất kinh

doanh.

Trong nền kinh tế thị trường hộ nào có mình quản lý, có vốn, có sức lao

động,có điều kiện kỹ thuật thì họ đó sẽ nhanh chóng phát triển. Những hộ này

sẽ nhanh chóng chuyển sang sản xuất hàng hố và trở thành chủ thể sản xuất

khá độc lập ngược lại những hộ sản xuất nào không đủ các yếu tố trên thì sẽ

gặp rất nhiều khó khăn trong q trình sản xuất kinh doanh và sẽ trở thành

những lao động làm thuê. Như vậy, việc chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế từ tập

trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường một mặt làm tăng số hộ giàu,

mặt khác cũng làm tăng sự phân cách giữa các hộ giàu và các nghèo ở nước

ta. Mặt khác xu hướng vận động này làm cho q trình tích tụ và tập trung

vốn diễn ra càng nhanh chóng và rõ nét, xuất hiện nhiều nhiều các nơn trại gia

đình với quy mô ngày càng lớn.

+ Xu hướng phát triển đa đạng các loại hình, các quy mơ sản xuất.

Tuỳ thuộc vào khả năng về vốn, lao động điều kiện tự n hiên các hộ sản

xuất sẽ lựa chọn đối tượng, phương án sản xuất kinh doanh, quy mơ sản xuất

sao có hiệu quả nhất. Nhờ vậy và kinh tế hộ sản xuất kinh doanh phát triển đa

dạng, các hộ có kinh nghiệm, có ruộng đất, khơng đủ điều kiện về vốn, kỹ

thuật sẽ tập trung vào việc trồng lúa hoặc một s loi cõy trng, vt nuụi



Trần Huy Trờng



Ngân hàng 46C



chớnh như hoa quả, lợn, gà, trâu, bò…Đối với những hộ có đủ điều kiện vốn,

lao động, kỹ thuật thì tổ chức sản xuất kinh doanh tổng hợp kết hợp giữa

trồng trọt và chăn nuôi với kinh doanh ngành nghề phụ.

+ Xu hướng liên doanh, liên kết, hợp tác trong quá trình sản xuất.

Để tồn tại và phát triển được trong cơ chế thị trường, các hộ sản xuất

kinh doanh phải liên kết lại với nhau, hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau để nâng

khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và trên thế giới. Chính sự liên

kết hợp tác đó đã tạo ra các hình thức hợp tác mới. Sự liên doanh, liên kết hợp

tác giữa các hộ sản xuất kinh doanh không đồng nghĩa với việc tập trung sản

xuất những đơn vị nhỏ thành xí nghiệp, hợp tác xã mà là hợp tác để tăng sức

mạnh của từng đơn vị sản xuất. Các hộ sản xuất hợp tác mà khơng thâu tóm,

triệt tiêu lẫn nhau mà chỉ hợp tác những phần việc thực hiện khơng có hiệu

quả khi trình độ sản xuất phát triển, có nhiều vấn đề hộ sản xuất không tự giải

quyết được như thông tin thị trường, khoa học cơng nghệ, do đó sự phát triển

của kinh tế hộ đòi hỏi tất yếu phải hình thành các hình thức hợp tác kinh tế

mới.

2. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH



2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ giữa ngân hàng và các khách hàng

là các doanh nghiệp và các cá nhân hộ gia đình thực hiện bởi nghiệp vụ huy

động tiền gửi, cho khách hàng vay và tài trợ thuê mua.

2.2. Đặc điểm tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng có các đặc điểm sau:

+ Tín dụng ngân hàng là tín dụng bằng tiền, không bị hạn chế về không

gian và địa lý.

+ Bằng nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu thương phiếu tín dụng

ngân hàng đã tạo ra sự gắn bó chặt chẽ và tạo điều kiện cho tín dụng thương



TrÇn Huy Trờng



Ngân hàng 46C



mi phỏt trin giỳp cỏc i tỏc cú thương phiếu có nhu cầu về tiền của mình

một cách thuận lợi.

+ Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế toàn cầu và sự

phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã tạo tièn đề cho việc pt các kỹ

thuật nghiệp vụ tín dụng ngân hàng.

2.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất kinh doanh

Tín dụng Ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển

kinh tế xã hội nói chung và hộ sản xuất kinh doanh nói riêng. Nhờ có tín dụng

ngân hàng mà các hộ sản xuất kinh doanh có điều kiện để đầu tư pt thúc đẩy

nhanh q trình tích luỹ vốn, đẩy nhanh q trình đổi mới cơng nghệ, phan

cơng lao động, giúp cho việc khai thác các nguồn lực có hiệu quả. Nhờ có tín

dụng ngân hàngn mà kinh tế hộ sản xuất kinh doanh pt góp phần vào tăng thu

nhập cho kinh tế hộ gia đình, đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền

kinh tế, góp phần thực hiện các mục tiêu cơng bằng xã hội, xố đói giảm

nghèo cũng nhờ có tín dụng ngân hàng mà các hộ sản xuất kinh doanh có điều

kiện phát huy tiềm năng thế mạnh tạo ra sự chuyên môn trong sản xuất tạo ra

hàng hố có chất lượng cao, góp phần thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát

triển; giúp cho mọi người có điều kiện tiếp cận với hàng hố chất lượng, cải

thiện cuộc sống, tăng thu nhập, cũng chính nhờ có tín dụng ngân hàng mà hộ

sản xuất kinh doanh phát huy được tính tự chủ năng động, sáng tạo trong sản

xuất kinh doanh.

3. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH



3.1. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất kinh doanh

- Khái niệm: Chất lượng tín dụng là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư

tín dụng của ngân hàgn đối với khách hàng.

- Sự cần thiết phải nâng cao chất lng tớn dng h sn xut kinh

doanh.



Trần Huy Trờng



Ngân hàng 46C



Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng tín dụng có ý nghĩa sống còn

đối với ngân hàng. Vì trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt một mất, một còn,

thì vấn đề chất lượng tín dụng ln ln phải được ngân hàng quan tâm đặt

lên hàng đầu để trụ vững trong một bối cảnh thương trường cạnh tranh khốc

liệt nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu lại đang chuyển dần sang

hoạt động theo cơ chế thị trường cho nên trong bối cảnh đó chất lượng tín

dụng đối với hộ sản xuất kinh doanh đáng là một vấn đề khá mới mẻ và hấp

dẫn đối với ngân hàng.

3.2. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất kinh

doanh

+ Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với

việc phát triển.

Vốn cho một hộ

được vay



=



Doanh số cho vay hộ sản xuất

Tổng số hộ sản xuất kinh doanh



Chỉ tiêu này phản ánh số vốn mà mỗi hộ sản xuất được vay từ ngân

hàng. Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất được coi là có hiệu quả khi

doanh số cho vay cao, số hộ được vay nhiều và số tiền vay trên mỗi hộ lớn.

+ Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư tín dụng cho hộ

sản xuất.

Dư nợ cho vay bình quân

Hiệu suất sử

=

x 100

dụng vốn

Nguồn vốn huy động bình qn

Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất kinh doanh được

coi là hiệu quả khi hiệu suất sử dụng vốn cao, hợp lý, an tồn.

Vòng quay



Doanh số thu nợ trong kỳ

Dư nợ bình qn trong kỳ

vốn tín dụng

Khi vòng quay vốn tín dụng càng lớn, thì việc sử dụng

=



vốn vay của hộ sản xuất kinh doanh có thể thấy được vốn đầu

tư có cùng đối tượng và đạt hiu qu cao hay khụng.



Trần Huy Trờng



Ngân hàng 46C



Doanh s thu nợ hộ sản xuất kinh doanh

x 100

Doanh số cho vay hộ sản xuất

Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tín dụng ngân hàng



Tỷ lệ thu nợ



=



đối với hộ sản xuất kinh doanh. Tín dụng ngân hàng được coi

là có hiệu quả khi doanh số cho vay cao và tỷ lệ thu nợ hợp lý,

hạn chế bởi rủi ro.

Tỷ lệ nợ xấu =



Dư nợ quá hạn hộ SXKD

Tổng dư nợ cho vay hộ SXKD



x 100



Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả tín dụng ngân

hàng đối với hộ sản xuất kinh doanh. Hoạt động tín dụng ngân hàng nói

chung, tín dụng hộ sản xuất kinh doanh nói riêng chứa đựng nhiều rủi ro là

một thách thức đối với sự tồn tại của ngân hàng, đặc biệt là trong nền kinh tế

thị trường hiện nay. Do đó việc thu hồi vốn (gốc, lãi) đúng hạn là hết sức quan

trọng và là yếu tố quyết định hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất

kinh doanh. Vì vậy tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp càng tốt, chứng tỏ hoạt động tín

dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao.

- Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay hộ sản xuất kinh doanh hàng năm.

Tổng dư nợ cho vay hộ sản xuất năm sau lớn hơn năm trước được coi

là một chỉ tiêu phản ánh việc mở rộng tín rộng đối với hộ sản xuất.

Như vậy, chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất kinh

doanh là một chỉ tiêu tổng hợp được xác định qua nhiều yếu tố, nó là kết quả

q trình kết hợp hoạt động giữa những người trong một tổ chức, giữa những

người trong một tổ chức, giữa người tổ chức với nhau vì một mục đích chung

là cùng tồn tại và phát triển không ngừng.

3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Ngân hàng trong cơ

chế thị trường

Tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng nước, từng ngân

hàng thương mại mà có những mức độ ảnh hưởng khỏc nhau n chtlng



Trần Huy Trờng



Ngân hàng 46C



tớn dng. Cú thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng thành hai

loại các nhân tố bên ngồi (nhân tố khách quan) và các nhân tố bên trong

(nhân tổ chủ quan).

+ Các nhân tố bên ngoài:

- Nhân tố kinh tế:

Nền kinh tế ổn định làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của các

doanh nghiệp tiến hành bình thường không bị ảnh hưởng tới các yếuu tố lạm

phát, khủng hoảng, làm cho khả năng tín dụng và khả năng trả nợ vay không

biến động lớn trong trường hợp này chất lượng tín dụng phụ thuộc chủ yếu

vào khả năng quản lý chất lượng tín dụng của bản thân các ngân hàng thương

mại.

Để xã hội tồn tại và phát triển, đòi hỏi nền kinh tế phải có sự tăng

trưởng và phát triển. Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, một số nước đã sử

dụng mức lạm phát vừa phải để tăng trưởng kích thích đầu tư. Lúc này giới

hạn của mở rộng qui mơ tín dụng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng.

Nếu mở rộng quá giới hạn cho phép sẽ làm giá cả tăng quá mức, dẫn đến lạm

phát phi mã và siêu lạm phát, các ngân hàng thương mại sẽ chịu thiệt thòi lớn

do đồng tiền mất giá, chất lượng tín dụng bị giảm thấp.

Các chính sách của nhà nước về ưu tiên hay hạn chế sự phát triển của

một lĩnh vực, một ngành hay để hạn chế tác động tiêu cực, một ngành hay để

hạn chế tác động tiêu cực như ô nhiễm môi trường, đảm bảo sự phát triển cân

đối trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng.

Hoạt động tín dụng là hoạt động "đi vay để cho vay" nên chất lượng tín

dụng còn phụ thuộc vào cơng tác huy độngvốn và cho vay vốn hay đó chính

là phụ thuộc vào chất lượng khác hàng.

Tín dụng là cầu nối giữa hoạt động kinh doanh của ngân hàng với hoạt

động sản xuất kinh doanh của dịch vụ các ngành trong nn kinh t. Do ú mi



Trần Huy Trờng



Ngân hàng 46C



biểu hiện xấu hay tốt trong hoạt động kinh doanh của khách hàng sẽ có ảnh

hưởng tương ứng tới hoạt động tín dụng thơng qua mối quan hệ tín dụng.

Với khách hàng sản xuất kinh doanh có lãi có xu thế phát triển, có khả

năng mở rộng thị trường có mối quan hệ tín dụng (vay trả sòng phẳng thì cầu

nói giữa ngân hàng và khách hàng (giữa đi vay và cho vay) sẽ thơng suốt, tạo

điều kiện tăng vòng quay vốn tín dụng và mở rộng quy mơ đầu tư. Ngược lại

bằng cơ chế chính sách tín dụng phù hợp, phương pháp phân tích kinh tế

doanh nghiệp khoa học, phù hợp với đặc điểm tín dụng Ngân hàng, các ngân

hàng thương mại sẽ tìm được khách hàng tốt để vay và cho vay. Từ đó sẽ tạo

ra sự tương thích hợp, hợp lý giữa nguồn vốn huy động được với việc đáp ứng

nhu cầu vay vốn của khách hàng chu kỳ phát triển cũng có tác động lớn đến

hoạt động tín dụng. Trong giai đoạn nền kinh tế bị suy thối, hoạt động sản

xuất bị thu hẹp thì hoạt động tín dụng cũng bị gặp khó khăn nhu cầu về vốn

giảm, khách hàng được cấp tín dụng khó có khả năng sử dụng có hiệu quả và

trả nợ đúng hạn. Ngược lại, trong giai đoạn về nền kinh tế hưng thịnh, nhu

cầu vốn tín dụng tăng nhưng cũng có thể xảy ra tình trạng đầu cơ tích trữ do

chạy đua trong kinh doanh làm cho nhu cầu vốn tín dụng tăng lên cao. Từ đó

sẽ dễ gây ra việc khó hồn trả vốn nếu sản xuất kinh doanh khơng có kế

hoạch.

Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với lợi nhuận của các doanh

nghiệp cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Bởi lẽ nếu lãi suất ngân hàng

cao hơn lợi nhuận của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ mất khả năng trả nợ.

Như vậy chất lượng tín dụng sẽ bị ảnh hưởng và mất khả năng là đòn bẩy thúc

đẩy sản xuất pt.

- Nhân tố xã hội:

Những nhân tố xã hội có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đó là:

người gửi tiền, người vay tiền và ngõn hng.



Trần Huy Trờng



Ngân hàng 46C



S tớn nhim ca ngi gửi tiền với ngân hàng có ý nghĩa rất quan

trọng. Nó sẽ góp phần làm tăng và ổn định nguồn huy động vốn của ngân

hàng. Từ đó mà có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng.

Còn dưới giác độ của người vay tiền thì việc được đáp ứng nhu cầu vay

vốn với một thời hạn và mức lãi suất hợp lý cùng với một thái độ phục vụ tận

tình chu đáo sẽ làm nên một chất lượng tín dụng tốt.

Chất lượng tín dụng của ngân hàng sẽ phụ thuộc vào uy tín, trình độ

quản lý, nguồn vốn tự có, khả năng huy động, mạng lưới hoạt động, khả năng

tạo tiền của bản thân ngân hàng thương mại…

Ngoài các yếu tố trên, chất lượng tín dụng ngân hàng còn phụ thuọc

vào nhiều yếu tố khác như rủi ro đạo đức trình độ dân trí sự biến động của

tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngồi nước.

- Nhân tố pháp lý:

Những nhân tố pháp lý có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng bao gồm

tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ thống nhất của các văn bản

dưới luật, gắn liền với quá trình chấp hành pháp luật và trình độ dân trí pháp

luật có một ý nghĩa vơ cùng quan trọng trong quan hệ kinh tế. Pháp luật mà

thơng thống sẽ tạo điều kiện mở đường cho kinh tế phát triển làm cho hoạt

động tín dụng được mở rộng và nâng cao thúc đẩy phát triển. Nhưng ngược

lại pháp luật mà không phù hợp với sự phát triển của kinh tế sẽ gây khó khăn

kém làm kinh tế từ đó sẽ làm cho hoạt động tín dụng cũng bị ảnh hưởng.

+ Các nhân tố bên trong:

- Chính sách tín dụng:

Chính sách tín dụng là nhân tố quyết định then chốt sự thành bại của

ngân hàng. Một chính sách hợp lý đúng đắn phải đảm bảo được các mục tiêu

như tăng khả năng sinh lời; hạn chế rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính

sách của Đảng và nhà nước. Do vậy ngân hng mun cht lng tớn dng tt



Trần Huy Trờng



Ngân hàng 46C



thì phải tạo ra một chính sách tín dụng rõ ràng, hợp lý và phù hợp để phát huy

mọi nguồn lực, tận dụng thời cơ.

- Quy trình tín dụng:

Quy trình tín dụng là những cơng đoạn cần phải thực hiện để đảm bảo

mục tiêu của ngân hàng là an toàn vốn. Nó bao gồm các cơng đoạn từ tiếp

nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng, thẩm định các điều kiện vay vốn, giải

ngân, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay cho tới khi thu hồi nợ. Trong quá

trình này khâu thẩm định đòi hỏi nhân viên thẩm định phải có một sự am hiểu

về kinh tế xã hội và phải biết vận dụng các kỹ thuật tính tốn và so sánh đồng

thời phải nắm bắt cả diễn biến kinh tế xã hội, chính trị của khu vực và thế giới

cơng đoạn kiểm tra giúp cho ngân hàng có thể nắm bắt tình hình sử dụng vốn

vay có đúng mục đích hay kơng để từ đó có những can thiệp kịp thời hạn chế

rủi ro.

Công tác thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng là một trong những khâu

quan trọng quyết định sự tồn tại của ngân hàng. Do vậy Ngân hàng phải tích

cực đơn đốc thu nợ, phát hiện và có biện pháp xử lý chính xác, kịp thời những

trường hợp bất lợi để giảm thiểu nợ quá hạn, nâng cao chất lượng tín dụng.

Chất lượng tín dụng có đảm bảo hay khơng tuỳ thuộc vào việc thực

hiện tốt hay không những quy định ở từng bước và sự phối hợp nhịp nhàng,

chặt chẽ giữa các bước trong quy trình.

- Thơng tin tín dụng: thơng tin tín dụng có vai trò quan trọng trong

quản lý chất lượng tín dụng. Nhờ có thơng tin tín dụng mà người quản lý có

thể đưa ra những quyết định cần thiết có liên quan đến cho vay, quản lý theo

dõi và thu nợ thơng tin tín dụng được thu thập từ nhiều nguồn có thể có thơng

tin sẵn có trong ngân hàng (hồ sơ cho vay, thông tin từ trung tâm CIC của

ngân hàng nhà nước, giữa các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng). Từ

khách hàng, từ các cơ quan thơng tin trong và ngồi nước…chất lượng thơn



TrÇn Huy Trờng



Ngân hàng 46C



tin thu c cú liờn quan n mc độ chính xác của việc phân tích, xem xét

thị trường, khách hàng…để đưa ra các quyết định đúng. Do vậy thơng tin

càng đầy đủ, kịp thời, chính xác, tồn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro

trong hoạt động tín dụng càng lớn, chất lượng tín dụng càng được nâng cao.

- Kiểm tra kiểm toán nội bộ.

Kiểm tra kiểm toán nội bộ là một biện pháp giúp cho Ban lãnh đạo

Ngânhàng có những thơng tin về thực trạng kinh doanh tín dụng, từ đó duy trì

có hiệu quả các hoạt động kinh doanh đang vận hành phù hợp với các chính

sách, đạt được những mục tiêu đã định.

Trong lĩnh vực tín dụng, cơng tác kiểm tra kiểm tốn nội bộ gồm:

- Kiểm sốt cính sách tín dụng: hồ sơ, thủ tục cho vay, quyền phán

quyết, quản lý và giám sát các khoản vay.

- Kiểm tra định kỳ hoặc thường xuyên do kiểm tra viên nội bộ thực

hiện, báo cáo những vi phạm chính sách, hồ sơ hay kiểm sốt hạch tốn kế

tốn và các nghiệp vụ có liên quan đến tình hình cho vay, thu nợ.

Việc phát hiện kịp thời những sai sót, vi phạm trong q trình thực hiện

những khoản tín dụng và đề ra biện pháp khắc phục từ đó cũng làm ảnh

hưởng đến chất lượng tín dụng.

Do vậy trong hoạt động của mình các ngân hàng thương mại cần phải

quan tâm đến công tác kiểm tra kiểm tốn nội bộ, đồng thời cũng phải có sự

bố trí hợp lý bộ máy làm việc, cán bộ phải giỏi nghiệp vụ, trung thực, có

chính sách thưởng phạt nghiêm minh cả về hành chính và vật chát.

- Cơng tác tổ chức - chất lượng cán bộ của ngân hàng.

Cũng như quá trình sản xuất kinh doanh của các ngành nghề khác, con

người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng và

hoạt động ngân hng.



Trần Huy Trờng



Ngân hàng 46C



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×