Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.2: Các tỷ số về khả năng cân đối vốn từ năm 2008 đến 2010

Bảng 3.2: Các tỷ số về khả năng cân đối vốn từ năm 2008 đến 2010

Tải bản đầy đủ - 0trang

(Đơn vị: triệu đồng)

Chỉ tiêu

1. Nợ

2. Vốn chủ sở hữu

3. Tài sản ngắn hạn

4. Tài sản

5. Tổng nguồn vốn

Tỷ số Nợ (1/4)

Tỷ số cơ cấu nguồn vốn (2/5)

Tỷ số nợ vốn cổ phần (1/2)

Tỷ số cơ cấu tài sản (3/4)



Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

5.446

7.530

8.682

3.722

4.177

5.585

8.233

10.838

13.412

9.168

11.707

14.267

9.168

11.707

14.267

0,594

0,643

0,609

0,406

0,357

0,391

1,463

1,803

1,555

0,898

0,926

0,940

(Nguồn: Phòng tài chính Cơng ty)



Như vậy, theo những tính tốn trờn thỡ

Tỷ số Nợ của công ty là rất cao và ngày càng tăng, cụ thể năm 2008 tỷ

số này là 0,594 đến năm 2009 tăng lên 0,643, và năm 2010 là 0,689. Tỷ số Nợ

cao chứng tỏ tài sản của công ty chủ yếu được tài trợ bằng Nợ. Năm 2010, cứ

1 đồng tài sản thỡ cú tới 0,689 đồng được tài trợ bằng Nợ trong khi tồn bộ

nợ của cơng ty là Nợ ngắn hạn, như vậy áp lực của việc trả nợ của công ty là

rất lớn. Sử dụng Nợ ngắn hạn, chi phí thấp hơn so với sử dụng các nguồn dài

hạn nhưng đi kèm với nó là rủi ro rất lớn.

Do Nợ chiếm tỷ trọng lớn, nên tỷ trọng vốn chủ sở hữu của công ty

trong tổng vốn là thấp. Điều này được phản ánh trong tỷ số cơ cấu nguồn vốn.

Tỷ số này rất thấp, năm 2008 là 0,406 đến năm 2009 là 0,357 và năm 2010

tăng nhẹ lên 0,391.

Tỷ số cơ cấu tài sản của công ty là rất cao, điều này phản ánh đặc thù

kinh doanh của cơng ty là trên lĩnh vực thương mại, do đó tài sản ngắn hạn

chiếm tỷ trọng lớn. Tài sản ngắn hạn của công ty thường xuyên chiếm tỷ lệ

cao trong tổng tài sản của công ty. Điều này cũng một phần lý giải tại sao tỷ trọng

Nợ ngắn hạn trong tổng vốn của công ty lại chiếm tỷ trọng lớn như vậy. Nợ ngắn

hạn được công ty huy động để đầu tư vào tài sản ngắn hạn, trong đó chủ yếu là

hàng tồn kho. Tuy nhiên, nếu phân tích cả vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu



vốn lưu động thường xun, thì có thể kết luận cơ cấu tài trợ của công ty đang bị

mất cân đối.

Trong thời gian tới, công ty không nên tiếp tục sử dụng Nợ vay ngắn

hạn để tài trợ cho tài sản. Công ty nên nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho

để đáp ứng nhu cầu vốn trong tương lai.

3.2.5.3. Tính tốn lại một số tỷ số tài chính

Các tỷ số tài chính được tính tốn từ những số liệu trong các báo cáo tài chính.

Tuy nhiên, các báo cáo tài chính lại được phân thành hai loại: theo thời điểm và theo

thời kỳ. Các số liệu trên bảng cân đối kế toán là theo thời điểm trong khi đó các số

liệu trên Báo cáo kết quả kinh doanh lại theo thời kỳ. Do đó, đối với các tỷ số tài

chính được hình thành từ số liệu từ cả hai báo cáo tài chính như hiệu suất sử dụng tài

sản, các tỷ số về khả năng sinh lợi... thỡ cỏc số liệu lấy từ bảng cân đối kế tốn nên

lấy số bình qn giữa đầu kỳ và cuối kỳ. Như vậy, các tỷ số này mới thực sự phản

ánh đúng tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Thực tế, trong thời gian qua công ty vẫn sử dụng số liệu theo thời kỳ trên

Báo cáo kết quả kinh doanh để kết hợp với số liệu ở thời điểm cuối kỳ trên Bảng

cân đối kế toán để tính tốn các tỷ số. Như vậy, các tỷ số có thể sẽ khơng phản ánh

đúng tình hình tài chính của cơng ty. Do vậy, để nâng cao hiệu quả phân tích tài

chính, cơng ty nên tính tốn lại các tỷ số tài chính đó. Dưới đây là các tỷ số tài

chính đã được điều chỉnh lại để cơng ty có thể tham khảo.



Bảng 3.3: Các tỷ số về khả năng hoạt động từ năm 2009 đến năm 2010

(Đơn vị: triệu đồng)

Chỉ tiêu

1. Doanh thu

2. Tiền và chứng khoán ngắn hạn

3. Phải thu

4. Hàng tồn kho

5. Tài sản cố định

6. Tổng tài sản

Tỷ số vòng quay tiền (1/2)

Tỷ số vòng quay hàng tồn kho (1/4)

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (6/5)



Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

26.869

35.895

84.421

244,139

500,45

4.575

4.692

3.547

771,932

2.969

6.212

7.924

934,758

868,466

855,338

9.168

11.707

14.627

110,1

71,7

18,5

9

5,8

10,7

28,7

41,3

98,7

9,8

13,5

17,1

(Nguồn: Phòng tài chính Cơng ty)



Như vậy, đối với các tỷ số về khả năng hoạt động, thì đặc biệt các chỉ

tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định và hiệu suất sử dụng tổng tài sản do các

số liệu về tài sản cố định và tổng tài sản đã sử dụng số liệu bình quân nên chỉ

tiêu đã phản ánh trung thực hơn tình hình hoạt động của cơng ty.

Theo tính tốn mới này, hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công ty là

rất cao và tăng nhiều qua các năm. Điều này phản ánh đúng tình hình kinh

doanh của cơng ty đó là do cơng ty hoạt động trên lĩnh vực thương mại nên

lượng vốn đầu tư vào tài sản cố định là rất thấp. Phần lớn vốn của công ty

được đầu tư vào tài sản ngắn hạn.

Tỷ số hiệu suất sử dụng tổng tài sản phản ánh chính xác hơn khả năng

hoạt động của cơng ty. Theo tính tốn lại, hiệu suất sử dụng tổng tài sản của

công ty là khá tốt, và tăng nhanh qua các năm. Trong tính tốn cũ của cơng ty

thì hiệu suất sử dụng tổng tài sản của công ty tăng nhưng tốc độ chậm hơn.

Các tỷ số hiệu suất sử dụng tổng tài sản khi tính tốn lại đều tăng so với các

tỷ số cũ cho thấy khả năng hoạt động của công ty. Như vậy, việc sử dụng các số

liệu bình quân đã phản ánh đúng hơn tình hình hoạt động của cơng ty.

3.3. Kiến nghị

3.3.1. Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống kế toán kiểm toán



Sau những chuyển lớn của nền kinh tế, hệ thống kế tốn Việt Nam đã

khơng ngừng đổi mới, hoàn thiện và ngày càng phù hợp hơn với thông lệ

quốc tế. Nhà nước cần ban hành hoặc sửa đổi kịp thời các chế độ, chính sách,

các chuẩn mực kế toán và kiểm toán để đảm bảo Luật kế toán được thực sự đi

vào và áp dụng đúng trong từng doanh nghiệp trong nền kinh tế. Điều này

cũng là yếu tố quan trọng trong quá trình hội nhập của nền tài chính Việt Nam

với khu vực và thế giới.

3.3.2. Nhà nước cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu ngành.

Chỉ tiêu ngành sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho các doanh nghiệp,

nó là cơ sở tham chiếu để các nhà phân tích có thể đưa ra các nhận xét, đánh

giá, kết luận về hoạt động tài chính của doanh nghiệp mình một cách chính

xác. Tuy nhiên hiện nay, chúng ta đó cú chỉ tiêu trung bình ngành nhưng chưa

đầy đủ và không kịp thời, chưa thể hiện được vai trò tham chiếu nên gây ra

cho doanh nghiệp nhiều khó khăn, lúng túng khi đối chiếu đánh giá hoạt động

của doanh nghiệp mình. Do đã chính phủ cần sớm có những văn bản hướng

dẫn việc xây dựng và cung cấp hệ thống chỉ tiêu trung bình các ngành. Các cơ

quan có trách nhiệm cần phối hợp xây dựng để có sự thống nhất trong tồn

nền kinh tế, bảo đảm tính chuẩn mực, khách quan cho những chỉ tiêu này.

3.3.3 Nhà nước và các cơ quan chủ quản cần thống nhất chương trình đào tạo.

Phân tích tài chính doanh nghiệp và kế tốn tài chính, kế tốn quản trị tại

các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành kinh tế. Tăng cường phổ biến

những kinh nghiệm vận dụng phân tích tài chính doanh nghiệp của các nước

trong khu vực và thế giới cho sinh viên kinh tế và các cán bộ tài chính kế tốn

của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế

3.3.4 Cơ quan chủ quản nờn cú quy định thời hạn bắt buộc nộp báo cáo

phân tích tài chính đối với các Doanh nghiệp.

Nhà nước trực tiếp là Bộ tài chính cần có những qui định cụ thể về

thời gian nộp báo cáo, qui định về việc công bố thơng tin phân tích tài

chính trên phương tiện thơng tin đại chỳng.Tất cả những điều này sẽ thúc



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.2: Các tỷ số về khả năng cân đối vốn từ năm 2008 đến 2010

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×