Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.9: Các tỷ số về khả năng hoạt động

Bảng 2.9: Các tỷ số về khả năng hoạt động

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Vòng quay tiền: Vòng quay tiền của cơng ty trong năm 2008 (117,7) là

khá cao, tuy nhiên tỷ số này lại giảm nhanh vào các năm sau (năm 2009 còn 37,

năm 2010 giảm xuống còn 11,8). Vòng quay tiền giảm nhanh do tài khoản tiền

tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng doanh thu. Để cải thiện tỷ số vòng quay tiền

trong thời gian tới, cơng ty cần chú trọng vấn đề quản lý ngân quỹ.

- Vòng quay hàng tồn kho:Vòng quay hàng tồn kho cho biết khả năng

quản lý dự trữ của công ty. Trong hai năm 2008 và 2009, vòng quay hàng tồn

kho của cơng ty là khơng cao và năm 2009 còn thấp hơn 2008. Hàng tồn kho

tăng, trong khi doanh thu của công ty tăng mạnh cho thấy khả năng tiêu thụ

hàng hố của cơng ty khá tốt. Công ty cần tiếp tục phát huy để tăng nhanh

vòng quay của hang tồn kho trong những năm tới.

- Kỳ thu tiền bình quân: Kỳ thu tiền bình qn của cơng ty là rất cao,

năm 2008 là 53 ngày. điều này chứng tỏ vốn của công ty đang bị chiếm dụng

khá nhiều. Mặc dù vậy, kỳ thu tiền bình qn của cơng ty đang có xu hướng

giảm ( năm 2010 giảm xuống 36 ngày ). Kỳ thu tiền bình qn của cơng ty

năm 2010 đã được cải thiện nhưng vẫn còn ở mức cao, nhất là đối với các

doanh nghiệp thương mại, do đó cơng ty cần có kế hoạch đẩy nhanh việc thu

hồi các khoản phải thu, nhằm đẩy nhanh vòng quay của vốn.

- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định

của công ty là khá cao. Một đồng tài sản cố định đầu tư vào kinh doanh tạo ra

22,5 đồng doanh thu năm 2010. Tuy nhiên, đây khơng phải là điều q bất

ngờ vì do đặc điểm kinh doanh của công ty chủ yếu là thương mại và dịch vụ

do đó tỷ trọng tài sản cố định rất thấp. Tỷ trọng tài sản cố định thấp làm cho

hiệu suất sử dụng tài sản cố định có giá trị cao.

- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Đối với công ty, chỉ tiêu hiệu suất sử

dụng tổng tài sản có ý nghĩa cao hơn hiệu suất sử dụng tài sản cố định bởi nó

phản ánh đầy đủ khả năng hoạt động kinh doanh của công ty.

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản của công ty năm 2008 là 4, năm 2009

là 3,3 và năm 2010 là 3,1. Như vậy, hiệu suất sử dụng tổng tài sản của công



ty đang giảm dần qua các năm, thể hiện ở mỗi đồng tài sản công ty đầu tư

mang lại ngày càng ít doanh thu. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác hơn hiệu

quả hoạt động kinh doanh của công ty, công ty phân tích kỹ hơn khả năng

sinh lời.

* Các tỷ số về khả năng sinh lời

Bảng 8: Các tỷ số về khả năng sinh lời

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu

Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

1. Lợi nhuận sau thuế

213

513

255

2. Doanh thu

78.979

102.263 157.516

3. Tài sản

19.770

31.317

51.055

4. Vốn chủ sở hữu

9.213

9.516

9.093

Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm (1)/(2)

0.003

0.005

0.002

Doanh lợi tổng TS (ROA) (1)/(3)

0.011

0.016

0.005

Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) (1)/(4)

0.023

0.054

0.028

(Nguồn: Phòng Tài chính kế tốn công ty )

Bảng 8 phản ánh các tỷ số về khả năng sinh lời của công ty trong 3 năm

2008 - 2010. Công ty trên cơ sở những tỷ số này đã phân tích khả năng sinh

lời như sau:

- Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm

Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm của công ty không ổn định, năm 2008 là

0,003; năm 2009 tăng lên 0,005 và năm 2010 lại giảm xuống còn 0,002.

Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm cho biết năm 2010 cứ 1 đồng doanh thu thì tạo ra

0,002 đồng lợi nhuận. Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm của công ty như vậy là

thấp so với các doanh nghiệp trong cùng ngành, và chưa phản ánh đúng thực

lực của công ty.

- Doanh lợi tổng tài sản

Doanh lợi tổng tài sản của công ty cũng không ổn định, năm 2008 là 0,011;

năm 2009 tăng lên 0,016 nhưng năm 2010 lại giảm xuống 0,005. Tỷ số doanh

lợi tổng tài sản nếu kết hợp với tỷ số hiệu suất sử dụng tổng tài sản cho thấy



cho thấy khả năng sinh lợi của tài sản công ty là không tốt và cần được cải

thiện nhanh trong thời gian tới.

- Doanh lợi vốn chủ sở hữu

Doanh lợi vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu được công ty hết sức quan tâm khi

bỏ vốn đầu tư vào kinh doanh. Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là mục

tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp.

Doanh lợi vốn chủ sở hữu của công ty là chưa cao, năm 2010 chỉ đạt

0,023 tức là cứ mỗi đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh thì mang lại

0.023 đồng lợi nhuận. Tuy chỉ tiêu này khơng cao nhưng nó đang biến động

theo chiều hướng tốt. Doanh lợi vốn chủ sở hữu của công ty đang tăng dần

qua các năm, cụ thể năm 2009 tăng lên 0,054 và năm 2010 là 0,028.

2.2.3.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phân tích tài chính của Công ty Cổ

phần xây dựng và Thương mại HT Việt Nam

2.2.3.1. Thời gian hồn thành phân tích

Phân tích tài chính được thực hiện ở cơng ty vào cuối mỗi năm tài chính,

do các cán bộ của phòng Tài chính - kế toán thực hiện dưới sự chỉ đạo của kế

tốn trưởng.

Q trình phân tích được thực hiện khá nhanh, thơng thường kéo dài

khoảng một tuần. Trong đó, khâu mất thời gian nhất là thu thập thông tin, thời

gian 1 tuần đối với việc phân tích tài chính cả cơng ty là khá nhanh, đáp ứng

được yêu cầu của ban giám đốc trong việc ra các quyết định quản lý.

Ngoài ra, khi có nhu cầu về phân tích tài chính, như trước mỗi lần đi

vay, công ty đều tiến hành phân tích cụ thể tình hình khả năng thanh tốn,

phân tích các khoản phải thu, phải trả... Những lần phân tích này đều được

tiến hành rất nhanh, chỉ 1 đến 2 ngày.

Như vậy, về mặt thời gian phân tích tài chính cơng ty đã thực hiện khá

tốt, cung cấp thơng tin kịp thời về tình hình tài chính cho ban Lãnh đạo công

ty ban hành các quyết định phục vụ cho cơng tác quản lý.

2.2.3.2. Chi phí phân tích



Về mặt chi phí, cơng ty chưa có nguồn kinh phí cụ thể dành riêng cho

việc phân tích tài chính. Việc phân tích được thực hiện bởi các nhân viên của

Phòng Tài chính - Kế tốn của cơng ty, do đó chi phí của việc phân tích tài

chính chỉ được ước lượng gián tiếp thơng qua chi phí trả lương cho các nhân

viên, các chi phí khác phục vụ cho việc phân tích, xử lý thơng tin như giấy tờ,

máy tính... Những chi phí này được hạch tốn trong chi phí hoạt động kinh

doanh mà khơng hạch tốn cụ thể cho việc phân tích tài chính.

Chi phí lớn nhất mà cơng ty đầu tư cho phân tích tài chính đó là một

phần mềm phục vụ cho phân tích mà cơng ty phải thuê một công ty tin học

thiết kế. Phần mềm này cho phép công ty chỉ việc nhập các số liệu kế tốn

vào máy tính, sau đó máy tính sẽ tính tốn và được ra các kết quả phân tích

theo mục tiêu mà công ty yêu cầu. Trên cơ sở các kết quả tính tốn đú, cỏc kết

tốn viên sẽ tiến hành phân tích cụ thể và hồn thành báo cáo phân tích tài

chính. Phần mềm này cơng ty đã phải mua mất 10 triệu VNĐ.

2.2.3.3 Quy trình phân tích

Quy trình phân tích của cơng ty đã đủ các bước cơ bản nhưng mỗi bước

do cỏc phũng khác nhau thực hiện nờn cũn tách biệt chưa hợp lý, có một số

các chỉ tiêu phân tích còn cho kết quả chưa chính xác.

2.3.Đánh giá hiệu quả phân tích tài chính của Cơng ty Cổ phần xây dựng

và Thương mại HT Việt Nam

2.3.1.Kết quả đạt được

Từ thực trạng phân tích tài chính của công ty Công ty Cổ phần xây dựng

và Thương mại HT Việt Nam trong thời gian qua, ta có thể đánh giá hiệu quả

phân tích tài chính của cơng ty như sau:

- Về mặt thời gian hồn thành phân tích, cơng ty đã thực hiện cơng việc

phân tích với thời gian khá nhanh, do đó đã đáp ứng được yêu cầu của ban

giám đốc trong việc ban hành các quyết định quản lý và điều hành các chỉ tiêu

kế hoạch kinh doanh, kế tốn Tài chớnh…. Việc phân tích tài chính được thực

hiện theo định kỳ hàng năm.



- Về mặt nội dung hay kết quả phân tích:

Báo cáo phân tích tài chính của cơng ty nhìn chung đã đề cập đến một

cách khá tồn diện tình hình tài chính của cơng ty. Thơng tin sử dụng trong

phân tích mặc dù chưa đầy đủ (chưa lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ) nhưng

đều đã được kiểm toán để đảm bảo độ chính xác.

Phương pháp phân tích chủ yếu mà Cơng ty Công ty Cổ phần xây dựng

và Thương mại HT Việt Nam sử dụng là hai phương pháp so sánh và phương

pháp tỷ số. Hai phương pháp này đã phát huy được hiệu quả bởi nó khỏ đơn

giản, dễ áp dụng, giúp nhà phân tích tiết kiệm được thời gian, chi phí và mang lại

hiệu quả nhất định.

Các chỉ tiêu tài chính cơ bản của cơng ty như doanh thu, chi phí, lợi

nhuận,... đều được phân tích cụ thể, đã phản ánh được phần nào tình hình tài

chính của cơng ty trờn cỏc mặt cơ cấu tài chính, khả năng thanh toán, khả

năng hoạt động và khả năng sinh lời.

2.3.2.Hạn chế của công ty Cổ phần xây dựng và Thương mại HT Việt Nam

còn tồn tại

2.3.2.1.Hạn chế

Thực trạng hiệu quả phân tích tài chính của Cơng ty Cổ phần xây dựng

và Thương mại HT Việt Nam trong những năm qua cho thấy, bên cạnh những

kết quả đã đạt được, hiệu quả phân tích tài chính của cơng ty có thể cao hơn

nếu khắc phục được những hạn chế sau:

Phân tích tài chính chưa được thực sự chun mơn hố trong cơng ty.

Việc phân tích tài chính của cơng ty chưa thực sự được coi trọng, biểu hiện cụ

thể là chưa có những cán bộ có chun mơn về phân tích tài chính. Cơng ty

chưa có những khoản kinh phí cụ thể dành cho phân tích tài chính hàng năm.

Chi phí cho cán bộ phân tích tài chính cũng khơng có mà nó được coi là

nhiệm vụ của các nhân viên phòng kế tốn, do đó việc phân tích còn gặp

nhiều khó khăn.



Cơng tác tổ chức phân tích cũng như quy trình phân tích chưa được

thực hiện một cách khoa học, chặt chẽ mang tính chất tự phát. Các bước của

quy trình phân tích khơng được thực hiện đầy đủ nên dẫn đến tình trạng nội

dung phân tích nhiều khi khơng phù hợp với mục tiêu phân tích. Hiệu quả

phân tích tài chính và tính thực tế của việc phân tích vì thế bị giảm sút.

Bỏo cáo phân tích tài chính của cơng ty vẫn mang nặng tính chất hình thức.

Việc ban hành các quyết định quản lý cũng như quyết định tài chính dựa trên các

báo cáo phân tích tài chính của công ty vẫn chưa được thực hiện.

2.3.2.2. Nguyên nhân

* Nguyên nhân chủ quan:

Hiệu quả thông tin mà công ty sử dụng để phân tích cũng còn chưa cao.

Các thơng tin mà công ty sử dụng chủ yếu là các thông tin nội bộ doanh

nghiệp mà chưa sử dụng các thơng tin bên ngồi như các thơng tin về thị

trường, về ngành kinh doanh, về đối thủ cạnh tranh...

- Thông tin kế tốn nhiều khi khơng được cập nhật do tại các chi nhánh

vào thời điểm cuối năm thường rất bận nên kế tốn viên khơng kịp cập nhật.

Các báo cáo tài chính của cơng ty vẫn chưa đầy đủ, công ty chưa lập báo cáo

lưu chuyển tiền tệ, do đó cơng ty chưa thể phân tích được cụ thể dòng tiền của

doanh nghiệp. Đây là một nội dung phân tích khá quan trọng đối với các

doanh nghiệp thương mại và kinh doanh dịch vụ đòi hỏi cơng ty cần phải

phân tích trong thời gian tới.

- Về mặt phương pháp phân tích cơng ty mới chủ yếu sử dụng phương

pháp so sánh và phương pháp tỷ số theo cách truyền thống. Về phương pháp

so sánh công ty mới chủ yếu so sánh sự thay đổi giữa các năm kế tiếp, do đó

mới chủ yếu phản ánh sự biến động của các chỉ tiêu giữa các năm mà chưa

thấy được nguyên nhân của sự biến động đú. Cỏc tỷ số của cơng ty chỉ là các

tỷ số độc lập, chưa có sự so sánh các tỷ số này với các tỷ số của các doanh

nghiệp cạnh tranh, do vậy còn mang nặng tính chủ quan.



- Nội dung phân tích của cơng ty vẫn chưa đầy đủ, do đó chưa phản ánh

hết được tình hình tài chính của cơng ty. Cơng ty vẫn chưa thực hiện phân tích

diễn biến vốn và sử dụng vốn. Nhiều chỉ tiêu tài chính cơng ty đã tính tốn

nhưng chỉ dừng ở mức đánh giá mà chưa lý giải được nguyên nhân và đề ra

các đề xuất giải pháp khắc phục. Một số tỷ số tài chính do công ty sử dụng số

liệu không phù hợp, kết hợp giữa số liệu thời điểm trên bảng cân đối kế toán

với số liệu thời kỳ trên báo cáo kết quả kinh doanh, do đó khơng phản ánh

chính xác tình hình tài chính của cơng ty.

- Cơng ty chưa thực hiện phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ, cũng

như tiến hành dự báo tình hình tài chính của các năm sau.

- Trình độ cán bộ thực hiệ.n phân tích tài chính còn nhiều hạn chế. Các

cán bộ thực hiện phân tích tài chính của cơng ty là các nhân viên kế tốn của

cơng ty. Các nhân viên kế tốn này chưa được đào tạo chuyên nghiệp về tài

chính cũng như nghiệp vụ phân tích tài chính doanh nghiệp, nhiều khi các

thơng tin kế tốn khơng được cập nhật ngay khi nó phát sinh, nhất là thời

điểm cuối mỗi năm, công việc rất bận. Điều này làm ảnh hưởng khá lớn tới

hoạt động phân tích tài chính cũng như quản lý tài chính của cơng ty, do đó

các thơng tin phân tích của cơng ty nhiều khi khơng đầy đủ.

* Ngun nhân khách quan:

Thứ nhất, đó là sự khơng thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp

luật về tài chính. Thứ hai, đó là Việt Nam chưa có được hệ thống chỉ tiêu

trung bình ngành. Vì vậy, trong thời gian tới, Bộ tài chính cần có kế hoạch

hồn thiện những hạn chế trên để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động phân

tích tài chính doanh nghiệp.



CHƯƠNG 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ

PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CƠNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG



VÀ THƯƠNG MẠI HT VIỆT NAM

3.1.Định hướng nâng cao hiệu quả phân tích tài chính của cơng ty Cổ phần

xây dựng và Thương mại HT Việt Nam

- Tăng cường nguồn vốn kinh doanh và xây dựng các cơ sở vật chất

phục vụ kinh doanh.

- Cơng ty cần có chương trình tổ chức thu thập, phân loại thông tin, thị

trường, khách hàng tạo ra cơ hội kinh doanh phù hợp, nhất là tập trung đẩy

mạnh hơn nữa trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh.

Thực hiện dân chủ, công khai trong kinh doanh, quản lý điều hành, xây

dựng kế hoạch. Lập kế hoạch đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn trong

quản lý và nghiệp vụ kinh doanh cho cán bộ công nhân viên. Đảm bảo bố trí

cơng việc phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác của mỗi cán bộ, nhân viên.

Tăng cường công tác quản lý, động viên nguồn nhân lực bằng việc gắn học

tập với hiệu quả và trách nhiệm cá nhân.

Hoàn thiện các chế tài quản lý kinh doanh, kết hợp giữa lấy động lực phân

phối kết quả kinh doanh và kỷ luật hành chính thúc đẩy các đơn vị và cán bộ tích

cực chủ động tạo việc, tạo phong trào thi đua kinh doanh lành mạnh.

Để thực hiện mục tiêu và định hướng phát triển của công ty thì cơng tác

phân tích tài chính cơng ty được đặc biệt chú trọng. Quan điểm của công ty về

công tác phân tích tài chính trong thời gian tới là:

Xây dựng một hệ thống phân tích tài chính doanh nghiệp hồn chỉnh

nhằm cung cấp những thơng tin tài chính có hiệu quả cho ban lãnh đạo công

ty trong việc ban hành các quyết định về mặt quản lý.

Đào tạo một đội ngũ cán bộ phân tích tài chính có chun mơn vững về

cả nghiệp vụ kế tốn và nghiệp vụ tài chính nhằm thực hiện tốt quy trình phân

tích tài chính hàng năm của cơng ty.



Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nhất là công nghệ thông tin phục vụ

cho việc thu thập các thơng tin kế tốn cũng như phân tích tình hình tài chính

của cơng ty.

3.2.Giải pháp nâng cao hiệu quả phân tích tài chính tại cơng ty Cổ phần

xây dựng và thương mại HT Việt Nam

3.2.1.Chuyên mụn hóa phân tích tài chính trong cơng ty

Để có thể nâng cao hiệu quả của phân tích tài chính trong doanh nghiệp

thì việc chun mơn hố phân tích tài chính là hết sức cần thiết. Việc chun

mơn hố trong phân tích tài chính u cầu lãnh đạo cơng ty phải đánh giá

đúng tầm quan trọng của phân tích tài chính, và coi đó như một hoạt động

định kỳ của công ty. Để làm được như vậy, trong thời gian tới công ty cần

phải thực hiện một số công việc sau:

Thứ nhất, cơng ty nờn cú một nguồn kinh phí ổn định phục vụ cho việc

phân tích tài chính. Khi có nguồn kinh phí đầy đủ, ổn định thì mới có thể thực

hiện được q trình phân tích có hiệu quả. Nguồn kinh phí này dành để chi

cho cỏc khõu của q trình phân tích bao gồm cả chi phí dành cán bộ phân

tích và các chi phí phân tích khác nếu cơng ty tự tiến hành phân tích. Nếu

cơng ty khơng tự tiến hành phân tích được thỡ nờn dựng nguồn kinh phí này

để th một cơng ty chun phân tích tài chính thực hiện việc phân tích.

Thứ hai, cơng ty cần xây dựng một quy trình phân tích khoa học và

chặt chẽ. Quy trình phân tích cần được xây dựng cụ thể từ khâu thu thập

thông tin cho đến khâu cuối cùng đó là phân tích, soạn thảo báo cáo.

Thứ ba, việc phân tích tài chính phải thực sự có ích cho cơng ty. Các

kết quả phân tích phải được áp dụng vào thực tế của công ty chứ khơng phải

chỉ phân tích cho xong. Việc ban hành các quyết định tài chính phải dựa vào

các kết quả của phân tích hoạt động tài chính trong năm. Thực tế, trong những

năm qua, công ty vẫn tiến hành phân tích tài chính nhưng thực sự việc ban

hành các quyết định về mặt quản lý của công ty chưa thực sự sát với kết quả

phân tích tài chính. Chỉ khi nào việc ban hành các quyết định quản lý gắn với



kết quả phân tích thì việc phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp mới

thực sự có hiệu quả.

3.2.2.Nâng cao trình động cán bộ phân tích tài chính trong cơng ty

Trình độ cán bộ phân tích đóng một vai trò quyết định đến hiệu quả

phân tích tài chính. Các cán bộ thực hiện việc phân tích tài chính của cơng ty

cũng chính là các nhân viên phòng Tài chính - Kế tốn. Các nhân viên này

được đào rất chính quy về lĩnh vực kế toán nhưng chưa được đào tạo về mặt

quản lý tài chính. Do đó, nhiều khi họ bị nhầm lẫn giữa các nghiệp vụ kế toán

với các nghiệp vụ tài chính. Đây là hạn chế phổ biến trong các doanh nghiệp

hiện nay.

Để có thể phân tích tài chính tốt các nhân viên này phải được đào tạo

thêm về các nghiệp vụ tài chính cũng như về phân tích tài chính. Việc đào tạo

phải được tiến hành một cách bài bản, tức là cơng ty cần có kế hoạch hàng

năm để bố trí cán bộ đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ chun mơn để đáp

ứng yêu cầu trong công tác quản lý giai đoạn hiện nay, hoặc có chính sách

tuyển những cán bộ đào tạo hệ chính quy có nghiệp vụ về tài chính. Trên cơ

sở đó cú những cán bộ vững về nghiệp vụ tài chính thì cơng ty mới có thể xây

dựng được một quy trình phân tích tài chính khoa học và chặt chẽ.

Trong thời gian qua, việc nâng cao trình độ, nghiệp vụ của công ty vẫn

chưa được chú trọng, công ty chưa có được những khố đào tạo ngắn hạn

cũng như dài hạn nhằm bổ sung những kiến thức chuyên mơn mới cho cán bộ

nghiệp vụ chun mơn, do đó việc phân tích tài chính của cơng ty vẫn chỉ

mang tính chất hình thức. Do vậy, với định hướng nhằm đưa phân tích tài

chính trở thành một cơng cụ hữu hiệu cho quản lý tài chính cũng như quản lý

cơng ty sau này, cơng ty cần phải có kế hoạch đào tạo cán bộ nghiệp vụ hàng

năm để nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ



3.2.3.Nâng cao hiệu quả thơng tin phân tích tài chính tại cơng ty

Hiệu quả thơng tin phân tích tài chính là nhân tố quyết định tới hiệu

quả của phân tích tài chính. Thơng tin phân tích phải có hiệu quả tức là phải

đầy đủ ( thông tin chung, thông tin nội bộ đặc biệt là các thơng tin kế tốn...),

chính xác và được cập nhật thường xun, kịp thời.

Để có được thơng tin đầy đủ, chính xác và cập nhật, phòng Tài chính

phải có kế hoạch thu thập, lưu trữ và xử lý thông tin một cách có hệ thống.

Thơng tin chung về thị trường, về đối thủ cạnh tranh, về ngành kinh doanh

công ty có thể thu thập từ các nguồn báo chí, báo cáo thường kỳ của các bộ

ngành có liên quan, của chính phủ để từ đó xác định các nhân tố ảnh hưởng

tới chiến lược phát triển của công ty.

Các thông tin kế tốn của cơng ty cần được cập nhật thường xun. Để

làm được việc đó, cơng ty cần phân cơng nhiệm vụ cụ thể cho từng kế tốn

viên. Mỗi kế tốn viên có thể phụ trách một mảng, có thể là một số tài khoản

nhất định. Nhân viên được giao phụ trách những tài khoản nào thỡ cú nhiệm

vụ thu thập thông tin về những nghiệp vụ phát sinh, cũng như những quy định

của Nhà nước có liên quan đến lĩnh vực đó. Ví dụ kế tốn thuế ngồi việc tính

tốn, lập quyết tốn thuế còn có trách nhiệm cập nhật các thơng tin về chính

sách thuế của Nhà nước. Do cơng ty đã có phần mềm kế tốn riờng nờn việc

thu thập thơng tin kế tốn một cách chính xác và có hệ thống là khơng hề khó.

Do công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thương mại do đó ngân

quỹ đóng một vai trò khá quan trọng trong hoạt động tài chính của cơng ty.

Một mặt tiền là một loại tài sản ngắn hạn nhưng mặt khác do mọi tài sản khác

của công ty đều được trao đổi thông qua tiền, do vậy để đảm bảo khả năng

thanh tốn của cơng ty thì việc quản lý tiền là cần thiết. Để quản lý tốt tiền

hay ngân quỹ của cơng ty thì việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là rất quan

trọng. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho thấy sự dịch chuyển của cỏc dũng tiền



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.9: Các tỷ số về khả năng hoạt động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×