Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh

Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh

Tải bản đầy đủ - 0trang

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

học Hồng Đức



Trờng Đại



vn th hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra vừa là yếu tố đầu vào trong sản

xuất. Về bản chất vốn là phương pháp sản xuất gián tiếp tốn thời gian.

David Begg, trong cuốn “Kinh tế học” ông đã đưa ra hai định nghĩa về vốn

là: Vốn hiện vật và vốn tài chính cùa doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các

hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hố khác. Vốn tài chính là các giấy

tờ có giá và tiền mặt của doanh nghiệp. Như vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài

sản của doanh nghiệp trong định nghĩa của David Begg.

Qua các khái niệm trên cho thấy, doanh nghiệp dù hoạt động trong bất cứ

lĩnh vực nào cũng cần có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn đó dùng để thực

hiện các khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, chí phí mua

sắm tài sản cố định, nguyên vật liệu... Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có

nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ

nhu cầu thị trường. Số tiền mà doanh nghiệp thu về sau khâu tiêu thụ sản phẩm,

dịch vụ phải bù đắp được các chi phí bỏ ra, đồng thời phải có lãi. Q trình này

diễn ra liên tục đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Hiện nay khái niệm vốn kinh doanh được sử dụng phổ biến là:

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại (DNTM) là biểu hiện bằng

tiền của toàn bộ tài sản và các nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt

động kinh doanh bao gồm:

- Tài sản hiện vật như: nhà kho, cửa hàng, hàng hoá dự trữ...

- Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng và đá quí.

- Bản quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vơ hình khác.



1.2. Phân loại vốn kinh doanh

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại có thể được xem xột, phõn

loi theo cỏc tiờu thc sau:

Sinh viên: Phạm Thị Hồng Phơng



5



Lớp: ĐHQTKD K12



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

học Hồng Đức



Trờng Đại



* Theo giỏc phỏp lut:

-



Vn phỏp định: là số vốn tối thiểu cần thiết để đảm bảo năng lực kinh



doanh đối với từng ngành nghề, từng loại hình doanh nghiệp do pháp luật qui

định. Dưới mức vốn pháp định thì khơng thể đủ điều kiện để thành lập doanh

nghiệp.

Điều này có nghĩa là Nhà nước sẽ đặt ra mức sàn tối thiểu về vốn đối với một số

ngành nghề cụ thể và nhà đầu tư phải đáp ứng số vốn đó từ bằng hoặc lớn hơn

mức mà nhà nước đặt ra thì mới được thành lập doanh nghiệp và hoạt động

trong ngành nghề đó.

Theo quy định tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp (2005) và các Nghị định

của Chính phủ, thì hiện nay ở Việt Nam, nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp

trong các ngành nghề sau đây thì phải đáp ứng yêu cầu vốn pháp định :

+ Kinh doanh tiền tệ - tín dụng (nếu thành lập ngân hàng thương mại cổ phần thì



phải có ít nhất 1.000 tỷ đồng cho năm 2008 và 3.000 tỷ đồng cho năm 2010 trở

đi, nếu là ngân hàng đầu tư thì phải có ít nhất là 3.000 tỷ đồng, ngân hàng phát

triển ít nhất 5.000 tỷ đồng…).

+ Kinh doanh chứng khốn (phải có ít nhất 165 tỷ đồng cho ngành nghề bảo lãnh



phát hành hoặc 100 tỷ đồng cho ngành nghề tự doanh…).

+ Kinh doanh bảo hiểm (tối thiểu phải có 300 tỷ đồng cho ngành nghề bảo hiểm



phi nhân thọ, 600 tỷ đồng cho ngành nghề bảo hiểm nhân thọ, môi giới bảo hiểm

là 4 tỷ đồng).

+ Kinh doanh vận chuyển hàng không (dao động từ 200 tỷ đồng đến 1.000 tỷ đồng



tương ứng với số lượng tàu bay khai thác, hoặc nếu kinh doanh hàng không

chung là 50 tỷ đồng).

+ Kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê (ít nhất là 2 tỷ đồng).

+ Kinh doanh sản xuất phim (ít nhất là 1 tỷ đồng).

+ Kinh doanh dịch vụ bảo vệ (ít nhất là 2 tỷ đồng).

Sinh viªn: Phạm Thị Hồng Phơng



6



Lớp: ĐHQTKD K12



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

học Hồng Đức



Trờng Đại



+ Kinh doanh bt ng sn (ít nhất là 6 tỷ đồng).



- Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ

của doanh nghiệp. Tuỳ theo ngành nghề và loại hình doanh nghiệp nhưng vốn

điều lệ khơng được nhỏ hơn vốn pháp định.

* Theo giác độ hình thành vốn kinh doanh:

- Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn phải có khi thành lập doanh nghiệp, tức là

số vốn cần thiết để đăng kí kinh doanh. Đó là vốn đóng góp của các thành viên

cơng ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty tư nhân hoặc vốn của nhà

nước giao.

- Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do trích từ lợi nhuận, do ngân sách nhà

nước cấp, sự đóng góp của các thành viên, do bán trái phiếu… bổ sung để tăng

thêm vốn kinh doanh.

- Vốn liên doanh: là vốn do sự đóng góp của các bên khi tiến hành cam kết

liên doanh, liên kết với nhau trong hoạt động thương mại, dịch vụ.

- Vốn đi vay: trong hoạt động kinh doanh, ngoài số vốn chủ sở hữu, vốn

liên doanh để có đủ vốn kinh doanh doanh nghiệp phải đi vay của ngân hàng

trong và ngoài nước.

* Theo giác độ chu chuyển vốn kinh doanh:

- Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định bao gồm: toàn bộ

những tư liệu lao động có hình thái vật chất cụ thể có đủ tiêu chuẩn giá trị và

thời gian sử dụng qui định.

- Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền của ti sn lu ng v vn lu

thụng.



Sinh viên: Phạm Thị Hồng Phơng



7



Lớp: ĐHQTKD K12



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

học Hồng Đức



Trờng Đại



+ Ti sn lu ng l nhng t liệu lao động không đủ tiêu chuẩn giá trị và

thời gian sử dụng để xếp vào tài sản cố định.

+ Bộ phận quan trọng của vốn lưu động là dự trữ hàng hoá, vốn bằng tiền

như tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tồn quỹ các khoản phải thu ở khách hàng...

Việc phân chia các loại vốn này có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động kinh

doanh thương mại. Vì tính chất của chúng rất khác nhau và hình thức biểu hiện

cũng khác nhau nên phải có các biện pháp thích ứng để nâng cao hiệu quả sử

dụng các loại vốn này.

2. Đặc điểm của vốn kinh doanh

2.1. Đặc điểm của vốn lưu động

Vốn lưu động dùng trong kinh doanh thương mại tham gia hồn tồn vào

q trình kinh doanh giá trị của nó có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng

chu chuyển hàng hố. Vốn lưu động ln ln biến đổi hình thái từ tiền sang

hàng và từ hàng sang tiền. Vốn lưu động chu chuyển nhanh hơn vốn cố định.

Vốn lưu động bao gồm vốn dự trữ hàng hoá, vốn bằng tiền và tài sản khác.

Do nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại là thực hiện lưu chuyển hàng

hoá và thực hiện các hoạt động dịch vụ, vì vậy cơ cấu và tính chất lưu chuyển

của vốn khác hẳn so với các đơn vị sản xuất. Trong doanh nghiệp thương mại,

vốn lưu động là khoản vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất khoảng 70 – 80% vốn kinh

doanh trong đó, bộ phận dự trữ hàng hố chiếm tỉ lệ cao.

Ở mỗi thời điểm nhất định, vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại

thường thể hiện ở các hình thái khác nhau như: hàng hố dự trữ, vật tư nội bộ,

tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tồn quĩ, các khoản phải thu và các khoản phải trả.

Tuỳ từng doanh nghiệp, tuỳ thuộc phương thức và lĩnh vực kinh doanh mà

vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại sẽ trải qua các thời kỳ chu chuyển

khác nhau. Ví dụ vốn của doanh nghiệp thương mại có sản suất gia cụng ch

Sinh viên: Phạm Thị Hồng Phơng



8



Lớp: ĐHQTKD K12



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

học Hồng Đức



Trờng Đại



bin khỏc vi đơn vị bán buôn, đơn vị chuyên bán hàng qua kho sẽ khác với đơn

vị chỉ bán hàng chuyển thẳng.

2.2. Đặc điểm của vốn cố định

Vốn cố định biểu hiện dưới hình thái tài sản cố định. Theo Quyết Định –

1062/TC/QĐ/CSTC ngày 14/11/1996 của Bộ Tài Chính: Mọi tư liệu lao động và

mọi khoản chi phí thực tế có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp mà đồng thời thỗ mãn hai điều kiện: có thời hạn sử dụng từ 1 năm trở

lên và có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên thì đều được coi là tài sản cố định.

Tài sản cố định tham gia nhiều lần vào quá trình kinh doanh, sau mỗi chu

kỳ kinh doanh vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, nên giá trị của nó

được chuyển dần từng phần vào giá trị của sản phẩm.

Tài sản cố định giữ nguyên hình thái vật chất của nó trong thời gian dài, chỉ

tăng thêm khi có xây dựng cơ bản mới hoặc mua sắm. Tài sản cố định hao mòn

dần, có hai loại hao mòn: hao mòn hữu hình và hao mòn vơ hình.

- Hao mòn hữu hình phụ thuộc mức độ sử dụng tài sản cố định và các điều

kiện khác có ảnh hưởng tới độ bền lâu dài của tài sản cố định như:

+ Hình thức và chất lượng của tài sản cố định.

+ Chế độ quản lý, sử dụng tài sản cố định.

+ Chế độ bảo vệ, bảo dưỡng, sữa chữa, thay thế thường xuyên, định kỳ đối

với tài sản cố định.

+ Trình độ kỹ thuật, tinh thần trách nhiệm của người sử dụng và sự quan

tâm của cấp lãnh đạo.

+ Các điều kiện tự nhiên và môi trường…

- Hao mòn vơ hình chủ yếu là do tiến bộ khoa học- công nghệ mới và năng

suất lao động xã hi quyt nh.

Sinh viên: Phạm Thị Hồng Phơng



9



Lớp: ĐHQTKD K12



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

học Hồng Đức



Trờng Đại



Ti sn cố định chuyển đổi thành tiền chậm hơn nhưng những tài sản cố

định như: nhà cửa, kho tàng, quầy hàng... lại là những tài sản có giá trị cao, là bộ

mặt của doanh nghiệp, nên có giá trị thế chấp đối với ngân hàng khi vay vốn.

Ngày nay, các doanh nghiệp thương mại thường đầu tư vốn cố định vào xây

dựng nhà làm việc, cửa hàng ở những đầu mối giao thông để tiện liên hệ với

khách hàng và những tài sản cố định như các thiết bị văn phòng được chú ý đầu

tư nhằm thu hút và phục vụ khách hàng tốt hơn.

3. Vai trò của vốn kinh doanh

Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh

nghiệp, ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để tiến hành

hoạt động kinh doanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất

định nào đó. Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của

doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò

quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Cụ

thể:

- Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại có vai trò quyết định

trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo

luật định. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và

phát triển của các doanh nghiệp. Tuỳ theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng như

phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có tên là công ty cổ phần, công ty

trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh

nghiệp liên doanh...

- Vốn kinh doanh là một trong số những tiêu thức để phân loại qui mô của

doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một

trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dng hiu qu cỏc ngun



Sinh viên: Phạm Thị Hồng Phơng

K12



10



Lớp: ĐHQTKD



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

học Hồng Đức



Trờng Đại



lc hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng hoá, mở rộng và

phát triển thị trường, mở rộng lưu thơng hàng hố

- Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự

chịu trách nhiệm trong sản suất kinh doanh. Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ

sở, là tiền đề để doanh nghiệp tính tốn hoạch định các chiến lược và kế hoạch

kinh doanh. Nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các q trình và quan hệ

kinh tế và nó cũng là dầu nhờn bơi trơn cho cỗ máy kinh tế vận động có hiệu

quả.

- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là yếu tố giá trị. Nó chỉ

phát huy được tác dụng khi bảo tồn được và tăng lên được sau mỗi chu kỳ kinh

doanh. Nếu vốn khơng được bảo tồn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì

vốn đã bị thiệt hại, đó là hiện tượng mất vốn. Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn đến doanh

nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ làm cho doanh nghiệp bị phá sản, tức là vốn

kinh doanh đã bị sử dụng một cách lãng phí, khơng hiệu quả.

III. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của

doanh nghiệp thương mại

1. Các nhân tố chủ quan

Đây là những nhân tố chủ yếu quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn của

doanh nghiệp bao gồm:

- Cơ cấu vốn: bố chí cơ cấu vốn càng hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng

vốn càng được nâng cao. Bố trí cơ cấu vốn khơng phù hợp làm mất cân đối giữa

tài sản lưu động và tài sản cố định dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu một loại tài

sản nào đó sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.

- Việc huy động vốn cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Huy động

vốn là để sử dụng vốn, do vậy nhu cầu sử dụng vốn đến đâu, doanh nghiệp huy

động vốn đến đó để khơng xảy ra tình trạng thừa hoặc thiếu vốn. Việc huy ng

Sinh viên: Phạm Thị Hồng Phơng

K12



11



Lớp: ĐHQTKD



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

học Hồng Đức



Trờng Đại



vn hp lý s đảm bảo cho việc sử dụng vốn có hiệu quả cao hơn. Mặt khác sử

dụng vốn còn chịu ảnh hưởng của tỷ lệ lãi suất huy động và thời gian huy động

vốn. Lựa chọn và tìm được nguồn tài trợ thích hợp là nhân tố trực tiếp quyết

định đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

- Chi phí kinh doanh: là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng

vốn. Chí phí tăng làm giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng theo dẫn đến sức tiêu thụ

giảm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Do vậy, các doanh nghiệp ln phấn đấu

giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hố trên thị

trường, q trình tiêu thụ diễn ra nhanh hơn, tăng vòng quay của vốn, góp phần

nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

- Lựa chọn phương án kinh doanh thích hợp: trong nền kinh tế thị trường,

quy mơ và tích chất sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là do thị trường

quyết định. Khả năng nhận biết, dự đoán thị trường và nắm bắt thời cơ là những

nhân tố quyết định đến thành công hay thất bại trong kinh doanh. Vì vậy, việc

lựa chọn đúng phương án kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng

vốn của doanh nghiệp. Các phương án kinh doanh phải được xây dựng trên cơ

sở tiếp cận thị trường. Có như vậy sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp mới có

khả năng tiêu thụ được, vốn lưu động luân chuyển đều đặn, tài sản cố định mới

có khả năng phát huy hết công suất, hiệu quả sử dụng vốn cao.

- Các mối quan hệ của doanh nghiệp: những mối quan hệ này thể hiện trên

hai phương diện là quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và giữa doanh

nghiệp với nhà cung cấp. Điều này rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới nhịp độ

sản xuất kinh doanh, khả năng phân phối sản phẩm, lượng hàng hoá tiêu thụ và

đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Để tạo được

mối quan hệ này doanh nghiệp phải có kế hoạch cụ thể trong việc củng cố các

bạn hàng truyền thống và tìm kiếm thêm bạn hàng mới. Các biện pháp mà doanh

nghiệp có thể áp dụng như: mở rộng mạng lưới giao dịch, tìm nguồn hng, tin

Sinh viên: Phạm Thị Hồng Phơng

K12



12



Lớp: ĐHQTKD



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

học Hồng Đức



Trờng Đại



hnh cỏc chớnh sỏch tín dụng khách hàng, đổi mới quy trình thanh tốn sao cho

thuận tiện, tăng cường công tác xúc tiến, quảng cáo, khuyến mại...

- Trình độ tổ chức và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp: đây là yếu tố vô

cùng quan trọng đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một bộ máy quản

lý tốt có trình độ quản lý cao sẽ giúp cho hoạt động của doanh nghiệp đạt kết

quả cao và ngược lại. Do đó doanh nghiệp phải nâng cao trình độ quản lý đặc

biệt là đối với cán bộ quản lý tài chính về chun mơn nghiệp vụ và tinh thần

trách nhiệm để đảm bảo an tồn về tài chính trong q trình hoạt động kinh

doanh.



2. Các nhân tố khách quan

- Cơ chế quản lý và các chính sách của nhà nước: Trong nền kinh tế thị

trường, mọi doanh nghiệp được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh theo

đúng quy định của pháp luật và khả năng của mình. Nhà nước tạo hành lang

pháp lý và môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh

theo những ngành nghề mà doanh nghiệp đã lựa chọn và hướng các hoạt động

đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mơ. Vì vậy, chỉ một thay đổi nhỏ trong cơ

chế quản lý và chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động của

doanh nghiệp như: việc quy định trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn

bản chính sách về thuế xuất nhập khẩu... Nói chung, sự thay đổi cơ chế và chính

sách của nhà nước sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng vốn có hiệu quả

trong doanh nghiệp. Song nếu doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được những

thay đổi và thích nghi thì sẽ đứng vững trên thị trường và có điều kiện để phát

triển và mở rộng kinh doanh, phát huy khả năng sáng tạo trong quản lý điều

hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Sự tác động của thị trường: tuỳ theo loại thị trường mà doanh nghiệp tham

gia sẽ có những tác động riêng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh

Sinh viên: Phạm Thị Hồng Phơng

K12



13



Lớp: ĐHQTKD



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

học Hồng Đức



Trờng Đại



nghip. Nu th trng m doanh nghiệp tham gia là thị trường tự do cạnh tranh,

sản phẩm của doanh nghiệp đã có uy tín với người tiêu dùng thì đó sẽ là tác

nhân tích cực thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường và tăng doanh thu cho

doanh nghiệp. Còn đối với thị trường khơng ổn định thì hiệu quả sử dụng vốn

kinh doanh cũng không ổn định do kết quả kinh doanh thất thường nên vốn

không được bổ sung kịp thời.

Hiện nay ở nước ta thị trường tài chính chưa phát triển hồn chỉnh, các

chính sách cơng cụ nợ trung và dài hạn còn hạn chế, giá của vốn chưa thực sự

biến động theo giá thị trường mà chủ yếu là giá áp đặt. Đây là điều hết sức khó

khăn cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn cho sản xuất kinh doanh

cũng như thực hiện chính sách đầu tư trong trường hợp có vốn nhàn rỗi. Điều

này cho thấy, để đạt được mục đích sử dụng vốn có hiệu quả là hồn tồn khơng

dễ dàng. Đây là yếu tố mà doanh nghiệp khơng có khả năng tự khắc phục song

lại có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động kinh doanh, làm ảnh hưởng

đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

II. Nội dung vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại

1. Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại

1.1. Thành phần và cơ cấu vốn lưu động

Vốn lưu động là biều hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông.

Vốn lưu động biểu hiện ở cả hai hình thái khác nhau là: hình thái hiện vật và

hình thái giá trị.

Tài sản lưu động của các doanh nghiệp thương mại gồm vật liệu đóng gói,

bao bì, nhiên liệu, dụng cụ và các thứ khác gọi chung là vật tư dùng cho hoạt

động mua bán. Nội dung vật chất của vốn lưu thông trong doanh nghiệp thương

mại là hàng hoá để kinh doanh, tiền nhờ ngân hàng thu và vốn bằng tiền. Nếu

như vốn lưu động cần thiết đối với doanh nghiệp sản suất để mua vật tư cho sản

suất và tiêu thụ sản phẩm, thì đối với doanh nghip thng mi, vn lu ng

Sinh viên: Phạm Thị Hồng Phơng

K12



14



Lớp: ĐHQTKD



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

học Hồng Đức



Trờng §¹i



cần thiết để dự trữ hàng hố phục vụ kinh doanh, để tổ chức cơng tác mua bán

hàng hố.

Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại được chia thành vốn lưu động

định mức và vốn lưu động không định mức.

- Vốn lưu động định mức: là số vốn tối thiểu cần thiết để hồn thành kế

hoạch lưu chuyển hàng hố và kế hoạch sản suất dịch vụ phụ thuộc của các

doanh nghiệp trong kỳ. Vốn lưu động định mức gồm có vốn dự trữ vật tư hàng

hố và vốn phi hàng hố để phục vụ cho q trình kinh doanh.

+ Vốn dự trữ hàng hoá là số tiền dự trữ hàng hoá ở các kho, cửa hàng, trạm,

trị giá hàng hoá trên đường vận chuyển và trị giá hàng hoá thanh tốn bằng

chứng từ. Nó nhằm đảm bảo lượng hàng hố bán bình thường cho các nhu cầu

sản xuất và tiêu dùng khác.

Vốn dự trữ hàng hoá chiếm tới 80 – 90% vốn lưu động định mức và thường

chiếm khoảng 50 – 70% trong toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương

mại.

+ Vốn phi hàng hoá là số tiền định mức của vốn bằng tiền. Vốn phi hàng

hoá gồm có vốn bằng tiền và tài sản khác.

Vốn bằng tiền gồm có: tiền mặt tồn quỹ, tiền bán hàng chưa nộp vào ngân

hàng, tiền ứng kinh phí cho các cơ sở, khoản tiền đang chuyển.

Tài sản khác gồm: Bao bì, vật liệu bao gói, các cơng cụ nhỏ, chi phí đợi

phân bổ. Ngồi ra còn phụ tùng thay thế và dụng cụ nhỏ.

- Vốn lưu động không định mức là số vốn lưu động có thể phát sinh trong

q trình kinh doanh và trong sản suất dịch vụ, nhưng không thể có đủ căn cứ để

tính tốn định mức được.



Sinh viên: Phạm Thị Hồng Phơng

K12



15



Lớp: ĐHQTKD



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×