Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
B. Phân tích định lượng:

B. Phân tích định lượng:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tổng tài sản có sinh lời bình qn năm 2011 là :

(438 887 102 + 351 353 209) / 2 = 395 120 156

Trong khi đó, thu nhập từ lãi của năm 2011 là 55 775 244

Như vậy, chỉ tiêu này >10%, VietinBank đã hoạt động thực sự hiệu quả, quản lý

tốt tài sản để có thể tạo ra thu nhập.

4.Chi lãi/ tài sản có sinh lời bình qn = 35 727 190/ 395 120 156 = 9,04%

Chỉ tiêu này > 6% cho thấy VietinBank đang phải trả chi phí lãi tương đối lớn.

Tuy nhiên, trong năm 2011, có những biến động ảnh hưởng rất lớn tới lãi suất, đã tác

động tới ngân hàng và điều này là có thể giải thích được. Năm 2011, NHNN đã 2 lần

tăng lãi suất chiết khấu (từ 7% năm 2010 lên 13%), 4 lần tăng lãi suất tái cấp vốn (từ

9% lên 15%), 5 lần tăng lãi suất OMO (từ 8% lên 15%). Lãi suất cơ bản đã được giữ

nguyên 9% kể từ năm 2010.



Lãi suất bắt đầu leo thang kể từ đầu tháng 5/2011, có thời điểm huy động VND

lên đến 20%/năm, lãi suất cho vay nông nghiệp nông thôn lên 16,5-20%/năm, cho vay

phi sản xuất từ 25-28%/năm.

Quy định trần lãi suất 14%/năm khiến các NHTM gặp khó về thanh khoản và

phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao. Cá biệt, có những giao dịch

lãi suất lên tới mức 30-40%/năm kỳ hạn 1 tháng.



Khi NHNN chủ trương hạ lãi suất vào những tháng cuối năm 2011, lãi suất liên

ngân hàng đã hạ nhiệt nhờ NHNN bơm một lượng vốn đáng kể trên thị trường OMO.

5.Tổng chi phí /Tổng thu nhập (CIR %):

Tỷ lệ chi phí trên thu nhập là 1 chỉ số tài chính quan trong, đặc biệt trong việc

đánh giá hoạt động ngân hàng. Nó cho thấy được mối tương quan giữa chi phí với thu

nhập của ngân hàng đó. Cơng thức tính bao gồm: Chi phí hoạt động (Chi phí quản lý và

chi phí cố định như lương, chi mua TSCĐ; không bao gồm các khoản nợ xấu, nợ khó

đòi) chia cho thu nhập. Tỷ lệ này cho nhà đầu tư 1 cái nhìn rõ hơn về hiệu quả hoạt động

của tổ chức; tỷ lệ càng nhỏ thì ngân hàng đó càng hoạt động hiệu quả.



Quý 1

Quý 2

Quý 3



CTG

-38,13

-58,87

-55,63



VCB

-35,62

-38,14

-37,89



STB

-42.04

-48,38

-54,92



EIB

SHB

-26,86 -51,73

-28,67 - 54,14

-31,03 -48,61



Quý 4



-14,88

-40,57



-41,35

-38,33



-64,5

-53,13



-33,5 -48,95

-30,62 -50,52



Cả năm



CIR (%) qua các quý và cuối năm 2011

(Nguồn: Thơng tin tài chính trên trang chủ của NHTMCP Cơng Thương Việt

Nam)

Qua bảng số liệu trên, ta thấy tỷ lệ CIR của CTG ở mức trung bình so với những

ngân hàng khác, đạt mức -40,57 %, trong khi tỷ lệ CIR cao nhất là -53,13%, và thấp nhất

là -30,62 %. Điều đó cho thấy khả năng quản lý hoạt động của CTG là khá tốt. Nhưng

nếu so sánh các quý trong năm thì quý 2 và quý 3 tỷ lệ này đột ngột tăng lên rất cao.

Nguyên nhân có thể là do tại thời điểm này nền kinh tế khủng hoảng, các ngân hàng cạnh

tranh nhau rất gay gắt. Trong bối cảnh nền kinh tế và bối cảnh ngành như vậy thì cũng

như các ngân hàng khác, CTG đã đẩy mạnh đầu tư cho cơ sở vật chất, máy móc, nhân

viên cũng như cải tiến, đổi mới sản phẩm... nhằm giữ vững vị thế cạnh tranh trên thị

trường. Động thái này làm cho chi phí được đẩy lên cao, trong khi lợi nhuận thu lại chưa

nhiều, làm cho tỷ lệ CIR tăng đột biến. Sang đến quý 4, ngân hàng đã ngừng đầu tư, đồng

thời lợi nhuận thu được từ các khoản chi phí bỏ ra trước đó tăng lên làm cho CIR giảm

mạnh, chỉ còn -14,88. Nhìn chung, qua bốn quý năm 2011, khả năng quản lý hoạt động

của CTG là khá tốt. Nhờ những chiến lược đúng đắn của ban lãnh đạo và việc thực hiện

nghiêm túc những kế hoạch đã đề ra thì CTG đã vượt qua thời điểm khó khăn trong khi

những ngân hàng khác đang lâm vào tình cảnh lao đao do khủng hoảng kinh tế.

6.Lợi nhuận/Tổng thu nhập:

Năm 2009: = 1.678/5.428 = 0,30914

Năm 2010: = 4.598/14.819 = 0,31028

Năm 2011: = 8.392/22.374 = 0,37508

Chỉ tiêu này cho thấy khả năng hoạt động của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao

chứng tỏ ngân hàng hoạt động càng tốt. Lợi nhuận tăng nhanh hơn so với tổng thu nhập



cho thấy ngân hàng đã có những biện pháp quản lý chi phí chặt chẽ, cắt giảm chi phí hợp

lý. Đồng thời, kinh doanh có lãi đẩy thu nhập tăng cao. Nhờ đó, lợi nhuận qua các năm

tăng lên, dẫn đến tỷ số lợi nhuận trước thuế/ tổng thu nhập tăng lên. Tỷ số này tăng cao

trong năm 2011 cho thấy sự nỗ lực rất nhiều của ban lãnh đạo cũng như của những nhân

viên trong CTG.

2.1.5. Nhóm chỉ tiêu về tính thanh khoản ( L – Liquidity risk exposuar):

Khả năng thanh khoản là một chỉ tiêu quan trọng của NHTM. Nếu ngân hàng

không đảm bảo được khả năng thanh khoản dẫn đến mất tín nhiệm với khách hàng và có

thể đưa ngân hàng đến chỗ phá sản. Việc đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng

dựa trên hai tiêu chí cơ bản sau:

Qua các báo cáo, có thể thấy ngân hàng thường xuyên duy trì một tỷ lệ hợp lý giữa

tài sản có động so với tổng số tiền gửi, đặc biệt chú ý tới thành phần tiền gửi dễ biến

động, mối quan hệ giữa tài sản có động và tài sản nợ động, khả năng thanh khoản của

ngân hàng được đảm bảo

Ngoài ra, VietinBank thường xuyên duy trì nguồn tiền mặt và nguồn tiền gửi

khơng kỳ hạn hoặc các tài sản có thể chuyển đổi ngay sang tiền mặt một cách hợp lý.

Theo thông tư 13 và thông tư 19 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an tồn trong hoạt

động của tổ chức tín dụng thì:



-Tổng tài sản có thanh tốn ngay/Tổng nợ phải trả



Tiền mặt và vàng tại quỹ

Tiền mặt và vàng gửi tại

NHNN

TM và vàng gửi tại TCTD khác



>=15%



Năm 2009

2204.000



Năm 2010

2814.000



Năm 2011

3714.000



5369.000

22499.000



5037.000

46680.000



12101.000

61979.000



Chứng khoán do CP phát hành

CK nợ đã niêm yết

CK vốn đã niêm yết

Nợ phải trả

Tổng TSC thanh toán

ngay/Tổng NPT(%)



232.868

232.868

63.001

30600.737

231008.000



29.123

29.123

37.921

54627.167

349340.000



29.611

29.611

35.779

77889.001

431905.000



13.247



15.637



18.034



Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán ngay của những khoản nợ phải trả. Chỉ

tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán ngay lập tức của ngân hàng càng tốt. Chỉ

số này tăng đều qua các năm từ năm 2009 đến năm 2011 cho thấy CTG luôn sẵn sàng chi

trả cho những khoản nợ với khả năng khá cao. Tuy nhiên, trong năm 2009, chỉ số này đạt

13,247 % < 15% so với quy định trong thông tư 13 cho thấy một năm khó khăn của CTG

trong vấn đề thanh khoản. Sang năm 2010, CTG đã giải quyết được khó khăn trong vấn

đề thanh khoản và đến năm 2011, CTG đã đạt mức thanh khoản khá tốt với con số là

18,034 %. Trong tất cả các khoản mục của tổng TSC thanh tốn ngay thì khoản mục tiền

mặt và vàng gửi tại các TCTD khác là cao nhất và chiếm tỷ trọng nhiều nhất trong tồng

TSC. Điều này đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả giữa các TCTD với nhau, giúp cho

việc thanh toán diễn ra nhanh chóng, thuận tiện. Từ 2009 đến 2011, nợ phải trả năm sau

cao hơn so với năm trước chứng tỏ CTG ln biết tận dụng tối đa nguồn vốn bên ngồi

và phát huy tác dụng của đòn bẩy tài chính một cách hợp lý. Tốc độ tăng của NPT nhỏ

hơn tốc độ tăng của tổng TSC để đảm bảo chỉ số trên luôn tăng.

2.1.6. Sự nhạy cảm của ngân hàng với những rủi ro thị trường ( S – Bank’s Sensitivity to

market risk ) :

Phân tích S nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của thay đổi về lãi suất và/hoặc tỷ

giá đến giá trị của lợi nhuận hay vốn cổ phần. Phân tích S quan tâm đến khả năng của

ban lãnh đạo ngân hàng trong việc xác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị

trường, đồng thời đưa ra dấu hiệu chỉ dẫn định hướng rõ ràng và tập trung.

Có nhiều rủi ro có thể xuất hiện, và VietinBank là ngân hàng lớn, hoạt động nhiều

mảng lĩnh vực nên sẽ chịu nhiều rủi ro: rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá…

Ngân hàng cũng có sức khỏe, và sự đề kháng tốt, chống đỡ tốt với rủi ro.

Các giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ làm phát

sinh trạng thái ngoại tệ (the foreign exchange position – EP):



Vốn tự có = 21.952.329,2 (triệu đồng).

Trong đó trạng thái ngoại tệ là dương cho thấy các giao dịch làm tăng quyền sở

hữumvề 1 ngoại tệ nào đó trong kỳ tính tốn, cụ thể là khoản lãi thuần từ kinh doanh

ngoại hối và vàng là 382.562 (triệu đồng). Trạng thái ngoại tệ dương: lãi tiềm năng nếu

tỷ giá tăng; lỗ phát sinh khi tỷ giá giảm

Trạng thái ngoại tệ dương/Vốn tự có =



1,74% < 20%



Tỷ lệ Trạng thái ngoại tệ dương/Vốn tự có đã đạt yêu cầu, cho thấy ngân hàng đã

thực hiện tốt việc xác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường. Tỷ lệ này cho

biết ngân hàng sử dụng bao nhiêu phần trăm vốn tự có để đầu tư ngoại tệ. Ngân hàng đã

đầu tư đúng đắn, tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.



2.2. Phân tích nhóm chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời:

Ngân hàng VietinBank cũng là một doanh nghiệp, và mục tiêu hoạt động quan

trọng, mà ngân hàng hướng tới vẫn là lợi nhuận. Chúng ta sẽ hiểu hơn về tính hiệu quả

trong kinh doanh của hoạt động ngân hàng tại VietinBank khi phân tích kĩ về các chỉ tiêu

đo lường khả năng sinh lời.

2.2.1. Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE:

Như chúng ta đã biết, ROE là một chỉ tiêu quan trọng, ROE được tính bằng công

thức sau:



ROE =



x 100%



Năm 2011, ROE của Vietinbank là



ROE =



x 100% = 26,81 %



Ý nghĩa của số liệu này cho chúng ta biết, trong năm 2011, với 100 đồng vốn bỏ

ra, sẽ thu được 21,97 đồng. Với mức ROE này, đã cho thấy sự hiệu quả của VietinBank

trong quản lí vốn, và cho thấy sự hấp dẫn khi đầu tư vào đây

Chỉ số này, của năm 2010 là



ROE =



x 100% = 22,39%



So với năm 2010, khi mà với 100 đồng vốn bỏ ra, sẽ thu về đồng, có thể thấy

VietinBank đã có những thành cơng lớn, ROE tăng 4,42%, trong bối cảnh nền kinh tế

Việt Nam chịu nhiều khó khăn, các ngân hàng đứng trước nhiều áp lực, về lãi suất, cạnh

tranh gay gắt, kinh tế chững lại…thì đây là một thành tựu đáng kể, tạo niềm tin lớn cho

công chúng đầu tư, và khẳng định vị thế, thương hiệu VietinBank, với hoạt động hiệu

quả.

ROE tăng, do cả lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu đều tăng, nhưng mức tăng

của lợi nhuận sau thuế cao hơn mức tăng của vốn chủ sở hữu. ( 81,72% so với 56,54%)

Cụ thể, từ năm 2010 tới năm 2011, lợi nhuận sau thuế đã tăng 81,72%, tương ứng

2 814 837 triệu đồng về giá trị tuyệt đối, có thể thấy, đây là mức tăng trưởng vơ cùng ấn

tượng, có được mức tăng này là do nhiều nguyên nhân, như tích cực thu hút tiền gửi dân

cư, đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa đối tượng

khách hàng…

Bảng so sánh các chỉ tiêu qua 2 năm 2010 và 2011

Chỉ tiêu



Thu nhập lãi và các khoản tương tự

Chi phí lãi và các chi phí tương tự

Thu nhập lãi thuần

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ

Chi phí hoạt động dịch vụ

Lãi/lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ

Lãi/lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối

và vàng

Lãi/lỗ thuần từ mua bán chứng khoán kinh

doanh

Lãi/lỗ thuần từ mua bán chứng khốn đầu tư

Thu nhập từ hoạt động khác

Chi phí hoạt động khác

Lãi/lỗ thuần từ hoạt động khác

Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần

Tổng thu nhập hoạt động



Tăng giảm (Giá

trị tuyệt đối )

(Triệu đồng)

23 855 967

15 897 037

7 958 930

115 904

437 636

(321 732)

224 118



Tỷ lê

tăng

giảm

(tương

đối ) (%)

74,74%

80,17%

65,83%

6, 41%

131,27%

21,83%

141,45%



49 521



128,32%



240 967

(150 568 )

96,94

(247 510)

93 125

7 515 485



92,61%

11,22%

138,35%

19,46%

56,71%

50,58%



Chi phí hoạt động

Lợi nhuần thuần từ HĐKD trước CP dự phòng RR

Chi phí dự phòng rủi ro cho các khoản vay Khách

hàng

Chi phí dự phòng rủi ro cho các khoản vay TCTD

Chi phí/Hồn nhập DPRR cho các cam kết ngoại bảng

Tổng lợi nhuận trước thuế

Chi phí thuế TNDN hiện hành

Chi phí thuế TNDN hỗn lại

Chi phí thuế TNDN

Lợi nhuận sau thuế

Lãi cơ bản trên cổ phiếu ( đồng/cổ phiếu)



1 882 575 26,16%

5 632 910 73, 50%

2 390 534 90,18%

8400

519 763

3 753 739

938902

(44 588)

938 902

2 814 837

1083



89,6%

142,51%

80,93%

78,65%

100%

78,65%

81,72%

52,09%



Lợi nhuận sau thuế tăng, do có sự tăng trưởng đáng kể của thu nhập lãi thuần tăng

65,83% , tương ứng 7 958 930 triệu đồng về giá trị. Hầu khắp ở các mặt, đều có sự tăng

trưởng, cho thấy sự hoạt động hiệu quả của Ngân hàng ở trên nhiều mảng hoạt động,

trong đó, có những phát triển tích cực là hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng, tăng

trưởng lên tới 141,45%, mua bán chứng khoán kinh doanh và mua bán chứng khốn đầu

tư cũng có những tiến bộ vượt bậc, lần lượt với mức tăng 128,32 % và 92,61%. Thu nhập

từ góp vốn mua cổ phần cũng có mức tăng là 56,71%. Qua đó, có thể thấy năm 2011, dù

đối diện với nhiều khó khăn trong bối cảnh chung của nền kinh tế thế giới và Việt Nam,

nhưng VietinBank vẫn có những bước phát triển, tăng trưởng mạnh mẽ, và đều khắp ở

các hoạt động chính, tìm kiếm được những cơ hội đầu tư hấp dẫn và mang lại lợi nhuận,

sinh lời cao. Hoạt động duy nhất bị lỗ đó là ở mảng mua bán chứng khốn đầu tư, nhưng

các mảng hoạt động còn lại đều có lãi.

Bảng cơ cấu tỷ trọng trong lợi nhuận của VietinBank theo các mảng hoạt động:



Chỉ tiêu

Tỷ trọng năm 2011 (%)

Thu nhập lãi thuần

89,60

Lãi thuần từ hoạt động dịch

5,15

vụ

Lãi thuần từ hoạt động kinh

1,71

doanh ngoại hối và vàng

Lãi thuần từ mua bán chứng

0,05

khoán kinh doanh

Lãi thuần từ mua bán chứng

(2,24)

khoán đầu tư

Lãi thuần từ hoạt động khác

4,58

Thu nhập từ góp vốn, mua

1,15

cổ phần



Tỷ trọng năm 2010 (%)

81,36

9,92

1,07

(0,26)

(1,75)

8,56

1,11



Dựa vào biểu đồ, chúng ta dễ dàng nhận thấy thu nhập lãi thuần-gắn liền mật thiết

với mảng tín dụng-mảng hoạt động truyền thống và là thế mạnh của VietinBank đang

chiếm tỷ trọng lớn, và có xu hướng tăng, điều này vừa khẳng định sức mạnh của

VietinBank ở lĩnh vực này, nhưng đồng thời, ngân hàng cũng cần đa dạng hóa thêm các

hoạt động, phát triển mạnh hơn ở các hoạt động khác, nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa, và

hướng tới mơ hình ngân hàng hiện đại, phát triển hoàn thiện và toàn diện

Riêng với hoạt động huy động và cho vay-mảng hoạt động chính, là thế mạnh của

VietinBank, mang lại lợi nhuận với tỷ trọng lớn nhất cho ngân hàng, chúng ta có thể thấy

cụ thể qua thuyết minh BCTC:



Trong thu nhập lãi, có thể thấy nguồn mang lại chủ yếu lợi nhuận cho VietinBank

đó là từ hoạt động thu lãi cho vay khách hàng, với tỷ trọng lớn, tới 76,92 % trong tổng

thu nhập từ lãi, có mức tăng nhẹ so với năm 2010 ( 75,46%). So với năm 2010, thu nhập

lãi cho vay khách hàng đã tăng 18 815 053 triệu đồng, tức tăng trưởng 78,11%. Những



con số này đã cho thấy VietinBank đã đạt được những thành tích đáng kể, tích cực mở

rộng, tăng trưởng tín dụng, cung ứng vốn cho nền kinh tế và phát huy hiệu quả của ngân

hàng, đóng góp cho sự phát triển chung

Nhìn chung, hầu khắp các mặt hoạt động thu lãi đều có sự tăng trưởng, nhưng tỷ

trọng còn nhỏ, như hoạt động cho th tài chính…vẫn còn rất khiêm tốn, chưa thực sự

tương xứng tiềm năng. Trong thời gian tới, cùng với xu thế phát triển hoạt động ngân

hàng hiện đại, VietinBank cần tập trung chú trọng hơn tới các hoạt động này.



Dù có những thành tích như thế, tuy nhiên chúng ta có thể nhận thấy một vấn đề

đang xuất hiện, đó là khi chi phí lãi tăng lên theo thu nhập lãi, tuy nhiên mức tăng của chi

phí lãi đã cao hơn mức tăng của thu nhập lãi ( 80,17% so với 74,74%) . Đây là dấu hiệu

chưa tốt, tuy nhiên đặt trong bối cảnh năm 2011, khi mà NHNN có những động thái thắt

chặt tiền tệ, theo nghị quyết 11, và chỉ thị 01. Tăng trưởng tín dụng chậm lại ở mức 12 %,

nền kinh tế đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Như vậy, trong bối cảnh đó, chi phí



lãi tăng với tốc độ cao hơn so với thu nhập lãi là 5,43% là có thể chấp nhận được.



Với hoạt động trên thị trường ngoại hối và vàng, VietinBank đã có lãi, và tăng

trưởng lợi nhuận ấn tượng, 141,45%, đặt trong bối cảnh năm 2011 chứng kiến lần điều

chỉnh tỷ giá mạnh nhất của Ngân hàng Nhà nước, tạo ra cú sốc trên thị trường ngoại hối.

Ngày 11/2, Ngân hàng Nhà nước đã tăng tỷ giá từ 18.932 đồng lên 20.693 đồng đổi một

USD, đồng thời thu hẹp biên độ giao dịch tỷ giá từ 3% xuống 1%. Chỉ sau một đêm, giá

trị VND đã hạ 9,3% so với USD, gay sau đợt điều chỉnh tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước,

tỷ giá ngoài thị trường tự do đã có biến động mạnh, một số thời điểm tỷ giá tự do lên

mức 22.000 đồng ăn một USD. Sau đợt điều chỉnh vào tháng 2, tỷ giá chỉ tăng 0,97%

trong 9 tháng còn lại của năm 2011. Năm 2011 cũng là năm ghi dấu Bước ngoặt trong

chính sách quản lý thị trường vàng. Giá vàng đã tăng khoảng 25% trong năm 2011, mức

tăng cao nhất đạt 40% khi giá vàng đạt đỉnh 49,2 triệu đồng một lượng vào ngày

23/8/2011 khi giá thế giới cũng chạm đỉnh 1.900 USD. Cuối năm, giá vàng trong nước ở

mức 43-45 triệu đồng, giá vàng thế giới cũng có lúc sụt mạnh xuống 1.600 USD. Ngân

hàng Nhà nước đã phải cho phép SJC và 5 ngân hàng thương mại được bán vàng bình ổn

là Sacombank, ACB, Techcombank, DongABank và Eximbank với lượng bán ra khi đó

đạt trên 10 tấn trong vòng 2 tuần. Khi giá vàng thế giới bắt đầu điều chỉnh hạ nhiệt, giá

vàng trong nước vẫn ở mức cao, chênh lệch giá lên đến 3-5 triệu đồng một lượng. Để

giải quyết những bất cập trong quản lý thị trường vàng, Ngân hàng Nhà nước đã xem xét

đưa ra dự thảo với các quy định mới về siết lại việc sản xuất vàng miếng, sử dụng SJC

làm thương hiệu vàng quốc gia. Người dân vẫn tiếp tục được sở hữu vàng miếng, nhưng

việc dập vàng sẽ được quy về một mối là SJC. Thị trường vàng đã chịu sự quản lý bắt

đầu siết chặt hơn.

Trước những biến động mạnh mẽ đó của tỷ giá và các tác động của chính sách

quản lý nhà nước trên thị trường vàng, VietinBank đã cho thấy hoạt động hiệu quả của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

B. Phân tích định lượng:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×