Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần 2 – Báo cáo tài chính VietinBank – điểm nhìn từ những con số:

Phần 2 – Báo cáo tài chính VietinBank – điểm nhìn từ những con số:

Tải bản đầy đủ - 0trang

thực hiện được các nghĩa vụ của mình và được đánh giá thông qua đánh giá mức độ đủ

vốn, chất lượng tín dụng và chất lượng quản lý. Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa

trên 6 yếu tố cơ bản được sử dụng để đánh giá hoạt động của một ngân hàng, đó là: Mức

độ an tồn vốn, Chất lượng tài sản có, Quản lý, Lợi nhuận, Thanh khoản và Mức độ nhạy

cảm thị trường.

2.1. 1.Các chỉ tiêu xếp loại về vốn tự có ( C - Capital adequacy ) :

Đối với ngân hàng, vốn tự có có vai trò vơ cùng quan trọng, chẳng những nó đảm

bảo an tồn vốn, tạo cơ sở cho huy động vốn, tạo cơ sở để ngân hàng thực hiện cho vay,

đầu tư, kinh doanh, qua đó giúp cho ngân hàng phát triển các hoạt động, mở rộng đối

tượng khách hàng. Vốn tự có còn giúp cho ngân hàng tự chủ hơn, sử dụng để mua sắm

tài sản cố định, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ, để phát triển bền vững, hoạt động ổn

định. Ngồi ra, vốn tự có cũng xác định vị thế của ngân hàng. Với những ý nghĩa quan

trọng đó, nhóm CRM xin phân tích kĩ, trọng tâm những chỉ tiêu khi xem xét vốn tự có

của VietinBank. Bao gồm 3 chỉ tiêu chính, cơ bản:

2.1.1.1/ Tỷ lệ an tồn vốn tối thiểu ( CAR ):

Vốn tự có/Tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi >=9% , tỷ lệ này cho chúng ta biết

nguồn vốn có ổn định để cho vay hay khơng, nguồn vốn đó đáp ứng được nhu cầu vay

hay không.

Từ bảng CĐKT thống nhất và báo cáo tình hình thay đổi vốn của Ngân hàng ta có được

các chỉ tiêu sau:

- Vốntựcócấp 1 = 20.229.722 + 445.782 + 1.944.169 + 4.540.639 – (13.612 +

298.440) = 26.848.260 (triệuđồng).

- Vốntựcócấp 2 = 40% x 300.163 + 1.030.421 = 1.150.486,2 (triệuđồng).

 Vốntựcó = 26.848.260 + 1.150.486,2 = 27.998.746,2 (triệuđồng).















- Tài sản có rủi ro = 460.603.925 – 298.440 – 13.612 = 460.291.873 ( triệu đồng)

- Tài sản có rủi ro từ cam kết ngoại bảng = 100% x 47.837.808 = 47.837.808 (trđ)

 Tổng tài sản có rủi ro = 460.291.837+47.837.808=508.129.681 (trđ)

Từ đây ta tính được CAR = 5,51% <9%

Như vậy tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đảm bảo khả năng cho vay của ngân hàng là



không đạt. Cụ thể ta có thể thấy:

 Vốn tự có là tổng VTC cấp 1 và VTC cấp 2. Trong đó VTC cấp 1 gồm vốn điều

lệ, lợi nhuận chưa chia, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, thặng dư vốn cổ phần trừ

đi lợi thế thương mại và các khoản góp vốn mua cổ phần của TCTD khác. Các chỉ

tiêu này đêu được thể hiện đầy đủ trên bảng cân đối kế tốn hợp nhất của ngân

hàng.

 Hồn tồn tương tự ta tính được CAR của năm 2010 = 4,41% < CAR năm

2011=5,51%.

 Với Tổng VTC = 17803311,4 trđ và Tổng TSC rủi ro = 403894577 trđ

 Như vậy tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng năm 2011 đã tăng so với năm

2010, tốc độ tăng là 31,75%, tuy nhiên còn ở mức thấp. Ngân hàng cần chú trọng

hơn tới cân đối vốn



2.1.1.2/Giá trị còn lại của tài sản cố định/Vốn cấp 1 >= 50%

Vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận chưa chia, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều

lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ.

Vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận chưa chia, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều

lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ.

Chỉ tiêu Giá trị còn lại của tài sản cố định /Vốn cấp I là giá trị tài sản còn lại của tài

sản được sử dụng để mang lại doanh thu cho ngân hàng trên nguồn vốn tự có của ngân

hàng. Chỉ tiêu này thể hiện ngân hàng đã sử dụng bao nhiêu phần trăm nguồn vốn tự có

đầu tư vào tài sản cố định tạo lợi nhuận trong tương lai cho ngân hàng. Chỉ tiêu này càng

cao chứng tỏ ngân hàng sử dụng vốn càng an tồn.



Giá trị còn lại của tài sản cố định hữu hình = 2.548.273 (triệu đồng).

Giá trị còn lại của tài sản cố định th tài chính = 0 (triệu đồng).

Giá trị còn lại của tài sản cố định vơ hình = 1.197.944 (triệu đồng).

Giá trị còn lại của tài sản cố định = 2.548.273 + 0 + 1.197.944 = 3.746.217 (triệu

đồng).

Giá trị còn lại của tài sản cố đinh/Vốn cấp 1 =



= 17,16% < 50%



Vietinbank chưa đạt được tỷ lệ tối thiểu là 50% mà chỉ đạt đc 17,16%. Tỷ lệ này

khá nhỏ so với quy định của thông tư 13/TT-NHNN/2010, điều này cho thấy ngân hàng

đã không thực hiện được tốt chỉ tiêu này so với yêu cầu, cho thấy nguồn vốn tự có mang

đi đầu tư vào tài sản cố định đã không tạo ra được lợi nhuận mong muốn trong tương lai.

Tổng mức góp vốn, mua CP vào tất cả các DN, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, TCTD

khác = 2.924.485 (triệu đồng).

Vốn điều lệ = 20.229.722 (triệu đồng).



Quỹ dự trữ của TCTD = 1.476.203 (triệu đồng).

Vốn điều lệ + Quỹ dự trữ của TCTD = 21.705.925 (triệu đồng).

Tổng mức góp vốn, mua CP vào tất cả các DN, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, TCTD

khác/Vốn điều lệ và quỹ dự trữ của TCTD =



= 13,47% < 40%



Chỉ tiêu Tổng mức góp vốn, mua CP vào tất cả các DN, quỹ đầu tư, dự án đầu tư,

TCTD khác/Vốn điều lệ và quỹ dự trữ của TCTD cho biết ngân hàng sử dụng bao nhiêu

phần trăm của Vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp,

quỹ đầu tư, dự án đầu tư, TCTD khác. Chỉ tiêu này đạt 13.47%, đạt tiêu chuẩn so với quy

định cho thấy ngân hàng đã thực hiện tốt, sử dụng hợp lý nguồn vốn điều lệ và quỹ dự trữ

để đầu tư có lãi.

2.1.2. Nhóm chỉ tiêu về chất lượng tài sản có ( A - Asset quality )

Nội dung hoạt động chủ yếu của một ngân hàng thể hiện ở phía tài sản có thể hiện

trên tiêu tổng hợp nói bảng cân đối kế tốn của nó. Quy mơ, cơ cấu và chất lượng tài sản

có quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Chất lượng tài sản có là chỉ lên chất

lượng quản lý, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và triển vọng bền vững của một

ngân hàng. Phần lớn rủi ro trong hoạt động ngân hàng đều tập trung ở phía tài sản của nó,

nên cùng với việc đảm bảo có đủ vốn thì vấn đề nâng cao chất lượng tài sản có là yếu tố

quan trọng đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an tồn.

Tài sản có của ngân hàng bao gồm các tài sản sinh lời và tài sản khơng sinh lời,

trong đó tài sản sinh lời ln chiếm phần chủ yếu. Tài sản có sinh lời là những tài sản

đem lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng đồng thời cũng là những tài sản chứa đựng

nhiều rủi ro. Những tài sản này bao gồm các khoản cho vay, cho thuê tài chính, các

khoản đầu tư vào chứng khốn, góp vốn liên doanh, liên kết... trong đó chiếm tỷ trọng

cao nhất là các khoản cho vay. Nói đến chất lượng tài sản là nói đến chất lượng tài sản có

sinh lời, mà trước hết được phản ánh ở chất lượng của hoạt động tín dụng. Thơng thường,

chất lượng tín dụng của ngân hàng được đánh giá qua các chỉ số: Tỷ lệ giữa nợ quá hạn

so với tổng dư nợ; tỷ lệ giữa tổn thất nợ ròng so với tổng dư nợ; tỷ lệ giữa dự phòng phải

thu khó đòi so với tổng số nợ tổn thất ròng và so với tổng dư nợ. Tỷ lệ và tính chất nợ

quá hạn, nợ khê đọng, mức độ tổn thất trong cho vay cũng như mức trích lập dự phòng

về tổn thất cho vay là chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng. Một ngân hàng

có mức độ tín dụng xấu, tỷ lệ nợ khê đọng cao sẽ gây ra những tổn thất về tài sản, giảm



khả năng sinh lời, trong khi mức dự phòng trích lập khơng đủ sẽ dẫn đến giảm sút vốn tự

có và cuối cùng sẽ mất khả năng thanh toán.

Bên cạnh chất lượng hoạt động tín dụng, chất lượng tài sản của ngân hàng còn thể

hiện ở các tài sản có khác như danh mục đầu tư chứng khoán, tài sản bằng ngoại tệ, vàng

bạc, đá quý. Chất lượng những tài sản này thường thể hiện ở cơ cấu và trạng thái ngoại

hối, chất lượng và trạng thái của danh mục đầu tư. Những khoản mục này cũng có ảnh

hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời và tính thanh khoản của một ngân hàng. Do đó, để

đánh giá chất lượng tài sản và mức độ hoạt động của ngân hàng một cách đầy đủ và

chính xác, một mặt phải xem xét tồn diện cơ cấu, tính chất tài sản mà ngân hàng đang

nắm giữ, mặt khác phải nghiên cứu mối tương quan giữa cơ cấu tài sản có và tài sản nợ.

Mối tương quan này giúp đánh giá tính tối ưu trong cơ cấu tài sản, khả năng phản ứng

của ngân hàng trước những biến động của thị trường, khả năng đứng vững trước những

hiện tượng bất thường của môi trường kinh doanh và đáp ứng yêu cầu rút tiền của công

chúng.

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chất lượng tài sản của ngân

hàng còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố bên ngoài như biến động chính trị, sự

thay đổi các chính sách và luật pháp của nước ngoài, sự biến động của các đồng tiền

quốc gia. Khi đánh giá chất lượng tài sản của ngân hàng trong trường hợp này, cần tính

đến tình hình sử dụng tài sản ở nước ngồi, mối tương quan giữa tài sản của nước ngoài

và tài sản bằng ngoại tệ trong tổng tài sản ngân hàng.



Đây là 10 ngân hàng có tỷ trọng cho vay lớn nhất năm 2011, trong đo Vietinbank

là ngân hàng đứng thứ hai chỉ sau Agribank. Với tỷ trọng cho vay lơn như thế này, ngân

hàng có thực sự quản lý tốt các khoản tín dụng này khơng. Để trả lời câu hỏi này chúng

ta sẽ đi phân tích các chỉ tiêu trong nhóm chỉ tiêu về chất lương tài sản có của Ngân

hàng Vietinbank.

Ngoài ra chúng ta so sanh cụ thể ba ngân hàng được coi là lớn nhất Việt Nam để

thấy rõ hơn tình trạng dư nợ tín dụng của ba ngân hàng này



Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn tại BIDV, VCB và CTG

Cơ cấu dư nợ của 3 ngân hàng đều tập trung chủ yếu ở kỳ hạn ngắn tuy nhiên

phân bổ tỷ lệ có sự khác nhau. Trong khi dư nợ ngắn hạn tại BIDV và VCB chỉ 54-55%

thì tỷ lệ này ở CTG lên xấp xỉ 60%.



Dư nợ cho vay dài hạn tại BIDV và VCB đều trên 33% thì tại CTG chỉ 29,54% dư

nợ dài hạn. Dư nợ dài hạn cao tại BIDV do đây là ngân hàng bán bn và được Chính

phủ chỉ định là ngân hàng giản ngân các khoản vay ODA. Trong khi đó CTG sau cổ phần

hóa đã chuyển hóa và phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ.

Khi nghiên cứu bản báo cáo thường niên của ngân hàng Vietinbank, chúng ta có

thể dễ dàng nhận thấy rằng các khoản vay của các tổ chức tín dụng khác ln đủ tiêu

chuẩn. Do đó, khi phân tích các chỉ số để đánh giá chất lượng tài sản có của Vietinbank

thì chủ yếu đi vào các khoản tín dụng của các khách hàng cá nhận và doanh nghiệp

2.1.2.1/Chỉ tiêu nợ quá hạn/ tổng dư nợ:

Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng tín dụng của một ngân hàng và khả năng sử dụng vốn của

ngân hàng đó. Đây được xem là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá chất lượng hoạt động tín

dụng của một ngân hàng.

Theo báo cáo thường niên của Vietinbank năm 2011: tổng dư nợ của Ngân hàng

này là : 296.934.912 triệu đồng, tổng nợ quá hạn đến thời điểm 31/12/2011 là : 8.221.195

triệu đồng ( trong đó nợ quá hạn của các TCTD khác chiếm 0%). Từ những dữ kiện trên,

ta có thế dễ dàng tính đc chỉ số nợ quá hạn trên tổng dư nợ của Vietinbank là 2,77%. So

với các ngân hàng khác( Vietcombank chỉ số này là 4,09%) thì chỉ số này ở mức độ trung

bình, khơng quá cao. Điều này thể hiện ngân hàng Vietinbank có chất lượng tín dụng khá

tốt, mức độ rủi ro khơng cao, chưa ở mức báo động ( theo quy định của Nhà nước là vượt

5%).

2.1.2.2Nợ xấu/ tổng dư nợ

Dựa vào các chỉ số trên báo cáo tài chính cuối năm 2011 của ngân hàng

Vietinbank, ta sẽ dễ dàng tính được tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của ngân hàng là 0,74%.

Đây là một tỷ lệ khá nhỏ so với tình hình chung khi đem ra để so sánh với các ngân hàng

trong cùng hệ thống. Tỷ lệ nợ xấu này chứng tỏ rằng ngân hàng có khả năng quản lý các

khoản cho vay hợp lý, chất lượng tín dụng khá cao.



Đây là biểu đồ thể hiện tỷ lệ nợ xấu trong một số ngân hàng Việt Nam, trong đó

Vietinbank có tỷ lệ nợ xấu ở mức khơng q cao so với mặt bằng chung, chỉ đứng sau

ngân hàng ACB và STB. Nhưng ngân hàng vẫn phải chú trọng nhiều hơn tới việc quản lý

các khoản tín dụng để giảm thiểu tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt.

2.1.2.3Nợ quá hạn khơng có khả năng thu hồi/ tổng dư nợ

Khả năng thu hồi là tiêu thức để đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng. Ta có

thể thấy rằng: nếu chỉ xét riêng tỷ lệ nợ quá hạn để đi đến kết luận thì trong trường hợp tỷ

lệ nợ quá hạn cao nhưng khả năng thu hồi lớn thì vẫn có thể nói chất lượng hoạt động tín

dụng của ngân hàng ấy là ổn định.

Con số 0,307% là tỷ lệ nợ q hạn khơng có khả năng thu hồi so với tổng dư nợ.

Đây là con số khá nhỏ thề hiện số nợ q hạn khơng có khả năng thu hồi của ngân hàng

Vietinbank là vô cùng thấp, chỉ chiếm chưa tới 1% tổng dư nợ. điều này càng chứng tỏ

cơng tac tín dụng và giám sát các khoản vay của ngân hàng được làm khá tốt. Trình độ

cũng như năng lực của cán bộ tín dụng khá cao.

2.1.2.4/Chỉ số nợ cần chú ý/ tổng dư nợ



Đây là chỉ số bổ sung cho việc xác định tình hình hoạt động tín dụng của ngân

hàng. Tỷ lệ này thể hiện tỷ trọng của nợ xấu trong tổng dư nợ của ngân hàng. Tỷ lệ này

càng cao thì càng chứng tỏ công tác tin dụng tại ngân hàng chưa tốt, độ an tồn vốn của

ngân hàng thiếu sự ổn định.

Nhìn chung với tỷ lệ 2,02%, ngân hàng Vietinbank không phải là quá cao nhưng

cũng đang chạm ngưỡng không cho phép của Nhà nước. So với một số ngân hàng trong

cùng hệ thống thì chỉ số này ở mức trung bình, chưa đáng báo động.

2.1.2.5/Dự phòng rủi ro / tổng tài sản dự phòng phải trích theo quy định

Trong năm, VietinBank đã thực hiện trích đủ theo quyết định 493/QĐ-NHNN

2010



Với con số -137,76%, khi đem so sánh với ngân hàng Vietcombank :-125,13%;

ACB : -175,49%; NHTM CP Sài Gòn SHB : -54,49%



Có thể thấy rằng ngân hàng Vietinbank đang có mức tỷ lệ dự phòng rủi ro đáng

báo động(mặc dù chỉ tiêu này giảm so với năm 2010 là -180,0%). Tình hình nợ xấu và nợ

khó đòi thực sự trở thành vấn đề cấp bách. Ngân hàng cần chú ý hơn để giảm tỷ lệ này



xuông càng thấp càng tốt, đảm bảo an tồn vốn tín dụng tạo điều kiện cho ngân hàng

phát triển mạnh hơn.

2.1.2.6/ Dư nợ cho vay ngành kinh tế lớn nhất trên tổng dư nợ cho vay .

Chỉ tiêu dư nợ cho vay ngành kinh tế lớn nhất trên tổng dư nợ cho vay phản ánh

mức độ cho vay cao nhất của ngân hàng với một ngành trong nền kinh tế để thấy được:

Theo báo cáo tài chính năm 2011 của ngân hàng Viettinbank:

Tổng dư nợ cho vay của ngân hàng 293.434 tỷ đồng. Trong đó cho vay đối với

ngành “ Cơng nghiệp chế biến và chế tạo” có số dư nợ cho vay cao nhất 84.812.339 triệu

đồng. Dư nợ cho vay ngành kinh tế lớn nhất trên tổng dư nợ: 28.89%

Chỉ tiêu này tương đối lớn chiếm tới 28,89% số lượng cho vay của ngân hàng vào

các ngành kinh tế chứng tỏ ngân hàng đang kỳ vọng rất cao về sự tăng trưởng của ngành

này trong tương lai. Tuy nhiên việc tập trung quá lớn nguồn vốn vào một ngành kinh tế

làm giảm khả năng đầu tư sinh lời của ngân hàng vào các ngành kinh tế khác bên cạnh đó

nó làm rủi ro với ngân hàng tăng lên khi lợi nhuận thực tế, mức tăng trưởng của ngành

khơng như kỳ vọng của ngân hàng.



2.1.2.7/Tài sản có sinh lời/Tổng tài sản có nội bảng >=30%

Tài sản có sinh lời bao gồm: tiền gửi, cho vay hoặc đầu tư vốn đang thu lãi khơng

tính các khoản nợ khơng thu được lãi.

Tài sản Có nội bảng được phân thành 6 mục chính:

- Quan hệ với khách hàng khơng phải là TCTD

- Quan hệ với các TCTD khác

- Tiền mặt, chứng từ có giá, vàng

- Tài sản cố định, thiết bị

- Tài sản Có khác

- Lỗ trong kinh doanh.

=> tài sản có nội bảng: 460.603.925(triệu đồng)

=> Tài sản có sinh lời/ tổng tài sản có nội bảng:



=92.59% >30%

Chỉ tiêu này thỏa mãn chính tỏ ngân hàng đã sử dụng hiệu quả trong việc sử dụng

số lượng tài sản có của mình phục vụ cho việc đầu tư tìm kiếm lợi nhuận cho ngân hàng.

Chỉ tiêu tài sản có sinh lời sẽ được phân tích kĩ hơn ở Phần 2-Phân tích NIM

Chỉ tiêu tổng tài sản có nội bảng:

Bảng so sánh các chỉ tiêu tài sản của VietinBank trong năm 2011 so với 2010



Chỉ tiêu

Tiền mặt, vàng bạc, đá quý

Tiền gửi tại NHNN

Tiền, vàng cho vay TCTD khác

Chứng khốn kinh doanh

Các cơng cụ tài chính phái sinh và các tài sản tài chính

khác

Cho vay khách hàng

Chứng khốn đầu tư

Góp vốn, đầu tư dài hạn

Tài sản cố định

Tài sản có khác



Tăng giảm tuyệt

đối ( triệu đồng)

899 911

7 064 266

14 491 144

318 501

994



Tăng giảm

tương đối

(%)

31,98

140,25

28,44

142,06

5,17



58 963 756

2 863 503

831 729

443 871

3 995 595



25,48

4,66

39,74

13,44

38,94



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần 2 – Báo cáo tài chính VietinBank – điểm nhìn từ những con số:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x