Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LLSX và QHSX là hai mặt của PTSX, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX - quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển của xã hội. Q

LLSX và QHSX là hai mặt của PTSX, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX - quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển của xã hội. Q

Tải bản đầy đủ - 0trang

BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



độ phát triển mới của LLSX để thúc đẩy nó tiếp tục phát triển. Thay thế

QHSX cũ bằng QHSX mới cũng có nghóa là PTSX cũ mất đi, PTSX mới ra đời.

- QHSX có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển

của LLSX.

QHSX có sự tác động trở lại đối với LLSX bởi vì QHSX quy đònh mục đích của

sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất,

đến tổ chức phân công lao động xã hội… Sự tác động của QHSX đối với

LLSX có thể diễn ra theo hai hướng:

Nếu QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì nó sẽ là động lực

thúc đẩy LLSX phát triển.

Ngược lại, QHSX lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo so

với trình độ phát triển của LLSX sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX. Khi đó,

theo quy luật chung, QHSX cũ sẽ được thay thế bằng QHSX mới phù hợp với

trình độ phát triển của LLSX để thúc đẩy LLSX phát triển. Khi chúng ta thấy

rằng trong sản xuất, năng xuất lao động không tăng, người lao động không

thiết tha với công việc của họ nữa, thì đó là những biểu hiện của sự

không phù hợp, đòi hỏi phải điều chỉnh lại các yếu tố của QHSX như quan

hệ sở hữu về TLSX; quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất; quan hệ phân

phối sản phẩm.

Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa hai yếu tố này không phải đơn

giản. Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con

người. Trong xã hội có giai cấp thì phải thông qua đấu tranh giai cấp, cách

mạng xã hội.

Kết luận:

Đây là quy luật phổ biến tác động đến toàn bộ tiến trình lòch sử nhân

loại. Quy luật này chứng minh rằng sự thay thế, phát triển của lòch sử nhân

loại từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác

thực chất chỉ là sự phát triển kế tiếp nhau của các PTSX. Sự phát triển

của lòch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thủy qua chế độ chiếm

hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ TBCN và đến chế độ cộng sản

tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy

luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là quy luật cơ bản nhất.

Quy luật này giúp chúng ta thấy được vai trò quyết đònh của sản xuất

đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Do đó, chúng ta phải đặc

biệt quan tâm đến việc tổ chức sản xuất.

Trong đời sống xã hội, muốn sản xuất phát triển, xã hội phát triển thì:

- Phải đầu tư vào sự phát triển của LLSX, mà trước hết phải

đầu tư vào người lao động và CCLĐ.

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay thực chất là

cuộc cách mạng về LLSX: lao động thủ công được thay bằng nền sản xuất

công nghiệp hiện đại trong tương lai. Đối với người lao động thì chúng ta có

những chính sách nhằm nâng cao thể lực và trí lực cho họ như những chính

sách về y tế, giáo dục,…

- Phải hoàn thiện QHSX để nó tác động một cách tích cực trở lại

đối với LLSX.

LÊ HUỲNH TẤN DUY



44



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



Nắm vững nội dung quy luật, Đảng ta đã chủ trương xây dựng PTSX mới ở

nước ta phải tiến hành đồng thời việc xây dựng LLSX và QHSX, đặc biệt

chú ý khi LLSX chưa phát triển mạnh thì cũng không thể xây dựng QHSX vượt

trước nó được vì quy luật này yêu cầu trong trạng thái của LLSX như thế nào

thì trạng thái của QHSX phải như thế đó.

Ngược lại, chúng ta cũng không được phá bỏ những hình thức QHSX vẫn còn

có tác dụng đối với sự phát triển của LLSX. Ví dụ thành phần kinh tế tư

bản vẫn còn có những tác dụng tích cực trong quá trình xây dựng nền kinh

tế hàng hóa ở nước ta hiện nay, chính vì vậy chúng ta vẫn chấp nhận sự

tồn tại của thành phần kinh tế này.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng đònh ở nước ta hiện nay có 6

thành phần kinh tế, việc cho phép tồn tại nhiều thành phần kinh tế như vậy

nhằm huy động tài lực, trí lực và nhân lực vào công cuộc phát triển đất

nước.

Đối với quan hệ trong việc tổ chức, quản lý sản xuất và phân phối sản

phẩm Nhà nước ta cũng đã có những chủ trương, chính sách nhằm chuẩn

hóa đội ngũ cán bộ, hoàn thiện chính sách lao động, tiền lương, phân phối

sản phẩm,…



LÊ HUỲNH TẤN DUY



45



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



CÂU 11:

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CSHT VÀ KTTT

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦNG CỐ, XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1. Khái niệm CSHT và KTTT:

a. Cơ sở hạ tầng:

Là toàn bộ những QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội

nhất đònh.

CSHT của một xã hội cụ thể bao gồm những QHSX sau:

- QHSX thống trò: là QHSX của PTSX đương thời, của xã hội đương thời. Nó

giữ vai trò thống trò trong xã hội. Vai trò đó được thể hiện trên hai phương

diện: thứ nhất, QHSX thống trò nào thì chế độ chính trò sẽ là chế độ ấy.

Thứ hai, QHSX thống trò có khả năng chi phối những QHSX còn lại, nó quy

đònh xu hướng chung của đời sống kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, CSHT của

một xã hội cụ thể được đặc trưng bởi QHSX thống trò trong xã hội đó. Tuy

nhiên, QHSX tàn dư và QHSX mầm móng cũng có vai trò nhất đònh của nó.

- QHSX tàn dư: là QHSX của những PTSX cũ còn tồn đọng lại.

- QHSX mầm móng: là QHSX của PTSX tương lai.

Ví dụ: trong xã hội phong kiến, PTSX phong kiến bao gồm hai yếu tố hợp

thành là LLSX phong kiến và QHSX phong kiến. Đối với xã hội này, QHSX

thống trò là QHSX phong kiến; QHSX tàn dư là QHSX CHNL bởi vì nó vẫn còn

tồn tại trong thời kỳ đầu của chế độ phong kiến; QHSX mầm móng là QHSX

TBCN vì nó đã xuất hiện trong lòng chế độ phong kiến.

Như vậy, xét trong nội bộ PTSX thì QHSX là hình thức phát triển của LLSX,

nhưng xét trong tổng thể các QHXH thì các QHSX hợp thành cơ sở kinh tế của

xã hội, tức là cơ sở hiện thực, trên đó hình thành nên KTTT tương ứng.

b. Kiến trúc thượng tầng:

KTTT là toàn bộ những quan điểm chính trò, pháp quyền, triết học,

đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật… cùng với những thiết chế xã hội

tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã

hội,… được hình thành trên CSHT nhất đònh.

Trong khái niệm trên, chúng ta hiểu rằng thiết chế xã hội tương ứng với

hệ tư tưởng đó là những tổ chức người và những phương tiện vật chất

mà các tổ chức ấy sử dụng để thực hiện hệ tư tưởng.

Ví dụ: thiết chế của hệ tư tưởng chính trò, pháp quyền là nhà nước với

những phương tiện vật chất để thực hiện hệ tư tưởng đó như: đài phát

thanh, truyền hình, giá treo cổ, bãi tử hình, nhà tù… Thiết chế của hệ tư

tưởng tôn giáo đó là giáo hội với những phương tiện vật chất như nhà

thờ, chùa, kinh… Thiết chế của hệ tư tưởng khoa học là những Viện, trung

tâm nghiên cứu…

Một điều chúng ta cần lưu ý là nếu như QHSX thống trò bao giờ cũng giữ vai

trò chủ đạo trong CSHT, thì trong KTTT yếu tố giữ vai trò thống trò sẽ thay đổi

theo thời gian. Ví dụ như trong thời trung cổ, giáo hội là thiết chế giữa vai trò

thống trò đối với xã hội. Nhưng trong thời đại ngày nay, nhà nước và khoa

học mới là những thiết chế giữ vai trò thống trò.

LÊ HUỲNH TẤN DUY



46



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



Mỗi yếu tố của KTTT có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển

riêng nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình

thành trên CSHT. Song mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với

CSHT. Có những yếu tố như chính trò, pháp luật có quan hệ trực tiếp với

CSHT, còn những yếu tố như triết học, tôn giáo, nghệ thuật chỉ quan hệ

gián tiếp với nó.

Trong xã hội có giai cấp, KTTT mang tính giai cấp. Đó chính là cuộc đấu tranh

về mặt chính trò, tư tưởng của các giai cấp đối kháng, trong đó đặc trưng là

sự thống trò về mặt chính trò - tư tưởng của giai cấp thống trò.

Trong KTTT của xã hội có giai cấp, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng.

Nó tiêu biểu cho chế độ chính trò của một xã hội nhất đònh. Nhờ có nhà

nước, giai cấp thống trò mới thực hiện được sự thống trò của mình về tất cả

các mặt của đời sống xã hội.

2. Quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT:

a) CSHT quyết đònh KTTT:

CSHT và KTTT là hai mặt của đời sống xã hội, chúng thống nhất biện

chứng với nhau, trong đó CSHT đóng vai trò quyết đònh đối với KTTT. Điều

này thể hiện qua hai nội dung cơ bản sau:

- Thứ nhất, CSHT như thế nào thì KTTT cũng phải tương ứng như vậy.

Tính chất của KTTT là do tính chất của CSHT quyết đònh. Trong xã hội có giai

cấp, giai cấp nào thống trò về kinh tế thì cũng chiếm vò trí thống trò về mặt

chính trò và đời sống tinh thần của xã hội. Các mâu thuẫn trong kinh tế

xét đến cùng, quyết đònh các mâu thuẫn trong lónh vực chính trò, tư tưởng;

cuộc đấu tranh giai cấp về chính trò tư tưởng là biểu hiện những đối kháng

trong đời sống kinh tế. Tất cả các yếu tố của KTTT như nhà nước, pháp

quyền, triết học, tôn giáo… đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào CSHT,

do CSHT quyết đònh.

- Thứ hai, vai trò quyết đònh của CSHT đối với KTTT còn thể hiện ở

chỗ: khi CSHT thay đổi thì sớm hay muộn KTTT cũng thay đổi theo.

Mác viết: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái KTTT đồ sộ cũng bò đảo

lộn ít nhiều nhanh chóng”.

Ví dụ: Khi nền sản xuất phong kiến bò thay đổi bởi nền sản xuất TBCN, tức

là CSHT đã thay đổi thì nhất đònh KTTT trong xã hội phong kiến cũng sẽ phải

thay đổi theo, mà lòch sử đã chứng minh vấn đề này một cách rõ ràng.

Chúng ta thấy cơ cấu tổ chức của BMNN phong kiến có sự thay đổi rất mạnh

mẽ và toàn diện: các chức quan như thượng thư, thò lang… đã không còn

tồn tại nữa mà thay vào đó là các thiết chế khác như thượng viện, hạ

viện,… Ngoài ra, hệ thống quan điểm, quan niệm, hệ giá trò của chế độ

phong kiến cũng có sự thay đổi rất lớn khi nền sản xuất phong kiến không

còn nữa.

Quá trình đó diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổi từ hình thái kinh tếxã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác mà còn diễn ra ngay trong

bản thân mỗi hình thái kinh tế - xã hội.

Tuy sự thay đổi của KTTT cũng gắn với sự phát triển của LLSX, nhưng LLSX

không trực tiếp làm thay đổi KTTT. Sự phát triển của LLSX chỉ trực tiếp làm



LÊ HUỲNH TẤN DUY



47



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



thay đổi QHSX, tức trực tiếp làm thay đổi CSHT và thông qua đó làm thay đổi

KTTT.

Sự thay đổi CSHT dẫn đến làm thay đổi KTTT diễn ra rất phức tạp. Trong đó

có những yếu tố của KTTT thay đổi nhanh chóng cùng với sự thay đổi CSHT

như: chính trò, pháp luật,… nhưng đồng thời cũng có những yếu tố thay đổi

chậm hơn như: tôn giáo, nghệ thuật,… hoặc có những yếu tố vẫn được kế

thừa trong xã hội mới. Trong xã hội có giai cấp, sự thay đổi đó phải thông

qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội.

b) KTTT tác động trở lại CSHT:

Tuy CSHT quyết đònh KTTT, KTTT phù hợp với CSHT nhưng đó không phải là sự

phù hợp một cách giản đơn, máy móc. Toàn bộ KTTT, cũng như các yếu tố

cấu thành nó đều có tính độc lập tương đối trong quá trình vận động phát

triển và tác động một cách mạnh mẽ đối với CSHT.

Tất cả các yếu tố cấu thành KTTT đều có tác động đến CSHT. Tuy nhiên,

mỗi yếu tố khác nhau có vai trò, cách thức tác động khác nhau. Trong xã

hội có giai cấp, nhà nước là yếu tố có tác động mạnh nhất đối với CSHT

vì đó là bộ máy bạo lực tập trung của giai cấp thống trò về kinh tế. Các

yếu tố khác của KTTT như: triết học, tôn giáo, nghệ thuật… cũng đều có

những tác động nhất đònh đến CSHT, nhưng chúng đều bò nhà nước, pháp

luật chi phối.

- Sự tác động của KTTT đối với CSHT có thể diễn ra theo hai chiều hướng:

+ Thứ nhất, KTTT thúc đẩy CSHT phát triển, tức là thúc đẩy sản

xuất phát triển. Điều này xảy ra khi hệ tư tưởng thuộc về KTTT là khoa

học, cơ cấu tổ chức của các thiết chế chặt chẽ, vững mạnh, cơ sở vật

chất đủ điều kiện để hoạt động; cũng như khi KTTT tác động phù hợp với

các quy luật khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát

triển.

+ Thứ hai, KTTT cũng có thể kìm hãm sự phát triển của CSHT. Đó là

trường hợp cơ cấu tổ chức của các thiết chế lủng củng, không khoa học,

không trong sạch…

Tuy KTTT có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế, nhưng không

làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quan của xã hội. Xét đến

cùng, nhân tố kinh tế đóng vai trò quyết đònh đối với KTTT. Nếu KTTT kìm

hãm sự phát triển kinh tế thì sớm hay muộn, bằng cách này hay cách khác,

KTTT cũ sẽ được thay thế bằng KTTT mới tiến bộ để thúc đẩy kinh tế tiếp

tục phát triển.

- KTTT luôn tìm cách duy trì, củng cố, bảo vệ và phát triển QHSX

thống trò, tức là QHSX đã sản sinh ra nó. Song song đó, nó cũng tìm

mọi cách để khống chế những gì có ảnh hưởng xấu đến QHSX

thống trò.

Ví dụ như đối với nước ta hiện nay, QHSX XHCN là QHSX thống trò, QHSX này

được thể hiện chủ yếu qua các cơ sở sản xuất quốc doanh. Thành phần

kinh tế này rất được Nhà nước ta ưu ái trên nhiều vấn đề như: đào tạo

nhân lực, các điều kiện cho vay vốn, chính sách thuế,… Trong khi đó, đối với

những thành phần kinh tế khác thì phải chòu sự quản lý rất chặt chẽ của

Nhà nước về tất cả các phương diện như: thuế, môi trường, môi sinh,…

LÊ HUỲNH TẤN DUY



48



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



3. Ý nghóa:

- Muốn sản xuất phát triển, xã hội phát triển thì con người phải không

ngừng củng cố, hoàn thiện QHSX thống trò, đầu tư, tạo những điều kiện

thuận lợi cho nó phát triển.

- Không ngừng củng cố KTTT mà trước hết là BMNN, bộ máy Đảng (thông

qua hoạt động chỉnh đốn đảng).

- Luôn đề cao vai trò của hệ tư tưởng khoa học: dân tộc ta lấy chủ nghóa

Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm đời sống tinh thần cho cả dân tộc

bởi vì hệ tư tưởng này mang tính nhân văn và khoa học rất cao.

- Con người là một thực thể sinh học - xã hội, do đó muốn phát triển xã

hội, trước hết bản thân mỗi cá nhân trong xã hội phải tìm mọi cách để

hoàn thiện mình.



KẾT LUẬN

Từ tất cả những vấn đề trên, chúng ta thấy LLSX là yếu tố tự nó thường

xuyên biến đổi, nhưng khi nó biến đổi đến một mức độ nhất đònh thì QHSX

phải thay đổi theo. Khi toàn bộ các QHSX thay đổi thì cũng là lúc CSHT thay

đổi, mà CSHT thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi của KTTT. Đến đây, tất cả

các yếu tố tạo nên một hình thái kinh tế - xã hội đã thay đổi, tức là hình

thái kinh tế - xã hội này đã chuyển sang hình thái kinh tế - xã hội khác cao

hơn, xã hội này đã chuyển sang một xã hội khác cao hơn. Như vậy, sự phát

triển của các hình thái kinh tế - xã hội không tuân theo ý muốn của một

cá nhân cầm quyền, đảng phái cầm quyền hay giai cấp cầm quyền nào,

không tuân theo ý nuốn chủ quan của con người mà nó là một quá trình

lòch sử - tự nhiên, nghóa là nó tuân theo những quy luật khách quan, trong

đó quy luật quan trọng nhất là quy luật về LLSX - QHSX; quy luật về CSHT KTTT.

Việc nghiên cứu học thuyết hình thái kinh tế - xã hội có những ý nghóa sau:

- Giúp chúng ta hiểu được cấu trúc của một xã hội, trên cơ sở đó cho

phép chúng ta hiểu những nguyên nhân cũng như động lực cơ bản làm cho

xã hội phát triển.

- Cho chúng ta thấy sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình

lòch sử - tự nhiên.

Vận dụng quy luật này vào tình hình nước ta hiện nay:

- Muốn cho xã hội phát triển thì phải đầu tư vào LLSX (công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước).

- Hoàn thiện QHSX, tức là hoàn thiện CSHT (đa thành phần kinh tế, chính

sách quản lý tiền lương, lao động,…) để tác động tích cực đến LLSX.

- Hoàn thiện KTTT để nó tác động tích cực đến QHSX và LLSX (khẳng đònh

hệ tư tưởng khoa học là kim chỉ nam cho đời sống tinh thần của dân tộc ta

là chủ nghóa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; hoàn thiện bộ máy Đảng,

BMNN để xây dựng Đảng, BMNN trong sạch, vững mạnh).

CÂU 12:



LÊ HUỲNH TẤN DUY



49



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



Ý THỨC XÃ HỘI, VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Chúng ta biết rằng vật chất và ý thức là hai phạm trù triết học có mối

quan hệ biện chứng với nhau. Theo Lênin thì: “Vật chất là một phạm trù

triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong

cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn

tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Còn ý thức là sự phản ánh hiện thực

khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo. Vật

chất và ý thức đề cập ở đây được xem xét trong phạm vi toàn bộ vũ trụ.

Nhưng nếu chúng ta chỉ xem xét trong phạm vi xã hội thì mối quan hệ đó sẽ

được thể hiện thông qua mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố là tồn

tại xã hội và ý thức xã hội.

Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ biện chứng này, trước hết chúng ta cần

thiết phải biết được tồn tại xã hội là gì, ý thức xã hội là gì và những

biểu hiện cơ bản của chúng.

1. Tồn tại xã hội:

TTXH là sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất

của xã hội. Đó là những sự vật, hiện tượng, quan hệ, quá trình… tồn tại

ngoài ý thức, không phụ thuộc vào ý thức của con người.

TTXH có ba biểu hiện cơ bản sau:

- Điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh đòa lý.

- Dân số: bao gồm các yếu tố như số lượng dân số, mật độ dân số, chất

lượng dân số, độ tăng dân số…

- Phương thức sản xuất: bao gồm hai yếu tố là LLSX và QHSX.

Trong ba yếu tố trên thì phương thức sản xuất giữa vai trò quyết đònh đối

với quá trình sản xuất, đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Còn

hai yếu tố còn lại là những yếu tố có những ảnh hưởng nhất đònh đến

quá trình sản xuất.

2. Ý thức xã hội:

YTXH là sự phản ánh TTXH vào bộ não của con người. YTXH là mặt

tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng,

tình cảm, tâm trạng, truyền thống… của cộng đồng xã hội, nảy

sinh từ TTXH trong những giai đoạn phát triển nhất đònh.

Chúng ta cần thấy rõ sự khác nhau tương đối giữa YTXH và ý thức cá

nhân. Ý thức của cá nhân phản ánh TTXH với những mức độ khác nhau.

Do đó nó không thể không mang tính xã hội. Song ý thức cá nhân không

phải bao giờ cũng thể hiện quan điểm, tư tưởng, tình cảm phổ biến của

một cộng đồng, một tập đoàn xã hội, một thời đại xã hội nhất đònh.

YTXH và ý thức cá nhân tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với

nhau, thâm nhập vào nhau và làm phong phú nhau. YTXH được hình thành trên

cơ sở ý thức cá nhân nhưng nó không phụ thuộc vào ý thức cá nhân và

càng không phải là ý thức cá nhân.

YTXH gồm những hiện tượng tinh thần, những bộ phận, những hình thái khác

nhau phản ánh TTXH bằng những phương thức khác nhau. Chúng ta có thể

phân YTXH thành những dạng sau đây tùy theo góc độ xem xét:



LÊ HUỲNH TẤN DUY



50



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



- Nếu xét theo trình độ phát triển thì YTXH được chia thành hai cấp

độ là ý thức đời thường và ý thức lý luận.

Ý thức đời thường: là những tri thức, những quan niệm của con người

hình thành một cách trực tiếp trong hoạt động thực tiễn hành ngày, chưa

được hệ thống hóa, khái quát hóa. Ý thức đời thường thường phản ánh

sinh động, trực tiếp nhiều mặt của cuộc sống hàng ngày của con người,

thường xuyên chi phối cuộc sống đó.

Ý thức đời thường bao gồm các bộ phận như: tâm lý xã hội, tri thức kinh

nghiệm đời thường,… trong đó tâm lý xã hội là bộ phân quan trọng nhất,

được biểu hiện thông qua những thói quen, phong tục, tập quán của con

người trong xã hội. Còn tri thức kinh nghiệm đó là những kiến thức mà con

người đã tổng kết, đúc kết được qua quá trình thực hiện rất nhiều lần một

công việc nhất đònh nào đó.

Chúng ta dễ dàng nhận ra rằng ý thức đời thường phản ánh một cách

nông cạn, hời hợt, chưa đi vào nội dung bên trong, vào bản chất của một sự

vật, hiện tượng bất kỳ nào đó mà nó phản ánh. Ví dụ như những tri thức

kinh nghiệm sẽ rất dễ trở thành bất lực khi những điều kiện có sự thay

đổi.

Ý thức đời thường tuy là cấp độ thấp so với ý thức lý luận nhưng những

tri thức kinh nghiệm phong phú đó có thể trở thành tiền đề quan trọng cho

sự hình thành các lý thuyết xã hội.

Ý thức lý luận: là những tư tưởng, quan điểm được hệ thống hóa, khái

quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trìn bày dưới dạng những khái

niệm, phạm trù, quy luật. Hạt nhân của ý thức luận là hệ tư tưởng, còn

về mặt tri thức thì đó là tri thức lý luận và tri thức khoa học kinh nghiệm.

Ý thức lý luận là cấp độ cao của ý thức xã hội. Con người muốn đạt

được cấp độ này thì bản thân con người phải có một vốn tri thức, kinh

nghiệm nhất đònh. Trên cơ sở đó, con người phải học tập, nghiên cứu, tổng

kết, đúc kết một cách nghiêm túc, tự giác.

Ý thức lý luận có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách

khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của

các sự vật và hiện tượng. Ý thức lý luận giúp con người trả lời được

những câu hỏi như: sự vật đó là gì, có nguồn gốc từ đâu, bản chất như

thế nào, có chức năng gì…

Có thể nói ý thức lý luận đã đi sâu vào cái sâu thẳm bên trong, vào

bản chất của sự vật, hiện tượng; tìm ra được những quy luật chi phối sự hình

thành, phát sinh, phát triển của đối tượng. Ngoài ra, ý thức lý luận còn

cho phép con người thành công khi điều kiện đã hoàn toàn thay đổi.

Tuy có những ưu điểm như trên, ý thức lý luận vẫn có một số hạn chế

nhất đònh. Chúng ta biết rằng giữa lý luận và thực tiễn luôn có một

khoảng cách, chúng không bao giờ trùng khít lên nhau. Lý luận ngay từ khi

được hình thành thì tự bản thân nó đã chứa đựng hai khả năng là đúng và

có thể không đúng vì đây là sản phẩm của quá trình khái quát hóa, trừu

tượng hóa diễn ra trong bộ não con người.

- Nếu xét theo sự biểu hiện (chiều ngang của YTXH) thì YTXH được chia

thành những hình thái YTXH.

LÊ HUỲNH TẤN DUY



51



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



YTXH tồn tại trong nhiều hình thái khác nhau. Những hình thái chủ yếu của

YTXH bao gồm ý thức chính trò, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý

thức khoa học, ý thức nghệ thuật, ý thức tôn giáo. Tính phong phú, đa dạng

của các hình thái YTXH phản ánh tính phong phú, đa dạng của bản thân đời

sống xã hội. Trong những hình thái YTXH có những hình thái gần với cơ sở

kinh tế, với tồn tại xã hội hơn; có những hình thái YTXH xa cơ sở kinh tế hơn.

Trong các hình thái YTXH khác nhau thì ý thức chính trò và ý thức pháp

quyền gần với cơ sở kinh tế hơn cả.

3. Tính giai cấp của YTXH:

Dựa trên những cơ sở phân chia khác nhau, thì YTXH cũng mang nhiều loại tính

chất khác nhau như: tính giai cấp, tính dân tộc, tính vùng, tính thời đại, tính

nhân loại phổ biến… trong đó, tính giai cấp là đặc tính quan trọng nhất của

YTXH.

Trong xã hội có giai cấp, đời sống tinh thần của những giai cấp khác nhau

thì khác nhau. Bởi vì những giai cấp khác nhau sẽ có đời sống vật chất,

điều kiện sinh hoạt vật chất, những lợi ích khác nhau do đòa vò xã hội của

mỗi giai cấp quy đònh. Sự khác nhau này thể hiện ở tâm lý xã hội cũng

như hệ tư tưởng của mỗi giai cấp trong xã hội.

Về mặt tâm lý xã hội, mỗi giai cấp đều có tình cảm, tâm trạng, thói quen

riêng, có thiện cảm hay ác cảm với tập đoàn xã hội này hoặc tập đoàn

xã hội khác.

Ở trình độ hệ tư tưởng thì tính giai cấp của YTXH biểu hiện sâu sắc hơn.

Trong xã hội có đối kháng giai cấp bao giờ cũng có những quan điểm, tư

tưởng hoặc những hệ tư tưởng đối lập nhau. Ví dụ tư tưởng của giai cấp bò

bóc lột và giai cấp bóc lột; của giai cấp thống trò và giai cấp bò trò. Nếu

hệ tư tưởng của giai cấp thống trò ra sức bảo vệ đòa vò của giai cấp đó thì

hệ tư tưởng của giai cấp bò trò, bò bóc lột thể hiện nguyện vọng và lợi ích

của quần chúng nhân dân lao động chống lại xã hội người bóc lột người,

nhằm xây dựng một xã hội công bằng.

Mặc dù mỗi giai cấp có đời sống tinh thần khác nhau nhưng tư tưởng thống

trò của một thời đại, của toàn xã hội bao giờ cũng là tư tưởng của giai

cấp thống trò về kinh tế và chính trò ở thời đại, trong xã hội đó. Điều này

xuất phát từ vấn đề giai cấp thống trò là giai cấp nắm trong tay phần lớn

những TLSX chủ yếu. Hơn thế nữa chỉ giai cấp thống trò mới có một bộ

máy viên chức đông đảo, có đầy đủ những cơ sở vật chất, phương tiện

vật chất để truyền bá hệ tư tưởng của nó.

Tuy hệ tư tưởng của giai cấp thống trò giữ vai trò thống trò trong toàn xã hội

nhưng tư tưởng của các giai cấp có sự thâm nhập, ảnh hưởng, tác động

qua lại với nhau. Ví dụ: người lao động chân tay luôn muốn con, cháu họ cố

gắng học tập, nghiên cứu để sau này có thể thoát khỏi việc lao động

nặng nhọc. Tư tưởng đó của họ có được là do chòu sự ảnh hưởng bởi tư

tưởng của một giai cấp khác, giai cấp thống trò chứ bản thân những người

lao động chân tay họ ngay từ đầu họ không thể nhận thức được vấn đề

đó. Ngược lại, có những người thuộc giai cấp thống trò, có của cải, có đòa

vò xã hội nhưng họ lại tự nguyện từ bỏ giai cấp xuất thân của mình chuyển

sang hàng ngũ giai cấp cách mạng, chòu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp

LÊ HUỲNH TẤN DUY



52



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



đó. Một số người còn trở thành nhà tư tưởng của giai cấp cách mạng mà

cuộc đời, sự nghiệp của Mác và Lênin là một minh chứng cho điều đó.

Trong xã hội có giai cấp, YTXH không chỉ mang dấu ấn của những điều

kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp, mà còn phản ánh những điều kiện

sinh hoạt động chung của dân tộc; những điều kiện lòch sử, kinh tế, chính trò,

văn hóa, xã hội, điều kiện tự nhiên hình thành trong quá trình phát triển

lâu dài của dân tộc. Vì vậy trong YTXH ngoài tâm lý và hệ tư tưởng xã

hội của giai cấp, còn bao gồm tâm lý dân tộc, tập quán, thói quen, tính

cách… của dân tộc, phản ánhnhững điều kiện sinh hoạt chung của dân

tộc, thắm sâu vào mọi lónh vực đời sống tinh thần của dân tộc, truyền từ

thế hệ này qua thế hệ khác tạo thành truyền thống dân tộc.

Tâm lý dân tộc tuy phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc

và mang tính chất toàn dân tộc nhưng có mối liên hệ hữu cơ với ý thức

giai cấp. Giai cấp cách mạng tiến bộ phát huy những giá trò tinh thần của

dân tộc, ngược lại những tư tưởng giai cấp phản động mâu thuẫn sâu sắc

với các giá trò đó. Ở Việt Nam, giai cấp công nhân được vũ trang bằng hệ

tư tưởng của Mác-Lênin luôn quan tâm sâu sắc đến việc bảo vệ và phát

triển những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

4. Quan hệ biện chứng giữa TTXH và YTXH:

Mối quan hệ biện chứng giữa TTXH và YTXH về thực chất đó là mối quan

hệ giữa vật chất và ý thức trong phạm vi xã hội. Mối quan hệ biện chứng

này thể hiện trên hai nội dung cơ bản sau:

- Thứ nhất, TTXH quyết đònh YTXH.

TTXH quyết đònh cả hình thức biểu hiện lẫn nội dung của YTXH. Vì YTXH chỉ

là hình ảnh của TTXH được ghi nhận trong bộ não của con người. Do đó, khi

TTXH thay đổi thì YTXH cũng phải thay đổi theo cho phù hợp. Ví dụ con người

sống trong những hoàn cảnh đòa lý khác nhau sẽ có những thói quen, phong

tục, tập quán, quan điểm, quan niệm khác nhau. Cụ thể như nhân dân ba

miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam.

C.Mác và Ăngghen đã chứng minh rằng đời sống tinh thần của xã hội hình

thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật chất, không thể tìm

nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội ngay trong bản thân nó, đầu óc

con người, mà phải tìm trong hiện thực vật chất. Sự biến đổi của một thời

đại nào đó cũng sẽ không thể giải thích được nếu chỉ căn cứ vào ý thức

của thời đại ấy.

Những luận điểm trên đây đã bác bỏ quan niệm sai lầm của CNDT đi tìm

nguồun gốc của ý thức trong bản thân nó; xem tin thần, tư tưởng là nguồn

gốc cuủa mọi hiện tượng xã hội, quyết đònh sự phát triển xã hội và trình

bày lòch sử các hình thái YTXH tách rời khỏi cơ sở kinh tế-xã hội.

CNDV chỉ tõ rằng TTXH quyết đònh YTXH, YTXH là sự phản ánh của TTXH, phụ

thuộc vào TTXH. Mỗi khi TTXH, nhất là PTSX biến đổi thì những tư tưởng và

lý luận xã hội… sớm muộn sẽ thay đổi theo. Cho nên, ở những thời kỳ

lòch sử khác nhau nếu cúng ta thấy có những lý luận, quan điểm, tư tưởng

xã hội khác nhau thì đó là do những điều kiện khác nhau của đời sống vật

chất quyết đònh.



LÊ HUỲNH TẤN DUY



53



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



Ví dụ trong xã hội CXNT, do trình độ của LLSX còn hết sức thấp kém, mọi

người còn sống chung, làm chung và hưởng chung nên chưa có quan niệm về

tư hữu, chưa có ý thức bóc lột. Nhưng khi chế độ CXNT tan rã, chế độ CHNL

ra đời, xã hội phân chia giàu, nghèo và có giai cấp thì ý thức con người

cũng có sự biến đổi căn bản, nảy sinh và phát triển tư tưởng tư hữu, bóc

lột, chủ nghóa cá nhân…

CNDVBC cũng đã chỉ ra rằng TTXH quyết đònh YTXH không phải một cách đơn

giản trực tiếp mà thường thông qua các khâu trung gian. Không phải bất

cứ tư tưởng, quan niệm… nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những

quan hệ kinh tế của thời đại, mà chỉ khi nào xét đến cùng thì chúng ta

mới thấy rõ những mối quan hệ kinhtế được phản ánh bằng cách này hay

cách khác trong các tư tưởng ấy.

- Thứ hai, YTXH có tính độc lập tương đối trong mối quan hệ với

TTXH.

Khi khẳng đònh vai trò quyết đònh của TTXH đối với YTXH và YTXH là sự phản

ánh của TTXH, phụ thuộc vào TTXH, CNDV không xem YTXH như một yếu tố

thụ động, trái lại còn nhấn mạnh tác dụng tích cực của YTXH đối với đời

sống kinh tế-xã hội, nhấn mạnh tính độc lập tương đối của YTXH trong mối

quan hệ với TTXH. Tính độc lập tương đối đó thể hiện ở những điểm sau:

+ YTXH thường lạc hậu hơn so với TTXH.

Lòch sử xã hội cho thấy, nhiều khi xã hội cũ đã mất đi, nhưng YTXH do xã

hội đó sinh ra vẫn tồn tại dai dẳng. Tính độc lập tương đối này thể hiện rõ

nhất trong lónh vực tâm lý xã hội như: truyền thống, tập quán, thói quen…

Ví dụ nền sản xuất phong kiến đã đi qua từ lâu nhưng hệ tư tưởng phong

kiến còn tồn tại mãi cho đến ngày hôm nay. Lênin cho rằng: sức mạnh của

tập quán được tạo ra qua nhiều thế kỷ là sức mạnh ghê gớm nhất.

Vấn đề trên xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, sự biến đổi của TTXH tác động mạnh mẽ, thường xuyên và trực

tiếp của những hoạt động thực tiễn của con người, thường diễn ra với tốc

độ nhanh mà YTXH không phản ánh kòp và trở nên lạc hậu. Hơn nữa, YTXH

là cái phản ánh TTXH nên nói chung chỉ biến đổi sau khi có sự biến đổi

của TTXH.

Thứ hai, do sức mạnh của thói quen, truyền thống, phong tục… cũng như do

tính lạc hậu, bảo thủ của một số hình thái YTXH.

Thứ ba, YTXH luôn gắn với lợi ích của những nhóm, những tập đoàn người,

những giai cấp nhất đònh trong xã hội. Vì vậy, những tư tưởng cũ, lỗi thời

thường được những lực lượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá

nhằm chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ.

+ YTXH có thể vượt trước TTXH.

Triết học Mácxít thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất đònh, tư tưởng

của con người, đặc biệt là những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt

trước sự phát triển của TTXH, dự báo được tương lai và có tác dụng tổ

chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người, hướng hoạt động đó vào

việc giải quyết những nhiệm vụ mới do sự phát triển chính muồi của đời

sống vật chất của xã hội đặt ra.



LÊ HUỲNH TẤN DUY



54



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LLSX và QHSX là hai mặt của PTSX, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX - quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển của xã hội. Q

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×