Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. KẾT CẤU CỦA Ý THỨC

III. KẾT CẤU CỦA Ý THỨC

Tải bản đầy đủ - 0trang

BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



CÂU 3:

TRÌNH BÀY QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN

CHỨNG VỀ QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC.

NHỮNG NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐƯC RÚT RA

TỪ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG ĐÓ?

I. MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

Chúng ta biết rằng vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của triết

học đó là tìm cách giải quyết thỏa đáng mối quan hệ biện

chứng giữa hai phạm trù vật chất và ý thức, nhằm vạch ra

những đònh hướng cơ bản để giải quyết các vấn đề khác của

triết học. Đây cũng chính là nội dung chính của cuộc đấu tranh

không khoan nhượng giữa CNDV và CNDT trong lòch sử triết học cho

đến ngày hôm nay.

Theo quan điểm của CNDT, thì thực thể của thế giới, cơ sở của

mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó. Hay nói cách

khác, họ cho rằng trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

thì ý thức là yếu tố sản sinh ra vật chất và quyết đònh vật

chất.

Các quan điểm của CNDV trước Mác mặc dù đã thấy được vai

trò quyết đònh của vật chất đối với ý thức, nhưng không thấy

được sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất. Và do

vậy, những nhà duy vật cổ đại đã không thể giải quyết một

cách toàn diện mối quan hệ giữa hai phạm trù triết học này.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm của Mác, Ăngghen

về vật chất, khắc phục những hạn chế của CNDV máy móc,

siêu hình lẫn CNDT, Lênin đã nêu lên đònh nghóa về vật chất

với nội dung như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học

dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con

người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép

lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào

cảm giác”.

Với những nội dung cơ bản như trên, phạm trù vật chất trong

đònh nghóa của Lênin có nhiều ý nghóa to lớn. Đònh nghóa này

đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghóa duy vật trước

Mác về vật chất, nó giúp phân biệt giữa vật chất và vật

thể, chỉ rõ vật thể là biểu hiện của vật chất. Quan điểm này

đã góp phần chống lại các quan điểm duy tâm và giải quyết

LÊ HUỲNH TẤN DUY



11



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật

biện chứng, đó là vật chất là cái có trước và quyết đònh ý

thức, ý thức phản ánh vật chất một cách chủ động, sáng

tạo. Đònh nghóa này đã mở đường, đònh hướng cho các ngành

khoa học cụ thể phát triển trong việc tiếp tục tìm kiếm các dạng

hoặc các hình thức mới của vật thể trong thế giới. Khi nhận

thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội, đònh nghóa vật

chất của Lênin đã cho phép xác đònh cái gì là vật chất trong

lónh vực xã hội. Từ đó giúp các nhà khoa học có cơ sở lý luận

để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến cố

xã hội, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương

thức xản xuất. Trên cơ sở ấy, người ta có thể tìm ra các phương

án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển.

Về phạm trù ý thức: đó là thuộc tính của một dạng vật

chất có tổ chức cao là bộ não người (nguồn gốc tự nhiên) và

là một sản phẩm của xã hội, là một hiện tượng xã hội

(nguồn gốc xã hội). Xét về bản chất thì ý thức là là sự phản

ánh thế giới xung quanh lên bộ não người, là hình ảnh chủ

quan của thế giới khách quan.

Trước khi tìm hiểu, phân tích về mối quan hệ giữa vật chất và

ý thức, chúng ta cần phải khẳng đònh việc đem đối lập vật

chất và ý thức chỉ nhằm giải quyết vấn đề nhận thức luận,

vấn đề cơ bản của triết học, ngoài điều đó ra mọi sự đối lập

đều trở nên vô nghóa. Bởi vì bản thân hoạt động của con

người là sự hoạt động có ý thức, do đó mọi sự chia tách siêu

hình đều không thể hiện được sự thống nhất này.

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thể hiện trên hai

nội dung sau:

- Thứ nhất, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có

sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; quyết đònh ý

thức.

+ Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau bởi vì: ý

thức là ý thức của con người, mà con người chỉ xuất hiện lần

đầu tiên cách đây khoảng bốn triệu năm, trong khi đó thế giới

vật chất đã tồn tại trước khi có loài người xuất hiện. Do đó,

về mặt khoa học đã chứng minh rất rõ vật chất là cái có

trước ý thức.



LÊ HUỲNH TẤN DUY



12



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



+ Vật chất là nguồn gốc của ý thức bởi vì: xét về nguồn gốc

tự nhiên của ý thức thì đó là bộ não người đang hoạt động và

thế giới khách quan tác động vào các giác quan của con người.

Còn về nguồn gốc xã hội của ý thức thì đó là lao động và

ngôn ngữ. Chúng ta thấy rõ rằng cả bốn yếu tố tạo thành

nguồn gốc của ý thức đều thuộc về phạm trù vật chất, vì

chúng tồn tại khách quan và đều là những dạng vật chất cụ

thể. Do đó, chúng ta có thể kết luận vật chất chính là nguồn

gốc của ý thức.

+ Vật chất quyết đònh ý thức: tức là vật chất quyết đònh nội

dung, hình thức biểu hiện của ý thức, khi vật chất thay đổi thì ý

thức cũng phải thay đổi theo. Bởi vì ý thức chỉ là hình ảnh của

thế giới vật chất khách quan, mọi tâm tư, tình cảm,… của con

người có được là do những cái bên ngoài tác động vào các

giác quan của con người.

- Thứ hai, ý thức có thể tác động trở lại vật chất

thông qua hoạt động của con người.

Tuy nhiên, bên cạnh việc khẳng đònh tính có trước và quyết đònh

của vật chất đối với ý thức, CNDV cũng đồng thời vạch rõ sự

tác động trở lại của ý thức đối với vật chất. Ý thức do vật

chất sinh ra và quyết đònh, song sau khi ra đời, ý thức có tính độc

lập tương đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật

chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. CNDV đã chỉ ra

tính độc lập tương đối và vai trò của ý thức trong hoạt động của con người,

hoạt động xã hội, làm biến đổi tự nhiên và biến đổi chính mình.

Nói vai trò của ý thức là nói tới vai trò của con người vì chỉ có con người

mới có ý thức. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp làm thay đổi được

gì trong hiện thực. Nhưng ý thức chỉ đạo hoạt động của con người và nhờ

đó mà thế giới vật chất mới được cải tạo.

Ví dụ: mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải được truyền bá

vào quần chúng để đònh hướng cho họ hoạt động.

Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của

con người bắt đầu từ khâu nhận thức quy luật khách quan, vận dụng đúng

đắn những quy luật ấy và phải có ý chí, phương pháp để tổ chức hành

động. Vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ trang bò cho con người những tri

thức về bản chất quy luật khách quan của đồi tượng. Trên cơ sở ấy, con

người có thể xác đònh đúng đắn mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt

động phù hợp, cũng như trong việc xác đònh các biện pháp để tổ chức

thực hiện các hoạt động thực tiễn. Cuối cùng, bằng nỗ lực và ý chí mạnh

mẽ của mình, con người có thể thực hiện được mục tiêu đề ra.



LÊ HUỲNH TẤN DUY



13



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



Ý thức, tư tưởng có thể quyết đònh làm cho con người hoạt động đúng đắn

và thành công, mở đường cho thực tiễn khi phản ánh đúng thế giới khách

quan. Ngược lại, nó cũng có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại

khi phản ánh sai thế giới khách quan, mà nguyên nhân là do trình độ nhận

thức kém đẫn đến lý luận sai, phương pháp sai hoặc có trường hợp là vì lợi

ích của chủ thể nhận thức mà đôi khi họ xuyên tạc hiện thực.

Vì vậy phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò

nhân tố con người để tác động cải tạo thế giới khách quan, đồng thời

phải khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại

trong quá trình đổi mới hiện nay.

II. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Việc nhận thức mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức mang lại

một số ý nghóa quan trọng sau:

- Thứ nhất, nếu vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau;

vật chất là nguồn gốc của ý thức; quyết đònh ý thức, thì:

+ Trong hoạt động của mình con người phải tôn trong nguyên tắc

khách quan, tức là tôn trọng vai trò quyết đònh của vật chất.

Điều này được thể hiện là mọi vấn đề trong xã hội đều phải xuất phát

từ hiện thực, phải căn cứ vào nhân tố vật chất, hoàn cảnh, điều kiện

vật chất…

Cơ sở để phát huy tính năng động của ý thức là việc thừa nhận và tôn

trọng tính khách quan của vật chất, của các quy luật tự nhiên và xã hội.

Nếu như thế giới vật chất với những thuộc tính và quy luật của nó tồn tại

khách quan thì trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ

thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động

của mình, không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không

được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và chính sách cách

mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho

thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh duy ý chí.

Ví dụ: khi con người đề ra đường lối, chủ trương, chính sách hoặc mục đích cho

mình thì không được thuần túy xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải

xuất phát từ cuộc sống hiện thực, có như vậy mới có khả năng thực hiện

trên thực tế. Tuy nhiên, điều này rất khó đạt được, mà sự sai lầm của

ĐCSVN là một minh chứng, thể hiện qua bệnh chủ quan, duy ý chí đã từng

tồn tại trong một thời kỳ lòch sử; cũng như ngay sau khi giành được chính

quyền, chúng ta đã vội vàng thực hiện việc công hữu hóa mọi thành phần

kinh tế, điều đó là một sai lầm và chúng ta đã phải trả giá. Nguyên

nhân của sai lầm này là do chúng ta không căn cứ vào tình hình thực tế

của đất nước trong thời kỳ này, nhất là trên lónh vực kinh tế.

+ Muốn giải thích những hiện tượng về tinh thần phải xuất phát

từ đời sống vật chất của chính nó.

Ví dụ: đời sống vật chất của nhân dân ba miền ở Việt Nam là khác nhau,

điều đó chi phối sự hình thành, phát triển nhân cách, quan niệm, quan điểm

sống… của mỗi người dân ở ba miền Bắc, Trung, Nam là không giống nhau.

- Thứ hai, nếu ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua

hoạt động của con người thì:

LÊ HUỲNH TẤN DUY



14



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



Trong đời sống xã hội của mình, con người phải phát huy tính năng

động, chủ quan tức là phát huy vai trò của ý thức để nó có thể

tác động trở lại vật chất theo hướng tích cực. Phải bồi dưỡng,

phát huy ý kiến cá nhân, phát huy tính năng động, sáng tạo của

ý thức, sự nhạy bén nắm bắt cái mới; phát huy nhân tố con

người.

Ví dụ: con người phải biết tôn trọng tri thức khoa học, làm chủ tri thức khoa

học, biến tri thức khoa học của nhân loại, của các ngành khác thành tri

thức của mình, đó vừa là quyền đồng thời cũng là nghóa vụ của mội cá

nhân. Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải tìm mọi cách để truyền bá tri thức

khoa học vào quần chúng để đònh hướng cho họ hành động, tạo nên sức

mạnh toàn dân.

- Thứ ba, khắc phục chủ nghóa duy tâm, chủ nghóa giáo điều, bảo

thủ; khắc phục cả những biểu hiện của chủ nghóa duy kinh tế, xem

kinh tế là nhân tố duy nhất, xem thường các nhân tố tinh thần

trong đời sống xã hội.

Thực tế ở Việt Nam là một minh chứng sinh động cho các vấn đề trên. Bên

cạnh những thành tựu đã đạt được trong quá trình xây dựng CNXH, Đảng ta

đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan trong việc

xác đònh mục tiêu, bước đi về xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cải tạo

XHCN và quản lý kinh tế… Vì vậy từ lý luận của chủ nghóa Mác-Lênin và

từ những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, Đại hội Đảng lần thứ VII đã

rút ra bài học quan trọng là: “Mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng

phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta

chủ trương “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự

phát triển nhanh và bền vững”, muốn vậy “phải khơi dậy trong nhân dân

lòng yêu nước, ý chí quất cường, phát huy tài trí của người Việt Nam,

quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu”.

CÂU 4:

TRÌNH BÀY HAI NGUYÊN LÝ PHỔ BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY

VẬT. NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ HAI NGUYÊN LÝ

ĐÓ?

Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những

nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh

đúng đắn hiện thực. Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phhổ

biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất. Vì

thế Ăngghen đã đònh nghóa: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn

khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát

triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.

I. NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

1. Căn cứ khoa học:

Chủ nghóa duy bật biện chứng khẳng đònh tính thống nhất vật chất của thế

giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Các sự vật,

LÊ HUỲNH TẤN DUY



15



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao

nhiêu song chúng đều là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất,

thống nhất – thế giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không

thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại,

chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác đònh. Chính trên cơ sở đó,

triết học biện chứng đã đưa ra nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.

Trước khi tìm hiểu, phân tích nguyên lý này, chúng ta cần phải làm rõ khái

niệm mối liên hệ. Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ

sự quy đònh, sự tác động qua lại, cự chuyển hóa lẫn nhau giữa các

sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một

hiện tượng trong thế giới.

Cũng cần thiết phải phân biệt giữa liên hệ với quan hệ. Quan hệ chỉ là

cái thoáng qua, không phải là bắt buộc. Còn liên hệ thì mang ý nghóa sâu

hơn, nó chi phối sức mạnh của sự vật.

2. Nội dung của nguyên lý này thể hiện chủ yếu như sau:

Trong thế giới vật chất có vô vàn những mối liên hệ và chúng diễn ra

trong một khoảng không gian, thời gian nhất đònh. Mối liên hệ của các sự

vật hiện tượng mang những thuộc tính như: tính khách quan; tính phổ biến và

tính phong phú, đa dạng. Nguyên nhân tạo nên những thuộc tính này của

mối liên hệ là do thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, là một

thể thống nhất và thế giới này cũng rất đa dạng, phong phú.

- Thứ nhất, mối liên hệ là khách quan, là vốn đó của mọi sự vật,

hiện tượng. Ngay cả những vật vô tri, vô giác cũng đang hàng ngày, hàng

giờ chòu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác như: ánh sáng, nhiệt

độ, độ ẩm… Con người, một sinh vật phát triển cao nhất trong tự nhiên, dù

muốn hay không cũng luôn bò tác động bởi các sự vật, hiện tượng khác

và các yếu tố ngay trong chính bản thân. Ngoài sự tác động của tự nhiên

như các sự vật khác, con người còn tiếp nhận sự tác động của xã hội,

của vô vàn những mối liên hệ chằn chòt. Vấn đề là con người phải hiểu

biết các mối liên hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình để giải

quyết các mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của bản

thân con người và của xã hội.

- Thứ hai, mối liên hệ mang tính phổ biến, thể hiện:

+ Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác.

Không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối quan hệ. Điều này được

chứng minh một cách sinh động thông qua sự xuất hiện của xu hướng toàn

cầu hóa, khu vực hóa mọi mặt của đời sống xã hội trên thế giới. Trong

thời đại ngày nay, không một quốc gia nào không có những mối quan hệ,

liên hệ với các quốc gia khác trên một số lónh vực của đời sống xã hội.

Còn nếu xét về khía cạnh không gian và thời gian, tính phổ biến thể hiện

ở bất kỳ nơi đâu và bất cứ lúc nào cũng tồn tại những mối liên hệ

giữa các sự vật, hiện tượng, giữa các mặt trong bản thân một sự vật,

hiện tượng với nhau.

+ Mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theo

điều kiện nhất đònh. Song dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu

hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất, và phép biện chứng duy

LÊ HUỲNH TẤN DUY



16



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



vật chỉ nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất, bao quát nhất của thế

giới mà thôi.

Nghiên cứu mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới còn cho

thấy rõ tính đa đạng, phong phú của nó. Dựa vào tính đa dạng đó, người ta

phân chia các mối liên hệ thành những cặp khác nhau như: mối liên hệ

bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và mối liên

hệ thứ yếu, mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất, mối

liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên…

- Thứ ba, mối liên hệ mang tính đa dạng, phong phú.

Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ thể hiện ở chỗ giữa các sự vật

khác nhau, trong những không gian và thời gian khác nhau thì mối liên hệ

giữa chúng cũng sẽ khác nhau.

Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển của bản

thân sự vật và hiện tượng quy đònh tính đa dạng của mối liên hệ. Đo đó,

trong một sự vật, có thể bao gồm rất nhiều loại mối liên hệ, chứ không

phải chỉ có một cặp mối liên hệ xác đònh.

Mỗi loại mối liên hệ đều có vai trò khác nhau đối với sự vận động và

phát triển của sự vật. Vì dụ: mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại,

sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một

sự vật. Mối liên hệ này giữ vai trò quyết đònh tới sự tồn tại và phát triển

của sự vật. Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện

tượng. Mối liên hệ này nói chung không giữ vai trò quyết đònh đối với sự

tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật. Nó thường phải thông

qua mối liên hệ bên trong mới có thể tác động đối với sự tồn tại, vận

động và phát triển của sự vật.

Các cặp mối liên hệ khác cũng có quan hệ biện chứng giống như mối

quan hệ biện chứng của cặp mối liên hệ nêu trên. Đương nhiên mỗi cặp

mối liên hệ có những đặc trưng riêng. Trong các cặp mối liên hệ đó nói

chung mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên, mối liên hệ chủ

yếu… giữ vai trò quyết đònh. Song tùy theo những điều kiện, hoàn cảnh cụ

thể các mối liên hệ tương ứng với chúng có thể giữa vai trò quyết đònh.

Nói cách khác, vai trò quyết đònh của mối liên hệ trong từng cặp phụ

thuộc vào quan hệ hiện thực xác đònh.

Sự phân chia từng cặp mối liên hệ như vậy chỉ có ý nghóa tương đối bởi vì

mỗi loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích

của mối liên hệ phổ biến. Mỗi loại mối liên hệ có thể chuyển hóa lẫn

nhau tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động

và phát triển của chính các sự vật. Ví dụ khi xem xét các doanh nghiệp tồn

tại với tư cách là các đơn vò độc lập thì mối liên hệ giữa chúng là mối

liên hệ bên ngoài. Trong quá trình vận động và phát triển của mình các

doanh nghiệp kết hợp với nhau thành tổng công ty, thì mối liên hệ giữa các

doanh nghiệp lại trở thành mối liên hệ bên trong.

Tuy sự phân chia có tính tương đối nhưng lại rất cần thiết bởi vì mỗi loại mối

liên hệ có vò trí và vai trò xác đònh trong sự vận động và phát triển của

sự vật. Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có cách



LÊ HUỲNH TẤN DUY



17



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



tác động phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của

mình.

3. Ý nghóa:

Khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện,

tức phải xem xét rất nhiều mối liên hệ tác động vào sự vật đó, nhưng

đồng thời phải chỉ ra được đâu là mối liên hệ cơ bản nhất, mối liên hệ

bên trong chi phối sự tồn tại, phát triển của sự vật đó.

Quan điểm này khác với quan điểm xem xét một cách dàn trải, chung chung,

đại khái và đối lập với quan điểm xem xét phiến diện, chỉ xét sự vật,

hiện tượng trong một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay

về tính quy luật của chúng.

Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên

hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các mặt của chính sự vật và

trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác, kể cả mối liên

hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Bởi vì chỉ trên cơ sở đó mới có

thể nhận thức đúng về sự vật. Càng hiểu được nhiều mối liên hệ, con

người càng ít phạm sai lầm.

Đồng thời quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt

từng mối liên hệ, phải chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản

chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên,… để hiểu rõ bản chất

của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả

cao nhất trong hoạt động của bản thân. Đương nhiên trong nhận thức và

hành động, chúng ta cũng cần lưu ý tới sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các

mối liên hệ ở những điều kiện nhất đònh.

Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự

vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của

nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự

vật khác. Đồng thời chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp,

các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.

Để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,

văn minh”, một mặt, chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt

khác phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế

hóa và toàn cầu hóa đưa lại.

Phải tôn trọng quan điểm lòch sử – cụ thể: phải đặt đối tượng vào đúng

không gian, thời gian, mối liên hệ trong quá trình nhận thức và tự nhận

thức.

Chúng ta biết rằng mối liên hệ chi phối sức mạnh của sự vật. Do đó, trong

quá trình hoạt động thực tiễn xây dựng CNXH phải phát huy sức mạnh đại

đoàn kết dân tộc, đúng như lời Chủ tòch Hồ Chí Minh đã nói: “Vũ khí tối

tân không bằng toàn dân đoàn kết”.

II. NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

1. Cơ sở khoa học:

Thế giới vật chất luôn vận động, vận động là sự biến đổi nói chung và

khuynh hướng tất yếu của vận động là phát triển. Trên cơ sở quan niệm

đó, CNDV biện chứng đã đưa ra nguyên lý về sự phát triển.

2. Nội dung nguyên lý:

LÊ HUỲNH TẤN DUY



18



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



Trước khi tìm hiểu nội dung nguyên lý này, chúng ta cần có một cái nhìn cơ

bản về sự vận động và phát triển. Giữa vận động và phát triển có

những điểm giống và khác nhau cơ bản sau:

Giống nhau: vận động là tự thân vận động, do các mặt đối lập trong cấu

trúc vật chất liên hệ tác động qua lại làm cho sự vật biến đổi. Tương tự

như vậy, phát triển cũng là sự tự phát triển.

Khác nhau:

- Vận động là sự biến đổi nói chung: trong vận động có nhiều hình thức

vận động khác nhau như vận động thẳng đứng, vận động nằm ngang, vận

động song song, vận động véctơ, vận động vòng tròn…

- Phát triển là khuynh hướng tất yếu của vận động mà phát triển không

theo đường thẳng hay vòn tròn khép kín mà nó theo hình xoắn ốc và phát

triển nhất đònh phải làm xuất hiện cái mới, từ thấp đến cao, từ chưa

hoàn thiện đến hoàn thiện, từ đơn giản đến phức tạp. Cái mới bao giờ

cũng từ cái cũ mà ra nhưng khác về chất so với cái cũ. Phát triển là

cuộc đấu tranh của các mặt đối lập, của khuynh hướng vừa kế thừa

những tinh hoa của cái cũ, cải biến để đưa vào cái mới với khuynh hướng

đào thải những cái không còn sức sống.

Tư tưởng cơ bản của nguyên lý: tất cả các sự vật, hiện tượng ở trạng thái

động nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. nguồn gốc của sự phát

triển là mâu thuẫn của sự vật; cách thức của sự phát triển là lượng của

sự vật thay đổi dẫn đến chất của sự vật thay đổi; còn khuynh hướng của

sự phát triển không phải diễn ra theo một đường thẳng mà là một đường

quanh co phức tạp được biểu diễn bằng đường xoắn ốc đi lên, đây là quá

trình phủ đònh của phủ đònh, trong đó cái mới ra đời thay thế cái cũ và

hết mỗi một chu kỳ sự vật lại lặp lại dường như cái ban đầu nhưng ở mức

độ cao hơn.

Quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ

thấp đến cao. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra

đời của cái mới thay thế cái cũ. Dù trong hiện thực khách quan hay trong tư

duy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng, mà

rất quanh co, phức tạp, thậm chí có những bước lùi tạm thời.

Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi

dần dần về lượng đẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo

đường xoáy ốc. Điều đó có nghóa là qua quá trình phát triển dường như sự

vật ấy quay trở về thời điểm khởi đầu, song trên cơ sở mới cao hơn.

Quan điểm DVBC khẳng đònh nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản

thân sự vật, do mâu thuẫn trong chính sự vật quy đònh. Nói cách khác đó là

quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật. Do đó cũng

là quá trình tự thân của mọi sự vật.

Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong

hiện thực, CNDVBC khẳng đònh sự phát triển là một phạm trù triết học dùng

để chỉ sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa

hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.

Sự phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động mà chỉ khái quát xu

hướng chung của sự vận động – xu hướng vận động đi lên của sự vật, sự

LÊ HUỲNH TẤN DUY



19



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ. Sự phát triển chỉ là một trường hợp

đặc biệt của sự vận động. Trong quá trình phát triển của mình, trong sự vật

sẽ hình thành dần dần những quy đònh mới cao hơn về chất, sẽ làm thay

đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn

có theo chiều hường ngày càng hoàn thiện hơn.

Sự phát triển thể hiện rất khác nhau trong hiện thực, tùy theo hình thức tồn

tại cụ thể của các dạng vật chất. Ví dụ như sự phát triển ở giới vô cơ, giới

hữu cơ sẽ có những biểu hiện khác nhau; sự phát triển của xã hội, của tư

duy, của mỗi con người là không giống nhau.

Như vậy, sự phát triển là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên,

trong xã hội, trong bản thân con người và trong tư duy. Nếu xem xét từng

trường hợp cá biệt thì có những vận động đi lên, vân động tuần hoàn,

thậm chí có những vận động đi xuống. Song nếu xem xét cả quá trình vận

động với không gian và thời gian dài thì vận động đi lên là khuynh hướng

chung của mọi sự vật.

Sự phát triển có các thuộc tính đó là tính khách quan, tính phổ biến và tính

đa dạng, phong phú.

- Thứ nhất, tính khách quan.

Bởi vì nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là

quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nẩy sinh trong sự tồn tại và

vận động của sự vật. Vì thế sự phát triển là tiến trình khách quan, không

phụ thuộc vào ý muốn của con người.

- Thứ hai, tính phổ biến.

Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra trong mọi lónh vực:

tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới

khách quan. Chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy,

nhất là các khái niệm và các phạm trù, mới có thể phản ánh đúng đắn

hiện thực luôn vận động và phát triển.

- Thứ ba, tính đa dạng, phong phú: Khuynh hướng phát triển là khuynh

hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng. Song mỗi sự vật, hiện

tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau. Tồn tại ở

không gian, thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau.

Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chòu sự

tác động của các sự vật, hiện tượng khác. Sự tác động đó có

thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có

thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm

cho sự vật thụt lùi. Điều đó càng thể hiện tính đa dạng, phong phú

của sự phát triển của sự vật. Dù sự vật, hiện tượng có thể có

những giai đoạn vận động đi lên như thế này hoặc như thế khác

nhưng xem xét toàn bộ quá trình thì chúng vẫn tuân theo khuynh

hướng chung.

3. Ý nghóa:

Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển,

nên trong nhận thức và hoạt động của bản thân, chúng ta phải có quan

điểm phát triển, phải tin tưởng vào sự ra đời, sự thắng lợi của cái mới.

Điều đó có nghóa là khi xem xét, đánh giá bất kỳ sự vật, hiện tượng nào

LÊ HUỲNH TẤN DUY



20



BÀI SOẠN TRIẾT HỌC



cũng phải đặt chúng trong trạng thái động nằm trong khuynh hướng chung là

phát triển, phải tìm ra được nguồn gốc, cách thức, khuynh hướng cụ thể của

sự phát triển ấy, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hóa chúng.

Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang

tồn tại ở sự vật mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương

lai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến

đổi có tính chất thụt lùi. Song điều cơ bản là phải khái quát những biến

đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật.

Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá

trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn. Trên cơ sở ấy tìm ra

phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật

tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó.

Quan điểm phát triển góp phần chống lại tư tưởng bảo thủ, trì trệ, đònh

kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta.

Chúng ta cần phải tăng cường phát huy nỗ lực của bản thân trong việc

hiện thức hóa quan điểm phát triển vào nhận thức và cải tạo sự vật

nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của bản thân và của toàn xã hội.

Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện,

quan điểm lòch - sử cụ thể, quan điểm phát triển góp phần đònh hướng, chỉ

đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo

chính bản thân chúng ta.

Trong quá trình phát triển của sự vật, ở mỗi một giai đoạn khác nhau, sự

phát triển của sự vật cũng không giống nhau. Vì vậy khi xem xét sự vật,

cần phải có quan điểm lòch sử - cụ thể. Quan điểm lòch sử - cụ thể đòi hỏi

chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý

điều kiện, hoàn cảnh lòch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật

sinh ra, tồn tại và phát triển. Một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học

trong điều kiện này, nhưng sẽ không phải là luận điểm khoa học trong điều

kiện khác.

Quan điểm toàn diện và quan điểm lòch sử - cụ thể có mối quan hệ mật

thiết, không tách rời nhau. Toàn diện nhưng phải cụ thể, cụ thể lại phản

ánh sự toàn diện.

Để xác đònh đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của từng

thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể

của đất nước ta cũng như bối cảnh lòch sử quốc tế diễn ra trong từng giai

đoạn và trong từng thời kỳ đó. Dó nhiên, trong khi thực hiện đường lối, chủ

trương, Đảng ta cũng bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của

hoàn cảnh cụ thể.

CÂU 5:

TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY

LUẬT TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯNG DẪN ĐẾN NHỮNG THAY ĐỔI

VỀ CHẤT VÀ NGƯC LẠI

I. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN:



LÊ HUỲNH TẤN DUY



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. KẾT CẤU CỦA Ý THỨC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×