Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Để thấy rõ hơn về mối tương qua giữa năng suất lí thuyết và năng suất thực thu của dưa lưới tại các công thức chúng ta quan sát vào biểu đồ sau:

Để thấy rõ hơn về mối tương qua giữa năng suất lí thuyết và năng suất thực thu của dưa lưới tại các công thức chúng ta quan sát vào biểu đồ sau:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Biểu đồ 4.5 .Năng suất lí thuyết và năng suất thực thu tại các cơng thức thí

nghiệm



4.6. Một số chỉ tiêu về hình thái có liên quan đến chất lượng quả và phẩm

chất quả dâu tây tại các công thức thí nghiệm.

Đối với các loại rau an quả nói chung và đối với cây dâu tây nói riêng thì

chất lượng quả đóng vai trò rất quan trọng vì đây là chỉ tiêu để đánh giá chất

lượng rau quả sạch.

Một trong những yếu tố làm nên giá trị kinh tế của dâu tây đó là hình thái

và chất lượng quả. Sản phẩm của dâu tây không chỉ dùng để ăn tươi và tiêu thụ

nội địa mà nó còn có vị trí không nhỏ trên thị trường xuất khẩu (nếu có công

nghệ bảo quản và chế biến tôt). Trước nhu cầu ngày càng cao của người tiêu

dùng dẫn đến yêu cầu về chất lượng quả khơng những cao mà mẫu mã còn phải

đẹp. Đối với dâu tây thì hình thái quả do nhiều yếu tố quyết định, ngoài đặc tính

di truyền của giống còn chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, thời tiết.

Để đánh giá chất lượng quả và phẩm chất quả có thể dựa vào một số chỉ

tiêu như: kích thước quả (chiều cao quả, đường kính quả) và độ Brix.

Qua đo đếm chúng tôi có kết quả được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.6. Một số chỉ tiêu về hình thái có liên quan đến chất lượng và phẩm

chất quả dâu tây

Đvt: cm

Cơng thức

I(Đ/C)



Chiều dài quả

3.17b



Đường kính quả

2.37ab



Độ Brix

6.14bc



II



4.23a



2.57a



7.6a



III



3.6b



2.56a



6.31b



IV



3.25b



2.23b



5.78cd



V



3.26b



2.38ab



5.5c



LSD0.05



0.49



0.27



0.43



Qua bảng trên ta thấy:

Chiều dài quả



Chiều cao dài quả dâu tây được đo từ đầu cuống tới mút quả. Qua bảng ta

thấy giữa các cơng thức chiều dài quả ít dao động, từ 3,17 cm (công thức I) đến

4,23 (công thức II). Sự sai khác nhau về chiều dài quả ở các công thức ở mức rất

có ý nghĩa về mặt thống kê. Số liệu cũng cho thấy, tất cả các công thức có sử

dụng viên giá thể đất sét nung đều có chiều cao quả lớn hơn so với công thức đối

chứng . Trong đó công thức II có chiều cao quả lớn nhất đạt 4.23 cm.

Đường kính quả

Đường kính quả là một chỉ tiêu để đánh giá quả to hay nhỏ. Cũng giống

như chiều dài quả, đường kính quả tại các cơng thức ít biến động nhưng sai khác

nhau ở mức không có ý nghĩa về mặt thống kê. Trong đó cơng thức II có đường

kính quả lớn nhất đạt 2.57 cm, đường kính quả giữa các cơng thức ít có sự chênh

lệch, dao động từ 2.23 – 2.57 cm.



Độ Brix

Độ Brix là một chỉ tiêu để đánh giá độ ngọt của dâu tây. Nghiên cứu độ

Brix có thể cho chúng ta biết hàm lượng đường tích luỹ trong quả nhiều hay ít.

Qua phân tích chúng ta thấy độ Brix giữa các công thức sai khác nhau rất có ý

nghĩa. Độ Brix dao động từ 5,5 – 7,6 giữa các công thức, trong đó công thức II

có độ Brix cao nhất (7,6), công thức V có độ Brix thấp nhất (5,5) . Số liệu cũng

cho thấy công thức II có độ Brix lớn hơn có ý nghĩa so với các cơng thức còn

lại.



Phần 5

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Trên cơ sở các kết quả thực nghiệm, chúng tôi bước đầu rút ra một số kết

luận như sau:

- Về khả năng sinh trưởng, phát triển: Qua xử lý thống kê các số liệu về

sinh trưởng chúng tôi nhận thấy có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê giữa

các công thức mà có phối trộn viên giá thể và công thức không phối trộn viên

giá thể. Điều này cho thấy việc phối trộn viên giá thể đất sét nung và giá thể hữu



cơ đã có ảnh hưởng tới các chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng phát triển của cây

dâu tây. Công thức II có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong điều

kiện thời tiết Thừa Thiên Huế. Có chiều cao và số lá cao nhất đạt 17,9 cm và 1.6



- Về tình hình sâu bệnh hại: Tình hình sâu hại trên các công thức có

viên giá thể là không đáng kể và gây hại ở mức rất thấp. Việc sử dụng viên giá

thể đất sét nung giúp hạn chế sâu bệnh trên cây dâu tây

- Về hình thái và chất lượng quả: Qua phân tích một số chỉ tiêu về

hình thái và chất lượng quả chúng tôi nhận thấy, viên giá thể đất sét nung đã

có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu như: chiều dài quả, đường kính quả,độ Brix,...

Viên giá thể đất sét nung có ảnh hưởng lớn nhất và có ý nghĩa đối với các chỉ

tiêu về hình thái và chất lượng quả dâu tây.

- Về năng suất: Dòng điện một chiều, dòng điện xoay chiều và từ

trường đã có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về trọng lượng quả, năng suất lý

thuyết, năng suất thực thu của cây dưa lưới. Tuy nhiên, việc ứng dụng từ

trường để xử lý hạt giống trước khi gieo trồng là có ý nghĩa lơn hơn cả. Dòng

điện xoay chiều 220V và dòng điện một chiều 12V tuy có ảnh hưởng đến chỉ

tiêu này nhưng nó sai khác không đáng kể so với khi khơng có tác dụng của

dòng điện và từ trường.

Kết luận chung: Từ trường là phù hợp nhất cho việc xử lý hạt giống cây

dưa lưới trước khi gieo trong vụ Hè thu 2014 tại TT Huế, với năng suất đạt

37,33 tấn/ha cao hơn đối chứng 6,38 tấn/ha. Đây cũng là biện pháp xử lý điện

mà cây dưa lưới có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, các chỉ tiêu về phẩm

chất của quả cao.

5.2. Kiến nghị

- Cần tiến hành thí nghiệm này trong những điều kiện mùa vụ và vùng khác

nhau để có kết luận chính xác nhất về tác động của viên giá thể đến khả năng

sinh trưởng, phát triển của dâu tây.

- Thử ngiệm bằng viên giá thể đất sét nung trên nhiều loại cây trồng khác

nhau để khẳng định và phát huy vai trò của viên giá thể đất sét nung trong trồng

trọt bằng công nghệ nông nghiệp cao.

- Có thể áp dụng quy trình trên để phát triển kỹ thuật trồng cây dâu tây ở

mức độ hẹp tại TT Huế.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Để thấy rõ hơn về mối tương qua giữa năng suất lí thuyết và năng suất thực thu của dưa lưới tại các công thức chúng ta quan sát vào biểu đồ sau:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×