Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong quá trình theo dõi ảnh hưởng của một số tỷ lệ phối trộn giá thể giữa viên giá thể đất sét nung và giá thể hữu cơ đến sự tăng trưởng đường kính tán, chúng tôi thu được số liệu ở bảng:

Trong quá trình theo dõi ảnh hưởng của một số tỷ lệ phối trộn giá thể giữa viên giá thể đất sét nung và giá thể hữu cơ đến sự tăng trưởng đường kính tán, chúng tôi thu được số liệu ở bảng:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Qua đồ thị 4.3 cho thấy, giai đoạn 10-45 ngày sau trồng cây xà lách có tốc

độ tăng trưởng tương đối nhanh, sau đó giảm dần trong giai đoạn 45-52 ngày

sau trồng. Từ giai đoạn 52 ngày trở đi tốc độ tăng trưởng đường kính tán tăng

dần.

Hình trên cũng cho thấy, công thức II và công thức III có đường kính tán

lớn nhất, tiếp đến là các cơng thức có tỷ lệ mùn cao như công thức IV, I. Công

thức V(đ/c) có đường kính nhỏ nhất.



4.4. Ảnh hưởng của dòng điện và từ trường đến tình hình sâu bệnh hại trên

cây dưa lưới.

Cây thực phẩm là loại cây trờng đòi hỏi kỹ thuật thâm canh cao, có những

đặc điểm riêng về hình thái, cấu tạo và sinh trưởng nên rất thích hợp cho nhiều

loại sâu bệnh phát sinh gây hại mạnh. Cũng như các loại cây thực phẩm khác,

dưa lưới là loại rau ăn quả, trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển thường bị

các loại sâu bệnh gây hại từ đó ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của cây

dưa lưới. Sâu bệnh là yếu tố khách quan, mức độ nhiễm bệnh nặng hay nhẹ phụ

thuộc sức đề kháng của giống, điều kiện ngoại cảnh và các biện pháp kỹ thuật

trồng trọt như: thời vụ, mật độ trồng, phân bón.

Trong quá trình theo dõi về tình hình sâu bệnh hại trên dưa lưới, chúng tôi

nhận thấy không có sự xuất hiện của các loại bệnh hại, trong khi đó có xuất hiện

một số loại sâu hại như: bọ rùa, sâu đục quả, nhện đỏ. Kết quả theo dõi về tình

hình sâu bệnh hại ở dưa lưới được trình bày trong bảng sau:

Bảng 4.4. Ảnh hưởng của một số tỉ lệ trộn viên giá thể đất sét nung và giá thể

hữu cơ đến khả năng chống chịu sâu hại của cây dưa lưới.

Chỉ tiêu

Công thức

I(Đ/C)

II

III

IV

V



Về sâu hại:



Sâu ăn tạp (con/m2)



Bệnh đốm đỏ (%)



1.67

0.67

0.67

0.22



0.23

0.12

0.09

0.06



0.22



0.01



+Sâu ăn tạp: Gây hại chủ yếu vào thời kỳ cây bắt đầu có 3 - 4 lá thật cho

đến thời kỳ trước ra hoa, chủ yếu phá hoại trên lá. Bọ rùa có màu cam, có hiện

tượng giả chết khi bị phát hiện. Mật độ bọ rùa gây hại ở các cơng thức thí

nghiệm đều ở mức độ thấp, dao động từ 0,48 con/m 2 (công thúc II) đến 0,67

con/m2 (công thức III và công thức IV). Do xuất hiện với mật độ thấp nên khi bọ

rùa xuất hiện dùng biện pháp thủ công bắt bằng tay để tiêu diệt chúng.

+ Ruồi đục quả: Gây hại trong giai đoạn phát triển của quả đến thu hoạch.

Ruồi đục quả là một trong những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ quả trên cây, đồng

thời nó cũng là giảm chất lượng của quả. Chúng tôi tiến hành theo dõi ngẫu

nhiên 3 quả/cây và thu được kết quả như ở bảng trên. Tỷ lệ ruồi đục quả ở các

công thức tương đối thấp dao động từ 4,44 – 8,89%. Trong đó công thức I và

công thức IV có tỷ lệ quả bị ruồi đục 8,89%, nhiều hơn so với công thức II và

công thức III. Công thức II có tỷ lệ quả bị r̀i đục ít nhất chỉ 4,44%. Do trong

thời gian làm thí nghiệm r̀i đục quả x́t hiện với tỷ lệ thấp và do sử dụng bẫy

dẫn dụ bằng Vizubon-D khi thấy ruồi đục quả mới xuất hiện nên chúng nhanh

chóng bị tiêu diệt và không ảnh hưởng nhiều đến các quả trên cây.

+ Nhện đỏ: Có tên khoa học là Tetranycus urticae, gây hại vào thời kỳ cây

bắt đầu ra hoa đến thu hoạch trái. Nhện chủ yếu gây hại trên lá, nhện bám ở mặt

dưới của lá, chích hút dịch của lá dưa. Lúc đầu trên lá thường có những vết đốm

màu vàng bạc loang lổ, sau đó chuyển thành màu bạc trắng, xám phiến lá bị

phồng lên như bánh tráng. Tỷ lệ cây bị nhện đỏ gây hại tương đối thấp, chỉ có

công thức I và công thức IV bị nhện đỏ gây hại ở mức độ 6,67%. Khi thấy nhện

đỏ xuất hiện thì dùng Miktin 3.6 EC phun theo hướng dẫn trên bao bì. Do diện

tích trờng nhỏ và phòng trừ kịp thời khi nhện đỏ mới gây hại nên chúng nhanh

chóng bị tiêu diệt và khơng x́t hiện nữa.

Tóm lại tình hình sâu hại trên các công thức là không đáng kể và gây hại

ở mức rất thấp. Điều đó cho thấy, việc xử lý hạt giống bằng dòng điện hoặc từ

trường trước khi gieo không làm tăng tỷ lệ sâu bệnh trên cây dưa lưới.

4.5. Ảnh hưởng của dòng điện và từ trường đến các yếu tố cấu thành năng

suất và năng suất cây dưa lưới.

Năng suất là kết quả của quá trình sản xuất, là chỉ tiêu quan trọng đánh giá

một cách toàn diện, chính xác nhất q trình sinh trưởng, phát triển của cây dưa

lưới trong một chu kỳ sống. Nó phản ánh kết quả tổng hợp giữa các yếu tố nội

tại và các yếu tố ngoại cảnh.



Đối với cây dưa lưới, hai yếu tố cấu thành năng quan trọng nhất đó là số

cây/m và khối lượng trung bình quả. Các yếu tố này quyết định trực tiếp đến

năng suất cây dưa lưới.

2



Trong q trình theo dõi chúng tơi thu được kết quả như sau:

Bảng 4.5. Ảnh hưởng của đến dòng điện và từ trường đến các yếu tố cấu thành

năng suất và năng suất cây dưa lưới.



Khối lượng trung bình/quả

Khối lượng trung bình/quả là một chỉ tiêu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố

như hàm lượng nước trong quả, độ lớn, chiều cao của quả. Có vai trò rất quan

trọng trong việc quyết định năng suất cây dưa lưới. Qua đo đếm chúng tôi nhận

thấy giữa các công thức ít có sự biến động và sai khác về chỉ tiêu này. Khối

lượng quả dao động từ 1,18kg/quả (công thức IV) đến 1,31kg/quả (cơng thức

III).

Năng suất lí thuyết

Năng śt lý thuyết có ý nghĩa lớn trong thực tiễn sản xuất vì nó là chỉ tiêu

tổng hợp phản ánh tiềm năng cho năng suất của giống. Ở dưa lưới năng suất lý

thuyết phụ thuộc vào các yếu tố như số cây/m 2, khối lượng trung bình/quả. Qua

theo dõi chúng tơi nhận thấy cơng thức có năng śt lí thút cao nhất là công

thức III đạt 39,2 tấn/ha, trong khi đó công thức IV và công thức I chỉ đạt 35,4

tấn/ha và 35,7 tấn/ha.

Năng suất thực thu

Năng suất thực thu là kết quả tổng hợp của cả quá trình sinh trưởng, phát

triển của giống trong điều kiện sinh thái nhất định, là kết quả cuối cùng của q

trình trờng trọt. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc quyết định nên chọn

cách xử lý hạt giống dưa lưới như thế nào cho phù hợp để dưa lưới có thể cho

năng suất cao. Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy tất cả các cơng thức mà hạt

giống được xử lý với dòng điện hoặc từ trường đều có năng suất thực thu cao

hơn so với công thức đối chứng, cao hơn công thức đối chứng từ 3,38 – 6,38

tấn/ha. Tuy nhiên chỉ có công thức III có sự chênh lệch đáng kể so với cơng

thức IV, đạt 37,33 tấn/ha (tăng 20,6%), còn các công thức I và công thức II chỉ

tăng 10,3 và 11,4% so với công thức IV đối chứng

Để thấy rõ hơn về mối tương qua giữa năng suất lí thuyết và năng suất

thực thu của dưa lưới tại các công thức chúng ta quan sát vào biểu đồ sau:



Biểu đồ 4.5 .Năng suất lí thuyết và năng suất thực thu tại các cơng thức thí

nghiệm



4.6. Một số chỉ tiêu về hình thái có liên quan đến chất lượng quả và phẩm

chất quả dâu tây tại các cơng thức thí nghiệm.

Đối với các loại rau an quả nói chung và đối với cây dâu tây nói riêng thì

chất lượng quả đóng vai trò rất quan trọng vì đây là chỉ tiêu để đánh giá chất

lượng rau quả sạch.

Một trong những yếu tố làm nên giá trị kinh tế của dâu tây đó là hình thái

và chất lượng quả. Sản phẩm của dâu tây không chỉ dùng để ăn tươi và tiêu thụ

nội địa mà nó còn có vị trí khơng nhỏ trên thị trường xuất khẩu (nếu có công

nghệ bảo quản và chế biến tôt). Trước nhu cầu ngày càng cao của người tiêu

dùng dẫn đến yêu cầu về chất lượng quả khơng những cao mà mẫu mã còn phải

đẹp. Đối với dâu tây thì hình thái quả do nhiều yếu tố quyết định, ngoài đặc tính

di truyền của giống còn chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, thời tiết.

Để đánh giá chất lượng quả và phẩm chất quả có thể dựa vào một số chỉ

tiêu như: kích thước quả (chiều cao quả, đường kính quả) và độ Brix.

Qua đo đếm chúng tôi có kết quả được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.6. Một số chỉ tiêu về hình thái có liên quan đến chất lượng và phẩm

chất quả dâu tây

Đvt: cm

Cơng thức

I(Đ/C)



Chiều dài quả

3.17b



Đường kính quả

2.37ab



Độ Brix

6.14bc



II



4.23a



2.57a



7.6a



III



3.6b



2.56a



6.31b



IV



3.25b



2.23b



5.78cd



V



3.26b



2.38ab



5.5c



LSD0.05



0.49



0.27



0.43



Qua bảng trên ta thấy:

Chiều dài quả



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong quá trình theo dõi ảnh hưởng của một số tỷ lệ phối trộn giá thể giữa viên giá thể đất sét nung và giá thể hữu cơ đến sự tăng trưởng đường kính tán, chúng tôi thu được số liệu ở bảng:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×