Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Giá thể: Giá thể được dùng để trồng cây gồm có viên giá thể đất sét nung, mùn cưa, trấu hun, đất phù sa.

* Giá thể: Giá thể được dùng để trồng cây gồm có viên giá thể đất sét nung, mùn cưa, trấu hun, đất phù sa.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong giai đoạn thu hoạch, để trái lớn đều nên cân đối giữa khả năng phát

triển của khung tán và số lượng hoa trái trên cây nếu nụ, hoa, trái ra nhiều cần

tỉa bỏ những nụ, hoa, trái dị dạng và sâu bệnh.

Nếu không tận dụng ngó để nhân giống thì nên cắt bỏ toàn bộ ngó.

Giai đoạn đầu khi thân lá cây chưa phủ luống có thể để ngó với khoảng

cách 15 cm (5-6 ngó/cây). Để tăng cường sinh trưởng cây ban đầu, hạn chế ngó

đâm rễ phụ trên luống.

- Tỉa thân lá: Đảm bảo mật độ phân tán cây dâu cân đối nên để từ 3-4

thân/gốc. Do đặc điểm của giống, chế độ phân bón, thời tiết, chăm sóc khả năng

phân tán, ra lá sẽ khác nhau. Tỉa bớt các lá già, sâu bệnh, lá bị che khuất tầng

dưới. Chú ý không nên tỉa quá nhiều sẽ mất khả năng quang hợp của cây. Các bộ

phận của cây sau khi cắt tỉa cần phải tiêu huỷ ở xa vườn trờng.

- Phòng ngừa dị dạng trái: Thời kỳ kết trái đầu tiên nếu phát hiện quả dị

dạng lập tức hải bỏ và giảm bón lượng đạm.

Giai đoạn hoa nở rộ tránh phun xịt thuốc sâu bệnh với nồng độ cao.



3.7. Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng máy vi tính theo chương trình Excel và phần

mềm xử lý số liệu Statistix 10 Trial

Phần 4.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Ảnh hưởng của một số tỷ lệ phối trộn giữa viên giá thể đất sét nung và

giá thể hữu cơ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây dâu tây.

Đối với cây trồng nói chung và cây dâu tây nói riêng sự tăng trưởng chiều

cao cây là một đặc trưng hình thái thể hiện khả năng sinh trưởng, phát triển và

cho năng suất của một giống. Mặt khác nó cũng có ảnh hưởng đến khả năng

tổng hợp và tích lũy chất hữu cơ trong cây, cũng như khả năng cung cấp dinh

dưỡng từ môi trường bên ngoài cho cây trồng. Ở mỗi thời kỳ khác nhau, sự tăng

trưởng chiều cao cũng khác nhau và nó chịu tác động của nhiều yếu tố như: đất

đai, thời tiết khí hậu, chế độ dinh dưỡng, biện pháp kỹ thuật canh tác, đặc tính di

truyền của giống, biện pháp xử lý ban đầu. Việc theo dõi động thái tăng trưởng

chiều cao của cây giúp chúng ta nắm được khả năng sinh trưởng của cây dâu tây

dưới tác dụng của viên giá thể đất sét nung và giá thể hữu cơ.



Qua quá trình theo dõi về động thái tăng trưởng chiều cao cây của dâu tây

từ các cơng thức thí nghiệm, chúng tôi thu được kết quả ở bảng sau:

Bảng 4.1. Ảnh hưởng của một số tỷ lệ phối trộn giữa viên giá thể đất sét nung

và giá thể hữu cơ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây dâu tây.



Đvt: (cm/cây)

Công

thức

I

II

III

IV

V



LSD0,05



10

12.40a



17

13.07



11.93a



13.27



b



ab



a



10.767 12.70

bc



ab



9.87c



10.53



11.33a



11.83



1.501



1.37



bc



c



bc



24

14.2

3a

14.9

3a

14.2

0a

12.2

0b

12.0

0b

1.89



Ngày sau trồng (ngày)

31

38

45

52

59

16.33 15.70 14.47 13.80 13.63

ab



b



b



bc



b



17.90 17.83 16.40 16.00 15.27

a



a



a



a



a



16.10 15.20 14.43 14.17 13.63

ab



b



b



b



b



14.37 14.07 13.17 12.60 12.63

bc



bc



bc



cd



bc



13.00 12.73 12.03 11.50 11.77

c



bc



c



d



c



2.06



2.08



1.82



1.42



1.59



66

12.3

0b

14.0

7a

11.9

3b

10.5

7c

10.5

0c

1.34



73

11.12 1

bc



13.90 1

a



12.77 1

ab



10.47 1

c



11.33 1



Giai đoạn 10 ngày sau trồng

Đặc điểm của thời kỳ này là bộ phận trên mặt đất – thân lá phát triển chậm,

bộ phận dưới mặt đất rễ phát triển nhanh và mạnh. Đây cũng là thời kỳ cây bắt

đầu xuất hiện các lá non, khả năng quang hợp để tổng hợp chất hữu cơ còn thấp.

Trong thời kỳ này, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây tương đối chậm. Giữa các

cơng thức thí nghiệm ở tất cả các giai đoạn đều không có sự sai khác có ý nghĩa

về mặt thống kê.

Giai đoạn 31 ngày sau

Ở thời kỳ này sự phát triển của bộ phận trên mặt đất tương đối nhanh. Cây

lấy dinh dưỡng từ đất qua bộ rễ và khả năng tổng hợp chất hữu cơ của cây tăng

dần do diện tích lá cũng như số lá trên cây tăng. Sự phát triển hoàn thiện của bộ

rễ cộng với sự tăng nhanh về số lá trên cây trong thời kỳ này đã tạo điều kiện

thuận lợi cho sự phát triển nhanh của chiều cao cây



bc



2.15



1



Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy bắt đầu có sự sai khác có ý nghĩa giữa các

cơng thức tham gia thí nghiệm. Trong đó, công thức II có chiều cao cây lớn nhất

đạt 17.9 cm và có tốc độ tăng trưởng đạt 2.88 cm/tuần. Công thức V có chiều

cao cây và tốc độ tăng trưởng thấp nhất đạt 12.7 cm (1 cm/tuần).

Giai đoạn 38 ngày sau mọc mầm

Trong thời kì này cây vừa sinh trưởng dinh dưỡng vừa sinh trưởng sinh

thực, mọi chất dinh dưỡng tập trung cho sự ra hoa và chủ yếu phát triển quả nên

tốc độ tăng trưởng chiều cao của dâu tây đã bắt đầu chậm lại.

Số liệu từ bảng 4.2 cho thấy: Công thức có chiều cao cây thấp nhất vẫn là

công thức V chỉ đạt 12.7 cm. Trong khi đó công thức II đạt 18.7 cm cao hơn so

với công thức V 6 cm. Ở thời kỳ này, sự sai khác về chiều cao cây giữa các công

thức rất có ý nghĩa về mặt thống kê



Giai đoạn 80 ngày sau trồng

Đây là thời kỳ cây ra hoa và có tốc độ tăng trưởng chiều cao chậm lại.

Chiều cao cây ở các công thức đều giảm hơn so với thời kỳ trước. Ở thời kỳ này,

sự sai khác về chiều cao cây giữa các công thức không có ý nghĩa về mặt thống

kê.

Để hiểu rõ hơn về động thái tăng trưởng chiều cao của cây dâu tây tại

các cơng thức thí nghiệm ta có thể nhìn vào đờ thị sau:



Đồ thị 4.1. Ảnh hưởng của đến động thái tăng trưởng chiều cao thân

chính của cây dưa lưới

Qua hình trên ta thấy:

- Chiều cao cây dâu tây tăng nhanh trong giai đoạn từ 10 – 31 ngày sau

trồng, sau đó tốc độ tăng trưởng chiều cao cây giảm dần cho đến giai đoạn 80

ngày sau trờng thì chững lại.

- Bên cạnh đó số liệu cũng cho thấy, trong giai đoạn từ 10 – 31 ngày sau

mọc mầm sự chệnh lệch chiều cao giữa các công thức là rất thấp. Nhưng bắt đầu

từ giai đoạn 31 ngày sau trồng trở đi, giữa các công thức bắt đầu có sự phân hóa

dần và trở lên chênh lệch tương đối lớn ở giai đoạn 38 – 66 ngày sau trồng với

chiều cao cây thấp nhất là công thức V, cho thấy việc phối trộn tỉ lệ viên giá thể

đất sét nung và giá thể hữu cơ có động thái tăng trưởng chiều cao cây tương đối

thuận lợi.



Công

thức

I(Đ/C)

II

III

IV

V

LSD0,05



4.2. Ảnh hưởng của một số tỷ lệ phối trộn giữa viên giá thể đất sét nung và

giá thể hữu cơ đến động thái ra lá cây dâu tây.

Lá là cơ quan sinh dưỡng quan trọng, là nơi thực hiện chức năng quang

hợp, tổng chất hữu cơ, tạo chất khơ ngoài ra lá còn có chức năng thốt hơi nước

và trao đổi khí. Cây có bộ lá phát triển tốt và đầy đủ sẽ có khả năng quang hợp

cao do đó khả năng tích lũy vật chất nhiều tạo tiền đề cho năng suất cây trồng

cao. Số lá trên cây phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của từng giống, điều kiện

ngoại cảnh và các biện pháp kỹ thuật tác động.

Theo dõi động thái tăng trưởng số lá của cây dâu tây, chúng tôi thu được

kết quả ở bảng sau:

Bảng 4.2. Ảnh hưởng của một số tỷ lệ phối trộn giữa viên giá thể đất sét nung

và giá thể hữu cơ đến động thái ra lá cây dâu tây.

Đvt: (lá/cây)



10

5,2bc

6.47a

6ab

4.47c

4.40c

0.94



17

6,53bc

8.13a

7.4ab

5.6c

5.73c

1



24

7,67bc

10.07a

8.73b

6.8cd

6.33d

1.12



31

8,67c

11.73a

10.2b

7.8cd

7.2d

1.24



Ngày sau trồng (ngày)

38

45

52

59

c

c

c

9,47

10,13

11

11.93c

13.4a

14.47a

16a

17.53a

11.27b 11.67b 12.47b 13.47b

8.4cd

9.13cd 9.87cd 10.73cd

8.07d

8.53d

9.4d

10.13d

1.36

1.32

1.44

1.39



66

13.13bc

19.07a

14.67b

11.8cd

10.87d

1.67



73

14.13bc

20.8a

15.8b

12.47cd

11.73d

1.89



Giai đoạn 10 ngày sau trồng

Đây là giai đoạn cây đang ở thời kỳ cây con bộ rễ chưa phát triển mạnh.

Trong giai đoạn này cây bắt đầu chuyển từ sử dụng dinh dưỡng từ cây mẹ sang

sử dụng dinh dưỡng ở môi trường bên ngoài. Động thái ra lá ở các cơng thức

thời kỳ này ít có sự biến động. Ở thời kỳ này, các công thức không có sự sai

khác gì có ý nghĩa về mặt thống kê

Giai đoạn 24 ngày sau trồng

Số lá tăng nhanh ở tất cả các công thức trong thời kỳ này, điều này có thể

giải thích là do bộ rễ của dâu tây trong giai đoạn này đã hút dược nhiều dinh

dưỡng. Hầu như giữa các cơng thức ít có sự sai khác về số lá trên cây, tốc độ ra



1

2

1

1

1



lá sau 1 tuần trung bình là 0.6 – 1.93 lá. Trong đó công thức II là công thức có

số lá cao nhất (đạt 1,93 lá)

Giai đoạn 38 ngày sau mọc mầm

Cùng với sự phát triển của chiều cao cây, tốc độ tăng trưởng số lá trong giai

đoạn này của các công thức đều tăng nhanh. Số lá của công thức I đối chứng đạt

tốc độ tăng trưởng là 0.8 lá/tuần, trong khi đó công thức II cao hon so với đối

chứng là tốc độ tăng trưởng 1,67 lá/tuần). Công thúc III;IV;V có tốc độ tăng

trưởng là 1; 0,6 ; 0,8 lá/tuần.

Giai đoạn 80 ngày sau trồng

Ở thời kỳ này, số lá trên cây đều tăng tuy nhiên tốc độ ra lá đã bắt đầu có sự

chậm lại do giai đoạn này mọi chất dinh dưỡng tập trung nhiều cho quá trình ra

hoa và hình thành quả.

Để hiểu rõ hơn về động thái ra lá của cây dưa lưới tại các công thức thí

nghiệm ta có thể nhìn vào đờ thị sau:



Đồ thị 4.2. Ảnh hưởng của một số tỉ lệ phối trộn giữa viên giá thể đất sét

nung và giá thể hữu cơ đến động thái ra lá của cây dâu tây

Qua hình ta thấy, giai đoạn từ 10 - 31 ngày sau trồng cây dâu tây có tốc độ ra lá

nhanh nhưng giữa các cơng thức ít có sự sai khác.

Từ giai đoạn 31 ngày sau trồng trở đi, tốc độ ra lá lúc đầu có giảm và sau

đó tăng, bắt đầu có sự phân hóa giữa các cơng thức.

Hình trên cũng cho thấy, công thức II có số lá cao nhất, tiếp đến là các

công thức III. Công thức V có số lá nhỏ nhất.

4.3. Ảnh hưởng của một số tỉ lệ phối trộn giữa viên giá thể đất sét nung và

giá thể hữu cơ đến động thái tăng trưởng đường kính tán của cây dâu tây

Đường kính tán cây thể hiện khả năng chiếm khoảng không gian của cây,

Đường kính tán cây biểu hiện về sự phát triển mạnh hay yếu của bộ lá trên cây

liên quan đến mật độ và sự quang hợp. Đường kính tán cây lớn thì khả năng

nhận ánh sáng thuận lợi làm tăng quá trình quang hợp tổng hợp chất hữu cơ của

cây. Dâu tây là rau ăn quả nên lá là bộ phận quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến

năng suất của cây. Cây có bộ lá phát triển tốt và cân đối thì đường kính tán cây

lớn.



Trong q trình theo dõi ảnh hưởng của một số tỷ lệ phối trộn giá thể giữa

viên giá thể đất sét nung và giá thể hữu cơ đến sự tăng trưởng đường kính tán,

chúng tơi thu được số liệu ở bảng:

Bảng 4.3. Ảnh hưởng của một số tỷ lệ phối trộn giá thể giữa viên giá thể đất

sét nung và giá thể hữu cơ đến động thái tăng trưởng đường kính tán

(Đvt: cm)

Cơng

thức

I

II

III

IV

V



LSD0,05



10

14.90ab

17.33a

14.97ab

13.97b

16.60ab

2.65



17

16.97a

18.83a

19.30a

17.40a

17.80a

3.91



24

22.53ab

23.93a

22.27ab

19.30b

19.33b

3.31



31

25.17ab

27.33a

23.30bc

20.10c

19.93c

3.51



Ngày sau gieo (ngày)

38

45

52

b

b

29.03

31.60 31.40b

34.07a 37.53a 36.67a

25.43bc 29.93b 31.30b

21.83c 24.23c 25.13c

22.17c 23.93c 25.03c

4.08

4.50

4.90



59

31.83b

37.80a

31.03b

27.63bc

25.60c

4.89



66

32.47b

39.77a

32.53b

29.67bc

25.07c

6.57



73

32.40bc

37.67a

32.57b

28.93bc

28.30c

4.17



+ Giai đoạn 10 – 31 ngày sau trồng:

Trong giai đoạn này động thái tăng trưởng đường kính tán có sự chênh

lệch tuy nhiên sự chênh lệch rất ít nên khơng sai khác về mặt ý nghĩa.

+ Giai đoạn 38 – 73 ngày sau trồng:

Giai đoạn này bộ rễ phát triển mạnh, cây phát triển nhanh nên động thái

tăng trưởng đường kính tán cũng sai khác có ý nghĩa giữa các công thức và sai

khác với công thức đối chứng. Công thức II có đường kính tán đạt cao nhất là

39.7cm trong khi công thức I (đ/c) chỉ đạt 32.4cm.

+ Giai đoạn 73 – 80 ngày sau trồng:

Giai đoạn này cây phát triển chậm dần thay vào đó là sự tích lũy các chất

dinh dưỡng cho cây. Tuy nhiên đường kính tán có giảm và giữa các công thức so

với công thức đối chứng thì động thái tăng trưởng đường kính tán không có sai

khác có ý nghĩa.

Để hiểu rõ hơn về động thái tăng trưởng đường kính tán của cây dâu tây

tại các cơng thức thí nghiệm, ta có thể tham khảo đờ thị sau:

Đường kính (cm)



Đồ thị 4.3. Ảnh hưởng của một số tỷ lệ phối trộn giá thể giữa viên giá thể đất

sét nung và giá thể hữu cơ đến động thái tăng trưởng đường kính tán



2

3

3

2

2



Qua đờ thị 4.3 cho thấy, giai đoạn 10-45 ngày sau trồng cây xà lách có tốc

độ tăng trưởng tương đối nhanh, sau đó giảm dần trong giai đoạn 45-52 ngày

sau trồng. Từ giai đoạn 52 ngày trở đi tốc độ tăng trưởng đường kính tán tăng

dần.

Hình trên cũng cho thấy, cơng thức II và cơng thức III có đường kính tán

lớn nhất, tiếp đến là các công thức có tỷ lệ mùn cao như công thức IV, I. Công

thức V(đ/c) có đường kính nhỏ nhất.



4.4. Ảnh hưởng của dòng điện và từ trường đến tình hình sâu bệnh hại trên

cây dưa lưới.

Cây thực phẩm là loại cây trờng đòi hỏi kỹ thuật thâm canh cao, có những

đặc điểm riêng về hình thái, cấu tạo và sinh trưởng nên rất thích hợp cho nhiều

loại sâu bệnh phát sinh gây hại mạnh. Cũng như các loại cây thực phẩm khác,

dưa lưới là loại rau ăn quả, trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển thường bị

các loại sâu bệnh gây hại từ đó ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của cây

dưa lưới. Sâu bệnh là yếu tố khách quan, mức độ nhiễm bệnh nặng hay nhẹ phụ

thuộc sức đề kháng của giống, điều kiện ngoại cảnh và các biện pháp kỹ thuật

trồng trọt như: thời vụ, mật độ trồng, phân bón.

Trong quá trình theo dõi về tình hình sâu bệnh hại trên dưa lưới, chúng tôi

nhận thấy không có sự xuất hiện của các loại bệnh hại, trong khi đó có xuất hiện

một số loại sâu hại như: bọ rùa, sâu đục quả, nhện đỏ. Kết quả theo dõi về tình

hình sâu bệnh hại ở dưa lưới được trình bày trong bảng sau:

Bảng 4.4. Ảnh hưởng của một số tỉ lệ trộn viên giá thể đất sét nung và giá thể

hữu cơ đến khả năng chống chịu sâu hại của cây dưa lưới.

Chỉ tiêu

Công thức

I(Đ/C)

II

III

IV

V



Về sâu hại:



Sâu ăn tạp (con/m2)



Bệnh đốm đỏ (%)



1.67

0.67

0.67

0.22



0.23

0.12

0.09

0.06



0.22



0.01



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Giá thể: Giá thể được dùng để trồng cây gồm có viên giá thể đất sét nung, mùn cưa, trấu hun, đất phù sa.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×