Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và EU khi được ký kết có thể sẽ giúp tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam tăng thêm từ 10-15% so với hiện nay. Ngoài ra, FTA sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng từ 30-40% và nhập khẩu từ EU vào Vi

Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và EU khi được ký kết có thể sẽ giúp tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam tăng thêm từ 10-15% so với hiện nay. Ngoài ra, FTA sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng từ 30-40% và nhập khẩu từ EU vào Vi

Tải bản đầy đủ - 0trang

 Người lao động sẽ tăng cơ hội việc làm và tiền lương do thu hút đầu



tư nước ngoài lớn và xuất khẩu hàng hóa tăng.





cải thiện mức sống



Thương mại quốc tế tự do làm tăng khả năng sản xuất và tiêu dùng của nền

kinh tế. Nói cách khác, nó mang lại thu nhập quốc dân cao hơn , vì vậy giúp

nâng cao mức sống cho người dân.

3.



Thu hút đầu tư nước ngồi, vốn vay và cơng nghệ cao :



3a. Thu hút vốn:

Thị trường Việt Nam là một trong những điểm thu hút nguồn vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài (FDI) hấp dẫn nhất và đã tiếp nhận được khối lượng FDI

đáng kể. Tổng FDI năm 2010 ước tính khoảng 11 tỷ USD, tăng 10% so với

năm 2009.

Về đầu tư, hiện đầu tư của EFTA vào Việt Nam còn nhỏ so với tổng vốn đầu

tư ra nước ngoài của khối này. Tính đến hết tháng 12/2012, các nước EFTA

có 126 dự án ở Việt Nam với tổng số vốn trên 2,1 tỷ USD. Trong đó, Thụy

Sỹ chủ yếu đầu tư vào xây dựng, dược phẩm; Nauy đầu tư vào thủy sản,

năng

lượng

tái

tạo,

dầu

khí…

Theo các chun gia, với một FTA có nội dung tương đối toàn diện kể trên,

Việt Nam sẽ trở thành một địa điểm quan trọng của dòng đầu tư ra nước

ngoài của EFTA ,đặc biệt trong các lĩnh vực thế mạnh như tài chính, ngân

hàng, dịch vụ thương mại, chế tạo, dược phẩm, hàng hải…Bên cạnh lợi ích

gia tăng về xuất khẩu vào thị trường EFTA và thu hút FDI từ nhóm nước

này, Việt Nam còn có lợi ích lớn về khu vực dịch vụ với sự tham gia của các

tập

đồn

hàng

đầu

thế

giới.

(chinhphu.vn)

Xét dưới góc độ kinh tế, nhìn chung các quốc gia sau khi tham gia FTA với

EU đều đạt được những kết quả khả quan. Theo một nghiên cứu khác do

VCCI tiến hành – phân tích tác động của một vài FTA mà EU ký với một số

đối tác, các FTA mà EU ký trước đây với Chi-lê, Mê-hi-cô và Nam Phi đã

đem lại hiệu quả thương mại rất tích cực cho các nước này. Riêng đối với

Mê-hi-cơ, FTA còn mang lại cho nước này dòng vốn đầu tư trực tiếp nước



ngồi khổng lồ từ EU. Thực tế thì các công ty của EU đều coi Mê-hi-cô là cơ

sở sản xuất quan trọng các mặt hàng xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ nhằm

hưởng lợi từ Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ NAFTA (gồm Mê-hi-cô,

Hoa Kỳ và Ca-na-đa).

3b. Chuyển giao kĩ thuật:

Cũng theo đại diện Eurocharm, một lợi thế lớn của hàng xuất khẩu Việt Nam

khi FTA được ký kết là sự chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ về về đào tạo cho

các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường này sẽ tăng lên, nhằm đảm bảo

tính cạnh tranh tốt hơn cho hàng hóa của Việt Nam tại thị trường này.

Tác động của Hiệp định trong tương lai: phân tích định lượng

Những phân tích do MUTRAP tiến hành đã chỉ ra rằng Hiệp định thương mại

tự do với EU sẽ đem lại cho Việt Nam nhiều lợi ích. Trong đó, lợi ích lớn

nhất thu được bao gồm: tăng trưởng trong đầu tư của EU vào ngành công

nghiệp dịch vụ của Việt Nam, tăng cường xuất khẩu của Việt Nam sang EU

và cơ hội nâng cấp trình độ kỹ thuật của Việt Nam thông qua việc nhập khẩu

hàng hóa chiến lược với mức giá thấp hơn. Bên cạnh đó, tự do hóa thương

mại sẽ giúp tăng nguồn thu nhập quốc gia (nguồn thu từ hàng hóa nhập

khẩu lớn hơn nguồn chi từ sự giảm thuế), cán cân thương mại được cân

bằng (tăng trưởng đương 500 triệu USD hàng năm do xuất khẩu tăng, thấp

nhất là 4% so với dương 3,1% nhập khẩu), và từ đó giúp thúc đẩy tăng

trưởng GDP một cách đáng kể (2,7% năm.(Xem bảng dưới)

Biến số



Kết quả



Thu nhập quốc gia



+ 26 triệu USD mỗi năm



Xuất khẩu



+ 4% - + 6% mỗi năm



Nhập khẩu



+3.1% (điện tử: +2.7%, hóa chất +2.5%,



dược phẩm: +3%)



Cán cân thương mại



+500 triệu USD mỗi năm



GDP



+ 2.7% mỗi năm



Tiêu thụ của chính phủ và tư nhân



+ 2%



Giá



Giảm đáng kể



Tiền lương



Tăng đáng kể



Cận cảnh trong một vài lĩnh vực

Dệt may, cùng với da giày và một loạt các sản phẩm nông sản khác từ lâu là

những sản phẩm chủ lực của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường châu Âu.

Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam EU, từ năm 2001 đến nay, đã

tăng hơn 7 lần và đạt 34 tỷ USD vào năm 2013. Trong 6 tháng năm 2014,

thương mại Việt Nam - EU tăng trưởng trên 13% và đạt mốc 30 tỷ USD.



Dệt may là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất của Việt Nam (với

hơn 2 triệu công nhân) và là ngành phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu. Hơn

65% hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ và phần

còn lại xuất chủ yếu vào thị trường EU và Nhật Bản.

Xuất khẩu hàng may mặc tăng trưởng liên tục trong giai đoạn 2005- 2008

(trung bình +32% mỗi năm) và giảm mạnh trong năm 2009 (-10%) do giảm

cầu (và giảm giá) dưới ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế. Thêm vào đó,

sự tăng giá nguyên liệu và lãi suất vay cao càng làm giảm lợi thế cạnh tranh



của ngành này. Do vậy, ngành dệt may của Việt Nam sẽ hưởng lợi nhiều từ

hiệp định thương mại tự do với EU. Việc ký kết FTA với EU sẽ giúp giảm

mức thuế hiện tại mà EU áp đối với mặt hàng may mặc của Việt Nam từ

12% xuống 0%. Cụ thể là năm mặt hàng may mặc xuất khẩu nhiều nhất sẽ

được hưởng lợi (com-lê của nữ, năm là 285 triệu và 233 triệu USD, áo

khoác nam, nữ là 211 triệu và 207 triệu USD, và hàng dệt kim là 166 triệu

USD). Đồng thời, việc EU giảm thuế đối với hàng may mặc của Việt Nam

cũng sẽ thúc đẩy xuất khẩu với mức trung bình trên 20%.

Ngành da giầy đã trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực

chiếm 10% tổng kim ngạch xuất khẩu với hơn một triệu lao động trong 500

nhà máy, chiếm 40% tổng hàng hóa cơng nghiệp của Việt Nam. Việt Nam là

một trong những nước xuất khẩu da giầy nhiều nhất vào thị trường EU (với

4,5 tỷ USD trong năm 2008 và 3,6 tỷ USD năm 2009), chiếm 10% thị phần

của thị trường này. Mặt hàng chủ yếu là hàng da cao cấp (48% chiếm 2,3 tỷ

USD năm 2008) và giầy thể thao gia công cho các hãng của EU và Hoa Kỳ.

Trong thời gian gần đây, một vài nhà sản xuất của Việt Nam đã bắt đầu chú

trọng hơn đến nhu cầu của thị trường trong nước thông qua việc đầu tư

thành lập các bộ phận thiết kế mẫu chuyên nghiệp.

Thuế suất bình quân gia quyền EU áp dụng đối với mặt hàng giầy dép nhập

khẩu từ Việt Nam là 12,4% (tuy nhiên, thuế nhập khẩu đối với mặt hàng giầy

da là 17%). Thỏa thuận ký kết với EU sẽ làm giảm thuế áp đối với hàng Việt

Nam về mức hợp lý. Do vậy, Việt Nam hy vọng rằng xuất khẩu của các mặt

hàng giầy dép khác nhau sẽ tăng từ 7% lên 21% và có thể tăng lên từ 1416% vào cuối tháng 3 sau khi các biện pháp chống bán phá giá hết hiệu lực.

Mặt khác, Việt Nam cũng sẽ được hưởng lợi xét từ góc độ nhập khẩu.Việc

cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các hàng hóa chiến lược của EU vào Việt

Nam sẽ giúp nâng cao kỹ thuật của ngành cơng nghiệp và từ đó đẩy mạnh

hiệu quả sản xuất và xuất khẩu.Hai trong số các mặt hàng nhập khẩu quan

trọng nhất bao gồm điện tử và máy móc. Trong những năm từ 2004-2009,

tổng kim ngạch nhập khẩu hàng điện tử của Việt Nam tăng trưởng trung

bình ở mức 33,6%. Giá trị nhập khẩu mặt hàng này tăng từ mức 2,6 tỷ USD

năm 2005, sau 5 năm đã đạt mức 7,6 tỷ USD năm 2008. Việc cắt giảm thuế

nhập khẩu chắc chắn sẽ tác động đến số lượng và giá cả của hàng hóa và

linh kiện điện tử của EU vào Việt Nam vì tối thiểu cũng đủ cân bằng chi phí

vận chuyển từ châu Âu. Điều này sẽ giúp Việt Nam có được những sản

phẩm chất lượng cao với chi phí thấp hơn và có nhiều lựa chọn hơn đối với

các nhà cung cấp.



Tác giả: GS. Claudio Dordi - Federico Lupo Pasini

Source: mutrap.org.vn



KHÓ KHĂN :

Tuy nhiên, cũng như tất cả mọi cuộc đàm phán, có những lợi ích là trái

chiều, nhưng theo tơi, nó khơng q lớn. Và những bất lợi đó nếu như Việt

Nam khắc phục được, sẽ tạo một cơ sở mới cho chúng ta phát triển lên cao

hơn và từ đó đưa nền kinh tế lên một giai đoạn thực sự mới, phù hợp với

yêu cầu của chúng ta hiện nay về thay đổi mơ hình tăng trưởng và kích thích

nền kinh tế.

1.



Quy tắc, thủ tục phức tạp :



Ngoài lý do trước tiên rất đơn giản là nhiều khi các DN không hề biết tới sự

tồn tại của các ưu đãi FTA, thì một ngun nhân trái ngược với điều đó

chính là vì tính phức tạp và số lượng lớn các quy tắc của các FTA mà các

DN phải tuân thủ. Chỉ những sản phẩm đủ tiêu chuẩn mới có thể được

hưởng các mức thuế suất ưu đãi của FTA.Nhưng làm thế nào để xác định

một sản phẩm đủ tiêu chuẩn?Khó đưa ra một câu trả lời ngắn gọn.Tuy thế,

về cơ bản, chỉ những sản phẩm đáp ứng các quy tắc xuất xứ của một FTA

mới có thể hưởng các mức thuế suất ưu đãi của FTA đó.

Tiếp theo, tùy vào nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu thuộc quốc gia nào mà

FTA nào được áp dụng. Các DN xuất khẩu sản phẩm sang những nước

khác nhau phải hiểu rõ và tuân thủ những quy tắc này. Lấy ví dụ, một sản

phẩm làm ra ở Việt Nam và đủ điều kiện “có xuất xứ Việt Nam” theo ATIGA

có thể được hưởng thuế suất bằng khơng, hoặc ít ra là thấp hơn mức thơng

thường, khi xuất sang các nước ASEAN. Tuy nhiên, cũng sản phẩm đó khi

xuất sang Chi-lê, cho dù FTA giữa Việt Nam và Chi-lê đã ký và có hiệu lực,

khơng có nghĩa là sản phẩm đó sẽ mặc nhiên được hưởng thuế suất ưu đãi

theo FTA Việt Nam – Chi-lê. Là vì sản phẩm đó tuy đáp ứng các quy tắc xuất

xứ của ATIGA nhưng chưa chắc đã đáp ứng các quy tắc xuất xứ theo quy

định của FTA Việt Nam – Chi-lê.



FTA thường có những yêu cầu khá phức tạp gắn với quyền được hưởng

các ưu đãi. Tuy vậy, để được hưởng ưu đãi thương mại, hàng hóa giao dịch

trong khu vực FTA nhìn chung phải đáp ứng các quy tắc về xuất xứ. Vì thế,

điều quan trọng trước khi một doanh nghiệp (DN) cố gắng tận dụng những

lợi ích của FTA là họ cần nắm vững những rủi ro cũng như những lợi ích mà

một FTA có thể mang lại.

Tuy nhiên, hiện nay, xuất khẩu của Việt Nam sang EU mới đạt khoảng

0,75% tổng giá trị nhập khẩu của EU. Chỉ khoảng 42% giá trị xuất khẩu của

Việt Nam sang EU được hưởng mức thuế 0%, trong đó một phần là nhờ

Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) cho một số hàng hoá của Việt

Nam. Diện mặt hàng được hưởng GSP còn hạn chế. Chưa kể, xu hướng

chung là điều kiện hưởng GSP đối với Việt Nam ngày càng chặt chẽ hơn.

EU có rất nhiều quy định khắt khe đối với hàng hóa nhập khẩu vào thị

trường này, là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.

“EU rất coi trọng các yêu cầu về an toàn đối với sức khỏe con người, về bảo

vệ môi trường. Bởi vậy, hệ thống các biện pháp về kiểm dịch động thực vật

SPS, tiêu chuẩn, quy chuẩn và thủ tục đánh giá sự phù hợp TBT của EU rất

phức tạp, đòi hỏi cách tiếp cận của doanh nghiệp Việt Nam đối với thị

trường EU phải có bài bản và lâu dài” - ông Khánh cho hay.

Tương quan chi phí và lợi ích :

Một lý do nữa khiến các DN khơng dùng ưu đãi của một FTA có thể là do

tương quan giữa chi phí và lợi ích. Cơ quan hải quan ở nước nhập khẩu chỉ

áp dụng mức thuế suất ưu đãi nếu hàng hóa đi kèm với một Giấy chứng

nhận xuất xứ (CO) cho biết nước xuất xứ của sản phẩm. CO lúc này đóng

vai trò như một quyển “hộ chiếu” cho hàng hóa. Để có được CO này, nhà

sản xuất hay nhà xuất khẩu phải đảm bảo hàng hóa của họ đáp ứng các quy

tắc xuất xứ phức tạp, chuẩn bị sẵn và lưu giữ các chứng từ liên quan và

xuất trình kèm theo đơn đề nghị được cấp chứng nhận xuất xứ với cơ quan

cấp CO ở nước xuất khẩu.

Trong nhiều trường hợp, nhà xuất khẩu sau khi phải thực hiện nhiều việc để

có được CO phù hợp yêu cầu của FTA lại không được hưởng khoản tiền tiết

kiệm được từ thuế nhập khẩu, mà người hưởng lợi lại là nhà nhập khẩu.

Nếu nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu có quan hệ sâu, điều này không phải

vấn đề. Nhưng nếu giữa bên xuất khẩu và bên nhập khẩu khơng có mối

quan hệ lâu dài, điều này có thể trở thành chuyện khó xử lý do người bán

2.



hàng trên thực tế phải làm mọi việc nhưng lại khơng có lợi gì. Tuy lợi ích của

người xuất khẩu là bán được hàng, nhưng nếu đơn hàng quy mơ nhỏ thì

khơng đủ thuyết phục để họ cất cơng và chịu chi phí thực hiện các cơng

đoạn xin CO phức tạp phù hợp với yêu cầu của một FTA.

Các DN cũng có thể quyết định khơng sử dụng các FTA do những phiền toái

gắn với việc sử dụng chúng. Nhà nhập khẩu tuy tiết kiệm được thuế nhưng

cũng phải chấp nhận một số rủi ro. Vì cơ quan hải quan cho phép các nhà

nhập khẩu thông quan và áp dụng các mức thuế thấp hoặc bằng không, họ

cần đảm bảo hàng hóa trên thực tế phải đáp

80% DN xuất khẩu được

ứng và tuân thủ các nguyên tắc của FTA.

khảo sát tại Việt Nam nói rằng

Điều này có thể thực hiện tại thời điểm mở tờ

việc sử dụng các FTA giúp cải

khai hải quan hoặc về sau (thậm chí sau một

thiện hoạt động giao thương

vài năm), chẳng hạn như khi cơ quan hải

và tạo nên nhiều cơ hội đầu

quan thực hiện kiểm tốn sau thơng quan.

tư mới.

Những rắc rối của DN với cơ quan hải quan

có thể chỉ là những chuyện nhỏ – ví dụ như lỗi chính tả, hay một vài ơ nào

đó khơng được tích vào trên tờ CO – cho tới những vấn đề phức tạp, chẳng

hạn như khai sai xuất xứ hoặc có những cách diễn giải/cách hiểu khác nhau

giữa các cơ quan quản lý xuất khẩu và nhập khẩu. Những rắc rối này có thể

làm chậm trễ việc DN được nhận ưu đãi thuế hay thậm chí tệ hại hơn là rủi

ro mất quyền được hưởng ưu đãi, bị truy thu thuế, bị áp dụng các khoản

phạt...

Theo ơng Tạ Hồng Linh, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ

Công Thương) EU hiện đang là đối tác thương mại quan trọng của Việt

Nam, một thị trường phát triển ở trình độ cao nên các hệ thống kiểm soát về

quy chuẩn và tiêu chuẩn hàng hóa tại thị trường này rất phức tạp. Hiện chỉ

có khoảng 42% mặt hàng của Việt Nam được hưởng quy chế ưu đãi thuế

quan phổ cập (GSP) của EU.Tuy nhiên, nếu ký thành cơng FTA với EU, sẽ

có ít nhất 90% mặt hàng Việt Nam được hưởng mức thuế 0%.

Do vậy, ngay từ bây giờ doanh nghiệp Việt Nam phải tận dụng mọi cơ hội

nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như tuân thủ các quy định tiêu

chuẩn, yêu cầu kỹ thuật, hướng đến mở rộng các cơ hội thâm nhập vào thị

trường này.

Cụ thể là phải chủ động cập nhật thơng tin về q trình đàm phán FTA, các

quy định về xuất xứ hàng hóa để được hưởng ưu đãi, xây dựng kế hoạch để



có thể tham gia chuỗi cung ứng trong khu vực. Đồng thời nắm vững các tiêu

chuẩn kỹ thuật, thói quen tiêu dung của thị trường này để đảm bảo khi kết

thúc đàm phán doanh nghiệp có thể tận dụng tối đa các cơ hội xuất khẩu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và EU khi được ký kết có thể sẽ giúp tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam tăng thêm từ 10-15% so với hiện nay. Ngoài ra, FTA sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng từ 30-40% và nhập khẩu từ EU vào Vi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×