Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
A. Tổng quát tình hình.

A. Tổng quát tình hình.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nhóm 2B-FT34



Thị trường xuất khẩu tiếp tục được duy trì và mở rộng, thể hiện chủ trương đa dạng

hóa thị trường xuất khẩu của Chính phủ mà Bộ Cơng Thương và các bộ, ngành tích cực

phối hợp triển khai trong thời gian qua đã mang lại những hiệu quả nhất định. Trong năm

2015, xuất khẩu sang các thị trường và khu vực thị trường trọng điểm đều đạt tăng trưởng

dương, đồng thời hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng đã bắt đầu vươn ra các thị

trường tiềm năng, thị trường mới.

Yếu tố tạo tiền đề rất tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu trong năm 2015 là việc Việt

Nam đã ký kết và kết thúc đàm phát một loạt hiệp định thương mại tự do, trong đó có

những hiệp định rất quan trọng như Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam với EU,

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Các hiệp định này sẽ tạo ra động lực

tăng trưởng mới cho hoạt động đầu tư và đẩy mạnh xuất khẩu, là cú hích mạnh mẽ đối

với tăng trưởng xuất khẩu cũng như tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng

hóa cả nước trong tháng 12/2015 đạt hơn 28 tỷ USD, tăng 1,8% so với tháng trước; trong

đó trị giá xuất khẩu là 13,73 tỷ USD, giảm 1,1% và trị giá nhập khẩu là 14,4 tỷ USD,

tăng 4,9%. Trong tháng 11/2015, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 563 triệu USD.

Năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 327,76 tỷ USD,

tăng 10% so với năm 2014, trong đó xuất hàng hóa đạt 162,11 tỷ USD, tăng 7,9% so với

cùng kỳ năm trước và nhập khẩu hàng hóa là 165,65 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ

năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa cả nước thâm hụt 3,54 tỷ USD (tương đương

khoảng 2,2% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước) và ngược lại so với xu hướng

thặng dư 2,37 tỷ của năm trước.

Như vậy, so với năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm, kim ngạch xuất nhập khẩu

đã tăng hơn 124 tỷ USD (từ 203,7 tỷ năm 2011 lên 327,76 tỷ USD năm 2015) nhưng xét

về tốc độ tăng thì năm 2015 có tốc độ tăng thấp nhất cả giai đoạn và thấp hơn nhiều so

với mức tăng bình quân 15,8%/năm giai đoạn 2011-2015.

Biểu đồ 1: Diễn biến kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóavà cán cân

thương mại giai đoạn 2006-2015



4



Nhóm 2B-FT34



Nguồn: Tổng cục Hải quan

Trong năm 2015, Việt Nam có trao đổi hàng hóa với hơn 200 quốc gia, vùng lãnh

thổ. Trong số các thị trường trên, số thị trường đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của xuất

khẩu là 29 thị trường với tổng kim ngạch là 147,36 tỷ USD, chiếm gần 90,9% tổng trị giá

xuất khẩu hàng hóa của cả nước.

Số thị trường đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của nhập khẩu là 19 thị trường với tổng

trị giá là 150,42 tỷ USD, chiếm 90,8% tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước.

Bảng 1: Số lượng thị trường theo mức kim ngạch năm 2015

Xuất khẩu

Mức kim ngạch



Số

thị

trường



Từ 1 tỷ USD trở lên



Trị

giá

(Tỷ USD)



Nhập khẩu

S

ố thị

trường



Trị

giá

(Tỷ USD)



29



147,3

6



19



150,4

2



7



4,34



8



5,94



Từ 500 triệu USD- dưới 1 tỷ

USD



5



Nhóm 2B-FT34



Từ 100- dưới 500 triệu USD



34



Từ dưới 100 triệu USD



162



7,37



28



6,93



3,04



15

5



2,40



Nguồn: Tổng cục Hải quan

Tổng trị giá trao đổi hàng hóa của Việt Nam với châu Á năm 2015 đạt 214,9 tỷ

USD, tăng 8,9% so với năm 2014 và là châu lục chiếm tỷ trọng cao nhất (65,6%) trong

tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước.

Tiếp theo là xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các nước châu Mỹ với kim ngạch

55,42 tỷ USD, tăng 18,6% so với năm trước và là châu lục đạt mức tăng trưởng xuất nhập

khẩu cao nhất.

Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với châu Âu đạt 46,55 tỷ USD, tăng 9,4%;

châu Phi là 5,11 tỷ USD, tăng 9,8%; riêng với châu Đại Dương chỉ đạt 5,79 tỷ USD, giảm

tới 16,2%

Biểu đồ 3: Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với các Châu lục

năm 2015

Xuất khẩu



Nhập khẩu



Nguồn: Tổng cục Hải quan

Trong năm 2015, Trung Quốc tiếp tục là thị trường dẫn đầu về cung cấp hàng hóa

cho Việt Nam với trị giá nhập khẩu hàng hóa từ thị trường này đạt 49,52 tỷ USD tăng

6



Nhóm 2B-FT34



13.9% so với năm 2014. Các mặt hàng chính nhập khẩu từ Trung Quốc trong năm 2015

là: máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 9,03 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2014;

điện thoại các loại và linh kiện: 6,9 tỷ USD, tăng 8,7%; vải các loại: 5,22 tỷ USD, tăng

12,1%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: 5,21 tỷ USD, tăng 13,9%...

Năm 2015 hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ Hàn Quốc vào Việt Nam là 27,63 tỷ

USD, tăng 27% so với năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng 5,1% của năm 2014.

Các mặt hàng chính nhập khẩu từ Hàn Quốc trong năm là: máy vi tính, sản phẩm điện tử

& linh kiện: 6,7 tỷ USD, tăng 33,5% so với năm 2014; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ

tùng: 5,11 tỷ USD, tăng 62,6%; điện thoại các loại và linh kiện: 3,02 tỷ USD, tăng 76%;

sản phẩm từ chất dẻo: 1,07 tỷ USD, tăng 33,7%; sản phẩm từ sắt thép: 1,03 tỷ USD, tăng

28,8%...

Tiếp theo là các thị trường: Nhật Bản với trị giá đạt 14,37 tỷ USD, tăng 11,15% so

với năm 2014, Đài Loan với trị giá gần 11 tỷ USD giảm nhẹ 0,78%, Thái Lan với trị giá

là 8,28 tỷ USD tăng 16,79%,…

Ở chiều ngược lại, Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam

với 33,48 tỷ USD tăng 16,9% so với năm 2014, và là thị trường mà Việt Nam đạt thặng

dư thương mại lớn nhất với 25,68 tỷ USD. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu sang Hoa Kỳ là

hàng dệt may với trị giá gần 11 tỷ USD tăng 11,72% và chiếm 32,72% trị giá hàng hóa

xuất khẩu sang thị trường này, tiếp theo là giày dép các loại với trị giá trên 4 tỷ USD tăng

22,49%, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 2,83 tỷ USD tăng 33,68% so với

năm 2014,…

Xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Quốc và Hàn Quốc lần lượt là 16,6 tỷ,

(tăng 11,2%) và 8,93 tỷ (tăng 25.03%) so với năm 2014. Bên cạnh đó xuất khẩu sang

Nhật Bản giảm 3,8%, tương đương giảm 556 triệu USD so với năm 2014.

B.

Tình hình xuất khẩu.

Theo số liệu thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu vừa được Tổng cục Hải quan công

bố, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước năm 2015 đạt 327,76 tỷ USD, tăng 10%

tương ứng tăng 19,69 tỷ USD năm 2014.

Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, tổng kim ngạch xuất nhập

khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi (FDI) đạt gần 208 tỷ USD, tăng 16,7%

tương ứng tăng 29,69 tỷ USD năm 2014 và chiếm 63,4% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu

của cả nước.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 12 năm

2015 (từ 16-12-2015 đến 30-12-2015) đạt 14,57 tỷ USD, tăng 9,2% tương ứng tăng 1,23

tỷ USD so với kết quả thực hiện trong nửa đầu tháng 12-2015. Trong đó, xuất nhập khẩu

của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt kim ngạch 8,62 tỷ USD, tăng

7,3% tương ứng tăng 588 triệu USD so với nửa đầu tháng 12-2015.

7



Nhóm 2B-FT34



Trong kỳ 2 tháng 12-2015 cán cân thương mại hàng hóa cả nước thặng dư 112 triệu

USD, thu hẹp mức thâm hụt thương mại hàng hóa cả nước trong năm 2015 là 3,54 tỷ

USD, bằng 2,2% kim ngạch xuất khẩu.

Về xuất khẩu, tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ 2 tháng

12-2015 đạt 7,34 tỷ USD, tăng 14,5% (tương ứng tăng 930 triệu USD về số tuyệt đối) so

với kỳ 1 tháng 12-2015.

Kim ngạch xuất khẩu kỳ 2 tháng 12-2015 tăng so với kỳ 1 tháng 12-2015, chủ yếu

do tăng ở một số nhóm hàng sau: Điện thoại và linh kiện tăng 177 triệu USD; hàng dệt

may tăng 319,3 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 121,1 triệu USD, giầy dép các loại

tăng 66,4 triệu USD; hàng thủy sản tăng 62,8 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ

tùng tăng 62,1 triệu USD, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 57,6 triệu

USD, máy anh, máy quay phim và linh kiện giảm 48,6 triệu USD, gạo giảm 43,6 triệu

USD,…

Như vậy, tính đến hết năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt

162,11 tỷ USD, tăng 7,9% tương ứng tăng 11,89 tỷ USD so với năm 2014.

Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy trị giá xuất khẩu hàng hóa

của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong kỳ 2 tháng 12-2015

đạt 4,74 tỷ USD, tăng 9,8% tương ứng tăng 425 triệu USD so với kỳ 1 tháng 12-2015,

qua đó nâng tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 của nhóm các doanh nghiệp này lên

110,59 tỷ USD, tăng 17,7% tương ứng tăng 16,64 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước và

chiếm 68,2% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.

Một số mặt hàng xuất khẩu chính

Điện thoại các loại & linh kiện: là nhóm hàng dẫn đầu về đóng góp vào tăng kim

ngạch xuất khẩu năm 2015 (tăng 6,58 tỷ USD, chiếm 55,3% mức tăng xuất khẩu của cả

nước). Trong tháng 12, xuất khẩu của mặt hàng này 1,73 tỷ USD giảm 38% so với tháng

trước, đưa tổng trị giá xuất khẩu trong năm 2015 đạt 30,18 tỷ USD, tăng 27,9% so với

năm 2014, tương đương tăng 6,58 tỷ USD. Những đối tác chính nhập khẩu điện thoại các

loại & linh kiện của Việt Nam trong năm qua là EU với 10,11 tỷ USD, tăng 19,7 % và

chiếm 33,5% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là: Tiểu

Vương Quốc Ảrập thống nhất: 4,48 tỷ USD, tăng 23,3%; Hoa Kỳ: 2,77 tỷ USD, tăng

78,9%; Đức: 1,77 tỷ USD, tăng 30,4%…so với năm 2014.

Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: xuất khẩu mặt hàng này trong tháng 12

đạt 1,31 tỷ USD giảm 13,2% so với tháng trước, nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này

trong năm 2015 đạt 15,61 tỷ USD, tăng mạnh 36,5% so với năm trước. EU là đối tác lớn

nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong năm qua với 3,2 tỷ USD, tăng 36,8%;

tiếp theo là Hoa Kỳ đạt 2,83 tỷ USD, tăng 33,6%; sang Trung Quốc đạt 2,65 tỷ USD,

tăng 20,8%; sang Hồng Kồng đạt 1,71 tỷ USD, tăng mạnh 84,2%... so với năm trước.

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

A. Tổng quát tình hình.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×