Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
e. Phân tích hoạt động tiêu thụ và kết quả của nó

e. Phân tích hoạt động tiêu thụ và kết quả của nó

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đối với mọi doanh nghiệp và các đơn vị sản xuất kinh doanh, tiêu thụ

sản phẩm là quá trình hết sức quan trọng

+ Tiêu thụ sản phẩm là quá trình gặp gỡ trực tiếp giữa khách hàng và

doanh nghiệp. Do đó, nó có vai trò vơ cùng quan trọng trong việc phát triển

và mở rộng thị trường, duy trì và phát triển mối quan hệ bền chặt giữa doanh

nghiệp và khách hàng

+ Tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng trong việc phản ánh kết quả

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nó góp phần

trọng yếu vào việc nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+ Thông qua tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp bù đắp được chi phí hoạt

động, giảm thời gian hàng hóa lưu kho, giảm hao hụt mất mát…thực hiện

được mục tiêu tìm kiếm và tối đa hóa lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh.

Đồng thời, nó góp phần giải quyết những mâu thuẫn cơ bản trong q trình

sản xuất kinh doanh và các lợi ích kinh tế cơ bản giữa nhà nước, doanh

nghiệp và người lao động

+ Thơng qua tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể dự đốn nhu cầu

tiêu dùng của xã hội nói chung và của từng khu vực nói riêng đối với từng

loại sản phẩm. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp sẽ xây dựng được các kế

hoạch phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất

Với vai trò quan trọng như vậy của hoạt động tiêu thụ sản phẩm, nó

quyết định đến cả sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

2.1.1.5 Đặc điểm sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ và sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ

nghệ

a. Đặc điểm của sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ

Sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm có giá trị sử dụng

cao. Kết cấu của sản phẩm đòi hỏi phải mang tính nghệ thuật, thẩm mỹ và được

sản xuất cầu kỳ, tinh vi. Do vậy người thợ phải có tính kiên trì và sự khéo

léo. Để sản phẩm có giá trị đòi hỏi phải đạt u cầu về hình thức lẫn giá trị.



16



Về mặt giá trị, sản phẩm mang lại lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp,

các đơn vị sản xuất.

Về mặt giá trị sử dụng, sản phẩm dùng để phục vụ cho cuộc sống sinh

hoạt của con người

b. Đặc điểm về công nghệ - công cụ

Hệ thống công cụ trong các làng nghề mộc mỹ nghệ truyền thống

thường là các cơng cụ thủ cơng đơn giản, chỉ có các cơ sở sản xuất lớn mới có

khả năng đầu tư máy móc có giá trị vào hỗ trợ sản xuất. Trong các làng nghề

các nghệ nhân với các bí quyết nhà nghề đã tạo nên sản phẩm mộc mỹ nghệ

độc đáo riêng của mình. Việc học mót cơng nghệ rất khó khăn và các cơng

nghệ thường được duy trì lâu bền một cách bí mật trong từng gia đình hoặc

dòng họ, thậm chí qua nhiều thế hệ và các làng nghề loại mới chỉ có thể tạo

được sản phẩm thơng dụng của sản phẩm mộc mỹ nghệ. Hiện nay, một số

khâu cơng việc nặng nhọc máy móc đã thay thế sức người tuy nhiên đối với

những hộ ít vốn vẫn phải sử dụng công cụ thủ công

c. Đặc điểm về lao động

Do nhu cầu mở rộng quy mô, trong nguồn lao động nơng thơn có

một bộ phận lao động được tách ra chun làm hàng thủ cơng và ngồi lao

động gia đình, phần lớn các hộ sản xuất đều phải thuê lao động. Trong làng

nghề tỷ suất sử dụng lao động rất cao và hầu như tất cả mọi người( từ trẻ

em đến người già) đều có việc làm. Ở Thanh Lãng hầu như việc dạy nghề là

do các cơ sở sản xuất trong làng nghề mộc đảm nhận người biết làm dạy cho

người không biết làm.

d. Đặc điểm về nguyên, nhiên vật liệu

Nguyên nhiên vật liệu sử dụng trong sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ rất phong

phú. Chính tính chất đa dạng của sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ đã tạo nên sự

phong phú về các loại nguyên liệu được sử dụng trong sản xuất. Mỗi loại sản

phẩm cần có một hệ thống nguyên liệu tương ứng, trong đó nguyên liệu chính



17



là gỗ các loại…và một số nguyên liệu khác tuy không lớn nhưng không thể

thiếu cho một sản phẩm trọn vẹn như: trai, ốc, keo, cốn, sơn, vecni… mà

việc sử dụng chúng đã thành bí quyết nhà nghề.

2.1.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ

 Yếu tố bên trong

a. Giá cả sản phẩm

Giá cả là sản phẩm bằng tiền của giá trị sản phẩm trong đó bao gồm các

chi phí sản xuất ra sản phẩm và lợi nhuận của doanh nghiệp. Giá cả là một

trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm, mặt

khác người tiêu dùng sản phẩm đồ gỗ lại là người quyết định cho giá cả của sản

phẩm hàng hóa đó, xem nó có phù hợp với họ hay khơng. Do đó giá cả sản phẩm

đồ gỗ mỹ nghệ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiêu thụ sản phẩm.

Trên thị trường với cùng một sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ nhưng có nhiều nhà sản

xuất ra và sử dụng nguyên liệu khác nhau. Vì vậy tùy từng điều kiện cụ thể mà

doanh nghiệp ấn định giá cả sản phẩm sao cho phù hợp với người tiêu dùng và có

sức cạnh tranh trên thị trường mà vẫn đảm bảo lợi nhuận

b. Vốn sản xuất kinh doanh

Vốn là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh

doanh. Sự phát triển thịnh vượng của việc sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ

cũng khơng nằm ngồi sự ảnh hưởng của nhân tố vốn sản xuất. Vốn của hầu

hết các hộ sản xuất kinh doanh thường là vốn tự có của từng gia đình vốn vay

mượn từ anh em họ hàng hoặc hàng xóm láng giềng nên quy mơ sản xuất còn

nhỏ hẹp. Một số ít hộ có lượng vốn nhiều hơn mở rộng quy mô sản xuất nên

quy mơ sản xuất lớn hơn thiết bị máy móc tiên tiến ở một số khâu, cơng đoạn,

cơng việc có thể thay thế kỹ thuật lao động thủ công.

Vốn sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm vốn cố định

và vốn lưu động



18



+ Vốn cố định: là toàn bộ giá trị của tài sản cố định. Đối với các hộ sản xuất

kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ thì đây là giá trị của nhà xưởng, máy móc,…

phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của hộ

+ Vốn lưu động: là toàn bộ những khoản vốn thay đổi cần thiết cho quá

trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Vốn sản xuất kinh doanh thể hiện quy mơ năng lực tài chính trong hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mức độ đầu tư của doanh nghiệp

và sản xuất kinh doanh là cao hay thấp. Ngồi ra yếu tố vốn còn quyết định

đễn khả năng cạnh tranh về các chủng loại sản phẩm của doanh nghiệp này

với doanh nghiệp khác trên thị trường

c. Nguyên liệu

Đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn tới sản xuất của các làng nghề. Trong bất

kỳ một cơ sở sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ nào, số lượng nguyên liệu dự trữ trong

kho, bãi hay đang trên đường về nhà đóng một vai trò quyết định trong

chiến lược sản xuất kinh doanh, quy mô sản xuất của doanh nghiệp. Chủng loại

của nguyên liệu, chất lượng, giá cả các nguyên liệu còn ảnh hưởng đến chất

lượng và giá cả sản phẩm, hàng hóa sản xuất ra. Nguồn nguyên liệu lớn, giá

cả nguyên liệu phù hợp thì kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế mà doanh

nghiệp thu được sẽ càng cao. Cho nên khi tham gia sản xuất các doanh

nghiệp thường chú ý nhiều đến yếu tố nguyên vật liệu. Cho nên lựa chọn và sử

dụng các loại nguyên vật liệu thay thế hợp lý, theo hướng đa dạng hóa, giá rẻ,

đảm bảo cho quy trình sản xuất nhanh, đảm bảochất lượng sản phẩm tốt, càng

thu hút được người tiêu dùng và nâng cao được thị phần sản phẩm đồ gỗ mỹ

nghệ.

d. Trình độ kỹ thuật và cơng nghệ

Trình độ sản xuất kỹ thuật cơng nghệ có ảnh hưởng rất quan trọng đối

với bất kỳ ngành nghề nào, sản phẩm nào. Từ đó có ảnh hưởng trực tiếp đến

năng suất lao động, chất lượng và giá thành sản phẩm, đến năng lực cạnh



19



tranh cảu các sản phẩm trên thị trường và cuối cùng là quyết định sự tồn vong

của một cơ sở sản xuất, một ngành nghề nào đó. Đối với sản xuất đồ gỗ mỹ

nghệ cũng vậy



20







Yếu tố bên ngồi



a. Yếu tố thị trường

Mục đích của người sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận, mục đích của

người tiêu dùng là tối đa hóa độ thỏa dụng. vì vậy đối với người sản xuất thì

việc tiêu thụ được sản phẩm có ý nghĩa quan trọng. Trong cơ chế thị trường

như hiện nay thì cá nhân sản xuất và người tiêu dùng luôn luôn tác động qua

lại lẫn nhau, mục đích cuối cùng là xác định 3 vấn đề quan trọng là: sản xuất

cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?

Trong thị trường thì lượng sản phẩm hàng hóa sản xuất do thị trường

quyết định.Các sản phẩm được sản xuất như thế nào thì lại do sự cạnh tranh

giữa các nhà sản xuất quy định. Trong sản xuất người nào giảm được chi phí

sản xuất hàng hóa cho cùng một đơn vị sản phẩm thì người đó có ưu thế và

dễ dàng cạnh tranh trên thị trường và ngược lại

Vấn đề sản xuất cho ai lại do mối quan hệ cung - cầu trên thị trường

quyết định.Các cơ sở sản xuất cần nắm bắt được các thông tin để tổ chức sản

xuất kịp thời những loại sản phẩm mới mà thị trường đang cần, chủ động

sang tạo ra các sản phẩm có hình thức, mẫu mã phong phú, tạo được sự đặc

trưng riêng về sản phâm trên thị trường

b. Khách hàng

Trong điều kiện hiện nay khi khơng còn áp dụng phương thức phân

phối hàng hóa thì yếu tố khách hàng đóng vai trò quan trọng đến công tác bán

hàng của doanh nghiệp. Ngay từ khi các định cơ cấu sản xuất kinh doanh,

người chủ doanh nghiệp đã phải xác định thị trường tiêu thụ cho sản phẩm,

đối tượng phục vụ của doanh nghiệp. Khi thu nhập của người dân tăng lên thì

cái mà họ quan tâm nhất là chất lượng sản phẩm chứ không phải giá bán sản

phẩm đó. Ngược lại ở những vùng kinh tế còn khó khăn người mua lại tính

đến giá cả sản phẩm. Như vậy người sản xuất cần nghiên cứu tìm hiểu các



21



thói quen, thị hiếu tiêu dùng của dân cư để đáp ứng nhu cầu của họ đồng thời

mở rộng thị trường.

c. Cạnh tranh

Nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh và đề ra định hướng phù hợp với

doanh nghiệp mình là điều rất cần thiết. Trước sức ép của đối thủ cạnh tranh,

doanh nghiệp có thể có nhiều phương pháp đối phó khác nhau. Để cạnh tranh

được tốt doanh nghiệp cần phải xác định chính xác đối thủ cạnh tranh, biết

được chiến lược marketing của đối thủ, từ đó có kế hoạch ứng phó kịp thời.

Bên cạnh đó cũng cần đánh giá thế mạnh và điểm yếu của đối thủ cạnh tranh

như tiềm năng về vốn, quy mô snr xuất, sự đãi ngộ của nhà nước, thị phần

chiếm giữ…nhờ vào những thơng tin đó doanh nghiệp sẽ tìm kẽ hở của đối

thủ cạnh tranh để xác định phương án sản xuất kinh doanh cho phù hợp

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

2.1.2.1 Kinh nghiệm tiêu thụ sản phẩm gỗ mỹ nghệ trên thế giới

Ở Indonesia

Cũng có nghề điêu khắc gỗ truyền thống như Việt Nam, nhưng bằng những

cách phát triển thiết thực, khoa học gắn yếu tốc lịch sử với du lịch tâm linh, đảo

Bali, Indonesia đã tìm hướng đi cho nghề thủ công mỹ nghệ tại nhiều làng nghề để

tăng thu nhập cho người dân và giới thiệu sản phẩm ra thế giới.

Kemenuh Mas là một trong những khu làng cổ nhất của đảo Bali, Indonesia

với hơn 1.000 năm tuổi. Nơi này rất phong phú gỗ da cá sấu, 1 loại nguyên liệu rất

thích hợp để điêu khắc gỗ cao cấp. Indonesia là đất nước Hồi giáo, nên nhu cầu về

tượng gỗ để thờ cúng rất lớn. Những người dân làng từ cụ già đến trẻ em, đều có

tay nghề tinh xảo điêu khắc tượng gỗ. Hơn 1.000 năm qua, người dân trong làng

luôn cha truyền, con nối từ thế hệ này sang thế khác những bí quyết của nghề điêu

khắc gỗ. Những sản phẩm gỗ tự nhiên được làm thủ công của người dân làng nghề

này, giờ đây không chỉ tiêu thụ trong phạm vi nhỏ hẹp của địa phương nữa.



22



Mặc dù làng nghề mới chính thức phát triển từ 13 năm nay, tuy nhiên với

truyền thống đã có từ hơn 1.000 năm qua cùng với bàn tay khéo léo tinh xảo của

người dân nơi đây cũng như là cây gỗ quý da cá sấu, đã tạo nên những đồ thờ cúng

mỹ nghệ nổi tiếng không chỉ ở trong vùng Bali mà còn ở khắp đất nước Indonesia.

Mặc dù đã tồn tại qua hàng chục thế kỷ, thế nhưng sự phát triển chỉ bắt đầu

từ năm 1999. Chính quyền tỉnh Bali nhận thấy, đây có thể là một điểm nhấn trong

chuỗi phát triển du lịch của hòn đảo xinh đẹp này - một nơi nghỉ mát nổi tiếng thế

giới. Từ đó, họ đã tập trung quảng bá lịch sử làng nghề, tổ chức nhiều cuộc triển

lãm giới thiệu sản phẩm được làm hồn tồn thủ cơng, ra quốc tế.

Bà Madeatia Wati - Chủ cơ sở sản xuất gỗ làng Kemenuh Mas, Bali,

Indonesia cho biết: “Chúng tôi tập trung vào độ tinh xảo và đa dạng sản phẩm. Như

vậy, tay nghề của người thợ thủ công phải rất cao. Tập trung đào tạo bài bản, kết

hợp với những bí quyết gia truyền của từng gia đình đã tạo nên sự độc đáo cho sản

phẩm gỗ và như vậy, thương hiệu làng nghề càng được nâng lên”.

Khách quốc tế đến đảo Bali tham quan những khu du lịch, khu di tích của

đạo Hồi, bao giờ cũng tìm đến và mua sản phẩm làng nghề vì các điểm đó nằm liền

kề nhau. Khi về nước, họ lại giới thiệu cho bạn bè về sản phẩm của làng nghề cổ.

Kênh thông tin này rất quan trọng. Tuy nhiên, chính quyền tỉnh Bali đã xắn tay vào

cuộc bằng cách hạn chế và cấm xuất khẩu nguyên vật liệu thô, để đáp ứng nhu cầu

sản xuất của ngành thủ công mỹ nghệ. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng

áp dụng mức thuế xuất khẩu ưu đãi đối với các sản phẩm thủ công này và tăng

cường hỗ trợ đào tạo, cấp chứng chỉ nghề cho người lao động, để có thể được cơng

nhận trong toàn ASEAN sau năm 2015.

Anh Nyoman - Hướng dẫn viên Cơng ty du lịch Asia World, Indonesia chia

sẻ: “Chính quyền địa phương và Hiệp hội làng nghề ở đây hỗ trợ người dân những

khoản vốn vay ưu đãi để mua và phát triển gỗ nguyên liệu. Còn hướng dẫn viên du

lịch chúng tôi luôn xác định giới thiệu với du khách quốc tế về lịch sử lâu đời của

làng nghề”.



23



Gắn du lịch tâm linh với du lịch làng nghề có yếu tố lịch sử lâu đời, hỗ trợ

các Hiệp hội làng nghề đào tạo kỹ năng, tay nghề cho người lao động, hợp tác chặt

chẽ giữa các Hiệp hội làng nghề với trung tâm khoa học kỹ thuật - công nghệ và

giới nghệ sĩ, nghệ nhân… là những phương thức nhằm nâng cao giá trị gia tăng của

các sản phẩm ở Bali. Từ cách làm của Indonesia, một nước cùng là thành viên

Asean và cũng có những nét tương đồng về nghề thủ cơng mỹ nghệ, có thể gợi mở

cho chúng ta tham khảo khi bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống

2.1.2.2 Tình hình tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ ở Việt Nam

Hầu hết các sản phẩm gỗ của các doanh nghiệp Việt Nam chịu sự cạnh tranh

gay gắt từ các doanh nghiệp của Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, các

nước Đông Âu và Mỹ La Tinh. Chỉ tính riêng Trung Quốc đã có trên 50.000 cơ sở

sản xuất với hơn 50 triệu nhân công và sản xuất với doanh số gần 20 tỷ USD.

Thị trường đồ gỗ của Việt Nam đã có nhiều biến chuyển mạnh mẽ trong

những năm gần đây, từ chỗ tập trung vào các thị trường trung chuyển như Đài

Loan, Singapore, Hàn Quốc….. thì nay hàng Việt đã khẳng định vị thế trên sân

nhà. Tỷ lệ sản phẩm nội thất phục vụ thị trường nội địa của các doanh nghiệp

Việt Nam đã tăng từ 20% lên 40%, hàng ngoại đã mất dần ưu thế. Với quy mô

thị trường Việt Nam với dân số hơn 90 triệu người, bình quân nhu cầu tiêu dùng

đồ gỗ trong 4 năm gần đây khoảng 1,98 tỷ USD. Trong đó, tiêu dùng đồ gỗ

người dân thành thị chiếm khoảng 30% cho hộ gia đình, 40% cho các cơng trình

dự án mới và 30% thị phần còn lại đến từ 70% dân cư nơng thơn.

Theo các chuyên gia, lý do khiến đồ gỗ Việt Nam đã và đang ngày càng

được lòng các thị trường lớn là do đồ gỗ Việt Nam có chất lượng tốt, giá cả cạnh

tranh. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ gia tăng cả

trong và ngoài nước những năm qua cũng là cơ hội cho ngành chế biến đồ gỗ

trong nước phát triển. Theo dự báo của Bộ Công thương, năm 2014, kim ngạch

xuất khẩu đồ gỗ cả nước sẽ đạt khoảng 6,5 tỷ USD, đồ thủ công mỹ nghệ đạt

khoảng 2 tỷ USD.



24



Hiện nay, sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam đã có mặt trên 100 thị trường

nước ngoài. Ngành gỗ Việt Nam đã đứng vị trí thứ 4 trong cuộc đua chiếm thị

phần xuất khẩu đồ gỗ trong khối các nước Đông Nam Á và đứng ở vị trí thứ 10

trong xuất khẩu gỗ trên thế giới. Gỗ và các sản phẩm đồ gỗ của nước ta hiện

đang được xuất khẩu sang 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó EU, Mỹ,

Nhật Bản là những thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn nhất, chiếm hơn 70% tổng

sản phẩm gỗ xuất khẩu của cả nước.

Theo số liệu của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vietfores). Năm 2013,

XK gỗ và đồ gỗ đã thiết lập kỷ lục mới với kim ngạch 5,5 tỷ USD, trở thành một

trong 22 nhóm hàng hóa có kim ngạch trên 1 tỷ USD, tăng 19,22% so với năm

2012, tăng 25 lần so với năm 2000 (kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 219 triệu USD)

vượt 7% so với kế hoạch và vượt cả mục tiêu 5,4 tỷ USD đề ra cho năm 2015.

Có thể thấy, đây là một kỳ tích đặc biệt trong bối cảnh thị trường thế giới ảm

đạm, EU và Mỹ thực thi nhiều chính sách mang tính rào cản. Về thị trường,

trong năm qua, ngoại trừ XK vào Đức giảm 16,54%, Pháp giảm 3,24% so với

năm 2012, XK gỗ và các sản phẩm gỗ sang các thị trường tiêu thụ lớn hầu hết

đều tăng trưởng mạnh. Cụ thể, Hoa Kỳ tăng 10,26%, Trung Quốc 34,64%, Nhật

Bản 20,97%, Hàn Quốc 45,23%. XK đồ gỗ và lâm sản là một trong những lĩnh

vực có tỷ lệ xuất siêu cao so với một số lĩnh vực khác (trên 3 tỷ USD, tương ứng

với 65%). Việt Nam trở thành quốc gia thứ 6 trên thế giới, thứ 2 châu Á và đứng

đầu Đông Nam Á về XK đồ gỗ.

Năm 2014, xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ đạt 6,21 tỷ USD, tăng 11,1%

so với năm 2013. Xuất khẩu mặt hàng này sang hầu hết các thị trường chính đều

tăng, ngoại trừ thị trường Trung Quốc giảm 17,08% so với năm 2013. Hoa Kỳ

và Nhật Bản có mức tăng trưởng lần lượt là 11,1% và 15,55% so với năm 2013.

Đáng chú ý, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc – 3 thị trường nhập khẩu gỗ lớn

nhất của Việt Nam trong năm 2014 – chiếm 65,13% tổng giá trị xuất khẩu của

mặt hàng này.



25



Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 8/2015,

xuất khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ giảm 0,2% so với tháng 7, tương đương

với 590,3 triệu USD – đây là tháng giảm đầu tiên sau hai tháng kim ngạch tăng

trưởng, 8 tháng đầu năm nay xuất khẩu gỗ và sản phẩm thu về 4,3 tỷ USD, tăng

10,2% so với cùng kỳ năm ngối. Nhìn chung, 8 tháng đầu năm 2015, xuất khẩu

gỗ và sản phẩm đều tăng trưởng ở hầu hết các thị trường, số thị trường có tốc độ

tăng trưởng dương chiếm 56,7%, trong đó một số thị trường tiềm năng với tốc

độ tăng trưởng mạnh như Ấn Độ tăng 74,86%, Thái Lan tăng 49,92%,

Hongkong tăng 40,38% và Saudi Arabia tăng 35,45.

Chiều ngược lại, số thị trường có tốc độ tăng trưởng âm chiếm 43,2% và xuất

sang thị trường Séc giảm mạnh nhất, giảm 64,04%, kế đến là Thụy Sỹ giảm

64,04% và áo giảm 49,46%.



Đồ thị 2.1: Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 8 tháng đầu năm 2015

Nguồn: Thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan

Khách hàng chủ đạo đối với các sản phẩm gỗ Việt Nam được xác định là

nhà nhập khẩu và các nhà phân phối. Thực tế năng lực tài chính tiếp thị, nghiên cứu

thị trường và phát triển sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, nếu trực

tiếp thiết lập các kênh phân phối, mạng lưới tiêu thụ và nghiên cứu nhu cầu phát

triển thị trường sẽ thực sự rất khó khăn đối với mỗi doanh nghiệp. Việc sử dụng

những kênh phân phối hiện có và khả năng phát triển thị trường của các nhà phân



26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

e. Phân tích hoạt động tiêu thụ và kết quả của nó

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×