Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG (bệnh toi)

BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG (bệnh toi)

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Gà ốm, sưng phồng tích, khớp xương chân, xương cánh, đệm của bàn chân.

+Thỉnh thoảng có tiếng rale khí quản và khó thở. Gà có thể bị tật vẹo cổ

3. Bệnh tích:

* Thể cấp tính

- Sung huyết, xuất huyết ở tổ chức liên kết dưới da, cơ quan phủ tạng nhất là phần bụng: tim, lớp

mỡ vành tim, phổi, lớp mỡ xoang bụng, niêm mạc đường ruột.

- Viêm bao tim tích nước.

- Gan sưng có hoại tử bằng đầu đinh ghim.

- Chất dịch nhầy có nhiều ở cơ quan tiêu hóa như hầu, diều, ruột.

- Buồng trứng: nang nỗn trưởng thành mềm, não, không quan sát được mạch máu. Đơi khi

quan sát thấy lòng đỏ vỡ chảy vào xoang bụng làm viêm phúc mạc. Nang chưa thành thục thì

sung huyết.

* Thể mãn tính:

- Viêm phúc mạc, ống dẫn trứng, khớp có dịch fibrin.

- Sưng màng tiếp hợp mắt và mắt.

- Có thể viêm não tủy làm vẹo cổ



4. BỆNH HƠ HẤP MÃN TÍNH (CRD)

1. Căn bệnh:

- Do một loại vi khuẩn có tên Mycoplasma galisepticum gây ra. Đây là vi khuẩn được xếp vào

nhóm gram âm, khơng có vỏ tế bào, bắt màu Giemsa, xem dưới kính hiển vi, chúng giống như

những tế bào động vật rất nhỏ.

2. Sức đề kháng:

- Hầu hết các chất sát trùng đều có khả năng diệt Mycoplasma như: phenol, formol,

propiolactone,

methiolate.

- Mycoplasma chủ yếu ở trong cơ thể và gây bệnh, chúng chỉ sống được 1 - 3 ngày khi đã ra

khỏi cơ thể (ở trong phân, dụng cụ chăn nuôi), trong dịch nhầy chúng tồn tại lâu hơn (khoảng 4

– 5 ngày), trong lòng đỏ trứng tồn tại đến 18 ngày.

3. Đường lây truyền:

- Gà mắc bệnh bài thải vi khuẩn vào không khí, do vi khuẩn có sức đề kháng yếu, vì vậy gà bệnh

chỉ truyền cho gà khỏe khi ở chung đàn hay cùng chuồng trại. Dụng cụ chăn nuôi, thức ăn nhiễm

vi khuẩn cũng là nguồn gây bệnh, nhưng chưa được giải thích rõ.

- Đối với gà giống, sự giao hợp giữa gà trống và mái cũng là con đường lây bệnh. Gà mái có thể

nhiễm bệnh qua giao phối với gà trống mắc bệnh, vi khuẩn xâm nhập vào buồng trứng và từ đó



truyền bệnh vào lòng đỏ trứng, gà con mới nở, nếu đã nhiễm bệnh qua trứng sẽ thấy dấu hiệu

viêm túi khí, tỷ lệ lây qua trứng có thể đến 10 - 60%.

- Gà khỏi bệnh thường mang trùng ở bề mặt biểu mô hô hấp suốt đời. Nếu chủng Vaccin

Mycoplasma vào hoặc bị nhiễm trùng đường hô hấp, bệnh sẽ trở lại rất nặng.

4. Cơ chế sinh bệnh:

- Mycoplasma xâm nhập vào cơ thể gà qua đường hô hấp hoặc sinh dục. Khi vào cơ thể, chúng

bám vào bề mặt của khí quản, túi khí và bắt đầu sinh sản. Sự hiện diện của Mycoplasma sẽ kích

thích khí quản, phế quản tiết nhiều chất nhầy. Do khả năng di chuyển bị giới hạn, Mycoplasma

không thể vào máu, tuy nhiên chúng có thể đi qua các túi khí để xâm nhập bề mặt gan, màng

bao tim và cơ quan sinh dục, từ đó nhiễm vào trứng và làm giảm sản lượng trứng, gây viêm

màng bao tim, màng bao quanh gan.

- Thời gian ủ bệnh được tính từ lúc nhiễm bệnh đến khi biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Tuy

nhiên, rất khó xác định thời gian nung bệnh vì còn phụ thuộc vào điều kiện tiểu khí hậu chuồng

trại và sức kháng bệnh của đàn gà. Trên gà thịt, bệnh thường xuyên xảy ra lúc 4 – 8 tuần tuổi,

trên gà đẻ, bệnh có thể xuất hiện ở giai đoạn gà già hoặc đôi khi ở gần thời điểm đẻ trứng, nhất

là lúc có các stress xảy đến.

5. Triệu chứng:

Gà ủ bệnh 6-21 ngày.

* Trên gà thịt:

- Bệnh hay xảy ra lúc đàn gà được 4 – 8 tuần, triệu chứng thường nặng hơn so với các loại gà

khác do sự phụ nhiễm các loại vi trùng khác mà thơng thường nhất là E.coli, vì vậy trên gà thịt

người ta còn gọi là thể kết hợp E.coli – CRD (C-CRD) với các triệu chứng giảm ăn, chảy nước

mũi, xuất hiện âm rale khí quản, ho, viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, sưng đầu, gà ủ rũ và chết

sau khi mắc bệnh 3 - 4 ngày, tử số có thể lên đến 30%, số còn lại chậm lớn.

* Trên gà trưởng thành – gà đẻ:

- Bệnh phát ra khi thay đổi thời tiết, tiêm phòng, chuyển chuồng, cắt mỏ… các triệu chứng chính

vẫn là chảy nước mũi, thở khò khè, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng, trứng

ấp nở cho ra các gà con yếu ớt. Ở một số đàn gà đẻ đôi khi chỉ thấy xuất hiện sự giảm sản lượng

trứng, gà con yếu, tỷ lệ ấp nở kém, còn các triệu chứng khác khơng thấy xuất hiện.

6. Bệnh tích:

- Dịch viêm xuất hiện ở xoang mũi, hai lỗ mũi và cả ở túi khí. Dịch tiết lúc đầu trong, có nhiều

bọt, về sau trở nên vàng và đục hơn.

- Túi khí dày lên hoặc trở nên đục, có nhiều bọt khí hoặc phủ những hạt fibrin nhỏ.

- Viêm màng bao quanh gan.

- Viêm màng bao tim.

- Viêm xoang mũi.

- Viêm kết mạc mắt.

- Viêm ống dẫn trứng (gà giống).

- Lách sưng to.

- Viêm phổi (nếu có sự kết hợp với các loại vi trùng khác).



Gà bị viêm túi khí – túi khí đục



Viêm màng bao tim, màng bai quanh gan



Gà bị sưng phù đầu, viêm mắt



Gà bị viêm kết mạc mắt có mủ



5. VIÊM RUỘT HOẠI TỬ TRÊN GÀ

1. Nguyên nhân:

- Do vi khuẩn Clostridium perfringens type A sản sinh độc tố alpha (CPA) hoặc type C. Thường

gây ra trên đối tượng gà đẻ và gà thịt từ 2 tuần tuổi trở đi. Tuy nhiên mẫn cảm nhất là từ 3-6 tuần

tuổi. Bệnh này có thể kế phát từ bệnh cầu trùng hoặc chế độ ăn uống có chứa nhiều protein, thức

ăn hoặc nước bị ô nhiễm nặng.

2. Phương thức truyền lây:

- Mầm bệnh có trong đất, rác bẩn, phân và có thể lây từ các vi sinh vật khác.

3. Triệu chứng:

* Cấp tính: gà thường chết vài giờ mà khơng có triệu chứng gì đặc biệt ngồi biểu hiện mệt mỏi.

* Mãn tính: Gà thường đứng 1 chỗ, ít di chuyển, mắt khép lại, xù lông, mất điều hòa, tiêu chảy

phân có màu nâu và có chứa nhiều bọt khí.

4. Bệnh tích:

- Xác chết mất nước, gầy ốm

- Gan sưng

- Niêm mạc ruột bị xuất huyết trầm trọng , và ruột non dày và phình to chứa đầy khí bên trong

và ruột non bị hoại tử.

- Trong trường hợp cấp tính ruột chứa chất chứa có màu nâu.

- Nó gần như là sự kết hợp giữa cầu trùng và loét ruột

* Viêm ruột hoại tử (NE) là một bệnh nhiễm trùng Clostridium cấp

tính đặc trưng bởi sự tổn thương nghiêm trọng của niêm mạc ruột.



Bệnh xảy ra đột ngột, với tỷ lệ tử vong cao. Triệu chứng bị mất nước được quan sát thấy rõ ràng

nhất. Da bám dính vào cơ thể và rất khó bóc ra.

* Gà ở tuổi 25 tuần. Thường bị ảnh hưởng nặng nề, NE cũng gặp trên

gà đang đẻ trứng, đặc biệt là gần thời gian bắt đầu đẻ trứng hoặc đẻ

trứng cao điểm, phổ biến nhất là kết hợp với bệnh cầu trùng. Trong

trường hợp cấp tính, gan sẽ bị tắc nghẽn mạch máu, chính vì thế nên

gan bị biến thành màu đen.

* Vi khuẩn gây bệnh là Clostridium

perfringens, chủ yếu là từ type A và hiếm khi từ type C. Và sản

sinh ra các độc tố cho cả 2 type A và C, Khi bị bệnh thì niêm mạc

ruột non bị phình to ra do chứa nhiều khí và niêm mạc của nó bị

hoại tử và thành ruột mỏng.

* C.perfringens thường khu trú chủ yếu tại ruột. Tại vị trí hồi tràng và manh tràng có sự thay đổi

do độ pH ở đây cao hơn và oxy ít hơn. Đơi khi, xuất huyết được nhìn thấy xun qua thành ruột.

*



Lòng ruột chứa đầy nước có màu nâu, pha trộn với bọt khí.

* Hoại tử niêm mạc và biến đổi thành màu xám kem hoặc hơi xanh. Đơi khi niêm mạc có sự

xuất hiện giống như tấm chăn đồ nỉ.

* Trong một số trường hợp, niêm mạc nhìn tương tự như vỏ cây. Các biểu hiện trên có thể giống

với nguyên nhân do sự tổn hại của niêm mạc ruột do Eimeria, hoặc sự tác hại của giun ascarids,

hoặc gây nên do sự kém hấp thu Protein.

*

Trong

trường

khi

có liên

quan

coccidioses đường ruột, xuất huyết nhiều có thể nhận thấy trên thành ruột non



hợp

NE

với



* Nếu bệnh kết hợp với cầu trùng thì xuất huyết sẽ nhiều hơn và có khi lẫn máu tươi cùng với

các mảnh vụn hoại tử bong tróc ra từ niêm mạc ruột cùng với chất chứa nhiều khí tỏng lòng

ruột. Trong trường hợp này có thể gây ruột bị loét.

6. BỆNH SỔ MŨI TRUYỀN NHIỄM – SƯNG PHÙ ĐẦU (coryza)



1. Nguyên nhân:

Bệnh Coryza là một bệnh hơ hấp cấp tính, gặp trên gà ở mọi lứa tuổi. Do Haemophilus

paragallinarum gây ra. Tỷ lệ bệnh cao, tỷ lệ chết thấp. Bệnh gây thiệt hại kinh tế lớn do loại thải

gà bệnh và gà đả giảm (10-40%). Phổ biến chủ yếu ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới.

2. Triệu chứng:

Bệnh xâm nhập vào cơ thể thông qua đường hô hấp, tiêu hóa: thức ăn, nước uống bị ơ nhiễm.

Tỉ lệ bệnh < 5%, gà có biểu hiện sưng mắt nhưng bệnh khơng lây lan, gà ăn cám

bình thường.

Tỉ lệ bệnh > 5%, bệnh có lây lan và gà giảm ăn, giảm uống, suy yếu, tiêu chảy, giảm sức sản

xuất.

Chảy nước mũi từ loãng đến nhày. Viêm kết mạc mắt, phù mặt (một hoặc cả hai bện). Sưng tích

(yếm) đặc biệt ở gà trống. Đôi khi đường hô hấp dưới bị tổn thương, khó thở, có âm rale

3. Bệnh tích

Bệnh tích ở khí quản, miệng, viêm chảy dịch ở mũi và xoang dưới hốc mắt, kết mạc mắt, sưng

mặt.

Đôi khi cũng xảy ra viêm phổi, viêm túi khí và viêm kết mạc mắt.

7. BỆNH HEN PHỨC HỢP TRÊN GÀ (ORT)

1. Nguyên nhân

Do Ornithobacterium rhinotracheale là một vi khuẩn Gram âm, hình que. Trước năm 1994, vi khuẩn

được đặt tên giống như là Pasteurella, Kingella hoặc Pleomorphic Gram Negative Rod ( PGNR ). Hiện

nay các loại vi khuẩn thường được gọi là ORT. O. rhinotracheale có thể gây bệnh cấp tính ở gia cầm.

O. rhinotracheale đã được phân lập từ nhiều loài như: gà, chim đa đa, vịt, ngỗng, mòng biển, đà điểu,

chim trĩ, chim bồ câu, chim cút và gà tây.

2. Triệu chứng

Hen khẹc, vẩy mỏ, chảy nước mắt, sưng phù đầu, tím tái mào tích, gà ho, hắt hơi, giảm tăng trọng,

giảm sản lượng trứng. Bệnh chết nhanh và tỷ lệ chết cao, dùng kháng sinh thơng thường bệnh có

thun giảm nhưng không đáng kể. Bệnh lây lan nhanh từ huyện này sang huyện khác, từ tỉnh này sang

tỉnh khác trong một thời gian ngắn.Mùa xuân thời tiết ẩm ướt hoặc khi thời tiết giao mùa bệnh ORT rất d

ễ ghép với nấm phổi gây chết trầm trọng hơn



Bệnh biểu hiện viêm phổi, O. rhinotracheale cũng có thể gây tử vong đột ngột ở gia cầm non thông

qua nhiễm trùng não và hộp sọ, làm suy yếu xương sọ. Loại O. rhinotracheale nhiễm trùng cũng

có hoặc khơng có các triệu chứng đường hô hấp trên. Ở gà trên 12 tuần tuổi, O.rhinotracheale có thể

gây ra viêm phổi cấp tính với tỷ lệ tử vong lên đến 50%. Một loại O. rhinotracheale nhiễm trùng ở gà

cũng gây ra tê liệt thông qua chứng viêm khớp, viêm xương và viêm xương tủy, thường thấy mủ, dịch

tiết

nhầy nhụa trong các khớp xương của các loài chim què. Nhiễm trùng O. rhinotracheale ở gà dẫn đến tỷ

lệ tử vong tăng, giảm sản lượng trứng và giảm chất lượng trứng. Ngoài ra các yếu tố như: Virus, vi khuẩ

n kế phát (Newcastle, Escherichia coli và Bordetella avium…), stress, thơng gió khơng đầy đủ, vệ sinh k

ém, nồng độ amoniac cao cũng có tác động làm cho bệnh trở nên trầm trọng hơn.

3. Bệnh tích khi mổ khám:

- Túi khí đục

- Xuất huyết thanh khí quản

- Viêm xuất huyết hóa cục ở phổi

- Màng niêm mạc mắt viêm phù thũng

- Gan sưng to, xuất huyết

- Kế phát với E.coli và một số bệnh khác sẽ biểu hiện viêm thận, sưng, xuất huyết.



8. BỆNH VIÊM RỐN GÀ CON

1. Nguyên Nhân:

Do nhiễm trùng tạp khuẩn (Streptococcus spp., Staphylococcus spp., Escherichia coli…)

2. Triệu Chứng:

Rốn sưng to, chảy nước vàng nếu viêm nặng lan vào xoang bụng gây nhiễm trùng huyết.

Gà chết đột ngột khơng có triệu chứng bệnh tích rõ ràng, chỉ thấy máu bầm khắp cơ thể.

Nếu gà bệnh trên 2 ngày, mổ xác thấy: gan viêm, sưng to; lách sưng to, có lấm tấm; bề ngồi

ruột sưng to.



B. NHÓM BỆNH DO KÝ SINH TRÙNG ĐƯỜNG MÁU

1. BỆNH ĐẦU ĐEN

1. Nguyên nhân

Bệnh do 1 loại đơn bào có tên khoa học là Histomonas Meleagridis ký sinh ở gan, dạ dày và ruột

thừa (manh tràng)

2. Phương thức truyền lây

- Bệnh lây lan chủ yếu qua đường miệng: ăn uống phải trứng giun kim (Heterakis Gallinae) có

chứa Histomonas

3. Đặc điểm dịch tễ



- Gà từ 2-3 tuần tuổi đến 3-4 tháng dễ bị bệnh nhất, nhưng gà lớn hơn vẫn có thể bị bệnh

- Bệnh thường nổ ra vào những tháng nóng ẩm cuối xuân, hè và đầu thu, nhưng gà lớn bệnh nổ

ra cả trong mùa đông

- Tất cả các loại giống gà đều có thể mắc bệnh, Gà Tây mẫn cảm nhất

4. Triệu chứng

- Gà đột nhiên sốt rất cao 43 -44 độ C, nhưng lại cảm thấy rét nên đứng im, rụt cổ, dạng rộng

chân,mắt nhắm nghiền, xù lông và run rẩy. Nhiều gà dấu đầu vào nách cánh, tìm chỗ đứng có

ánh sáng mặt trời hoặc dưới bóng điện để sưởi.

- Giảm ăn, uống nhiều nước, tiêu chảy phân loãng vàng trắng hoặc vàng xanh. Khi sắp chết thì

bỏ ăn, mào thâm tím.

- Mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh xám thậm chí xanh đen, nên bệnh có tên là bệnh

đầu đen.

- Bệnh kéo dài 10 – 20 ngày nên gà rất gầy. Trước khi chết thân nhiệt gà giảm xuống tới 39 -38

độ C.

- Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng sự chết kéo dài

lê thê, gây cho người chăn nuôi cảm giác bệnh không nguy hiểm lắm. Thực chất cuối cùng gà

chết đến 85 – 95%



5. Bệnh tích

- Bệnh tích tập trung ở gan và manh tràng

+ Gan sưng to gấp 2-3 lần, bị viêm xuất huyết hoại tử, lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ

thẫm làm cho gan lổ đổ như đá hoa cương, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng hình hoa cúc

như ổ lao hoặc như khối u của Marek.

+ Ruột thừa (manh tràng) bị viêm sưng, thành ruột thừa bị dày lên gấp nhiều lần. Trong chất

chứa có thấy lẫn máu nhớt như máu cá hoặc màu nâu giống như bệnh cầu trùng hoặc tạo thành

kén rắn chắc màu trắng. Từ đấy người chăn nuôi gọi là bệnh kén ruột

+ Nhiều trường hợp thấy ruột thừa phình rất to dính chặt vào cá cơ quan nội tạng khác, đơi khi

còn thấy manh tràng bị viêm loét thủng rò rỉ chất chứa vào lòng bụng gây nên viêm phuc mạc

nặng khiến gà chết nhanh

+ Bệnh đầu đen dễ bị bội nhiễm với bệnh cầu trùng, viêm ruột hoại tử và bệnh ký sinh trùng

máu do Leucocytozoone.

2. BỆNH CẦU TRÙNG TRÊN GIA CẦM

1. Nguyên nhân:



- Bệnh chủ yếu do Eimeria tenella (ký sinh ở manh tràng ), Eimeria necatnix (ký sinh ở ruột non

), Eimeria acervulina, Eimeria maxima, Eimeria brunetti, Eimeria mitis (mivati). Cầu trùng có

thể gây bệnh ở gà mọi lứa tuổi nhưng hay gặp ở gà 10-30 ngày tuổi.

2. Triệu chứng : thường gặp nhất là cầu trùng tại manh tràng và cầu trùng tại ruột non.

* Eimeria tenella: chủ yếu xảy ra trên gà từ 2-8 tuần tuổi

- Thể cấp tính: gà ủ rủ, ăn ít, uống nhiều, lúc đầu phân có bọt màu vàng hoặc hơi trắng, sau đó

phân có màu nâu đỏ do lẫn máu (phân gà sáp), gà đi lại khó khăn, xả cánh, xù lơng, chân gập lại,

quỵ xuống và chết sau khi có biểu hiện co giật từng cơn.

-Thể mãn tính: gầy ốm, xù lơng, kém ăn, tiêu chảy thất thường, bệnh thường tiến triển chậm hơn

thể cấp tính.

* Eimeria necatrix:

-Chủ yếu trên gà thịt với triệu chứng không rõ dễ nhầm với các bệnh khác.

- Gà gầy yếu, xù lông, kém ăn, chậm lớn, tiêu chảy, phân sáp, có khi lẫn máu tươi, giảm đẻ trên

gà mái.

3. Bệnh tích:

* Eimeria tenella:

- Xuất huyết niêm mạc manh tràng và trương to ở 2 manh tràng.

- Xuất huyết lấm tấm và đầy máu bên trong manh tràng.

- Phân có nhiều máu, năng suất kém.

* Eimeria necatrix:

- Mới nhiễm: đốm trắng, nhỏ, xuất huyết có thể nhìn từ bên ngồi.

- Tá tràng sưng to.

- Ruột phình to từng đoạn khác nhau, bên trong chứa chất lỏng hơi thối có lợn cợn bã đậu.

- Ruột căng nhiều hơn, bề mặt ruột dầy lên có nhiều điểm trắng đỏ.

- Dịch nhày lẩn máu.

- Giảm cân Năng suất kém.

* E acervulina, E. mitis (mivati)

- Thành ruột dày, có nhiều đốm trắng hay xám.

- Nặng: dịch nhầy đỏ, giảm tăng trọng FCR kém, nhiễm nặng tỉ lệ chết cao.

* E. maxima

- Màng nhày dày lên, vết loét màu đỏ.

- Dịch nhày màu nâu xám, phân có rất ít máu.

- Giảm tăng trọng, ảnh hưởng đến màu vết loét  chân.

* E. brunetti

- Mảng màu đỏ chuyển sang loét điểm trắng, phần nhày lẫn máu.

- Năng suất giảm nhẹ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG (bệnh toi)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×