Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. Tiền đề về khoa học tự nhiên

III. Tiền đề về khoa học tự nhiên

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề: Vai trò của Triết học trong đời sống con người

động khác nhau của thế giới vật chất. Phát minh thứ hai chứng minh cho sự thống nhất, sự phát

triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của thế giới sinh vật. Phát minh thứ ba đó là

thuyết tiến hóa của Đắc-uyn, giải thích tính chất biện chứng của sự phát triển phong phú, đa

dạng của giống loài trong thế giới tự nhiên hữu sinh. Trước đó do khoa học chưa phát triển nên

các nhà duy vật cho rằng triết học là "khoa học của các khoa học", nhưng khi các phát minh lớn

ra đời buộc các nhà duy vật phải thay đổi tư duy. Cuộc đấu tranh con người đã bắt đầu từ đâu và

quay về đâu đã được học thuyết tế bào đem đến lời giải đáp nghiêm túc. Học thuyết nầy còn gợi

ý cho việc đi tìm sự sống của lồi người dựa vào sự tương đồng của cấu trúc di truyền.

Sự hình thành các khoa học tự nhiên mang tính lý luận. Như vậy, nó đã làm cho triết học về tự

nhiên trước đây có tham vọng đóng vai trò "khoa học của các khoa học" sẽ khơng còn tồn tại,

như Ph.Ăng-ghen đã nhận xét.

C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

như một triết học phù hợp với sự phát triển của các khoa học cụ thể (khoa học tự nhiên và khoa

học xã hội), đồng thời trở thành thế giới quan và phương pháp luận cho các khoa học đó.

Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác và triết học của nó khơng phải là ngẩu nhiên, khơng phải là kết

quả của sự suy tư cá nhân, mà là một hiện tượng hợp quy luật, là sự suy tư mang tầm vóc đúc

kết và khái quát lịch sử thời đại, nó do những nguyên nhân kinh tế - xã hội và sự phát triển của

tư tưởng nhân loại trước đó. Khái quát kinh nghiệm của phong trào công nhân và những thành

tựu của khoa học tự nhiên, nghiên cứu phê phán những tư tưởng triết học trước đó.



PHẦN II:

PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC

TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

Triết học là một hệ thống những quan niệm chung nhất của con người về giới tự nhiên và xã hội

về vai trò của con người đối với thế giới. Để nghiên cứu, giải thích những vấn đề khoa học phát

sinh trong cuộc sống, đồng thời để đạt được mục đích yêu cầu chinh phục tự nhiên và xã hội,

con người đã sử dụng nhiều phương pháp và cách thức khác nhau, xem xét các sự vật, hiện

tượng dưới nhiều góc độ khác nhau và dĩ nhiên các kết luận mà họ đưa ra sẽ có những sự khác

biệt. Lịch sử triết học đã ghi nhận ba hình thức của phép biện chứng, hay nói cách khác, đó là ba

cách thức nhận thức khác nhau của phương pháp luận triết học Mác về thế giới mà con người đã

tiếp cận: "phép biện chứng tự phát thời cổ đại; phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng

duy vật".

Nghiên cứu các hình thức lịch sử của phép biện chứng đã giúp cho chúng ta một cái nhìn tồn

diện hơn và đầy đủ hơn về bức tranh chung của thế giới trải qua quá trình lịch sử phát triển của

nhân loại, nhất là về mặt nhận thức. Đặc biệt, việc tiếp cận và nghiên cứu phép biện chứng duy

5



Chuyên đề: Vai trò của Triết học trong đời sống con người

vật Mác - phép biện chứng khoa học, triệt để, mang ý nghĩa lý luận và thực tiển sâu sắc, là nền

tảng vững chắc nhất cho chúng ta trong quá trình nghiên cứu, khám phá thế giới khách quan bên

ngồi. Bên cạnh đó, chúng ta khơng thể bỏ qua những tư tưởng biện chứng của thời đại, trải qua

bao thăng trầm lịch sử, ít nhiều có những cống hiến nhất định vào kho tàng lý luận, nhận thức

của nhân loại.

Sự ra đời của triết học cổ điển Đức (Hê-ghen, 1770 -1831) lần đầu tiên khái niệm biện chứng

được hiểu một cách đầy đủ là phương pháp nghiên cứu và nhận thức thế giới. Từ đó, chủ nghĩa

duy vật Mác đã khẳng định: "Phép biện chứng là một trong những phương pháp chung nhất

giải quyết các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, tư duy con người ở trạng động và không

ngừng phát triển". Cho đến nay, phép biện chứng đã được thể hiện dưới ba hình thức lịch sử

như sau:

I. Phép biện chứng tự phát thời cổ đại

Phép biện chứng tự phát ra đời vào thời kỳ cổ đại cùng với sự ra đời của triết học và chủ nghĩa

duy vật chất phát, sơ khai (vào khoảng thế kỹ thứ X - TCN). Chính trong thời kỳ nầy, đã tồn tại

nhiều quan niệm khác nhau mang đậm chất duy vật sơ khai, ít nhiều thể hiện quyết tâm của các

nhà duy vật cổ đại muốn được lý giải các vấn đề về bản chất và khởi nguyên của thế giới dựa

trên một số tri thức khoa học sơ khai sẳn có thời đó. Họ coi toàn bộ thế giới như một chỉnh thể

thống nhất, sinh ra từ một khởi nguyên duy nhất - khởi nguyên đó gắn liền với những dạng cụ

thể vật chất hoặc một thuộc tính sẳn có nào đó của thế giới vật chất, mà từ đó, theo quan niệm

của họ là nguồn gốc của mọi sự tồn tại.

Trong triết học Hy Lạp cổ đại, nó được xem như là cái nôi của tri thức văn minh nhân loại,

chúng ta thấy gắn liền với tên tuổi của các triết gia nổi tiếng như: Thales (625-547, TCN),

Anaximandre (610-546, TCN), Anaximen (588-525, TCN) và đặc biệt là Heraclite (530-470,

TCN) - Heraclite được xem là nhà duy vật tự phát và là cha đẻ của pháp biện chứng.

Thales vừa là một nhà toán học, vừa là nhà triết học, ông được coi là người sáng lập trường phái

triết học Milê của Hy Lạp cổ đại. Thế giới quan của ông là duy vật, khi bàn về bản nguyên của

thế giới, Thales cho rằng nước là bản chất chung của mọi vật, mọi hiện tượng trong thế giới.

Mọi cái trên thế gian đều sinh ra từ nước và khi bị phân hủy lại biến thành nước, nước tồn tại

vĩnh viễn còn mọi vật do nó tạo nên thì khơng ngừng biến đổi, sinh ra và chết đi. Toàn bộ thế

giới là một chỉnh thể thống nhất, tồn tại tựa như một vòng tuần hồn biến đổi khơng ngừng mà

nước là nền tảng của vòng tuần hồn đó. Quan điểm trên của Thales rõ ràng mang mầm móng

của tư tưởng biện chứng: thế giới dưới cái nhìn của ơng ln vận động, chuyển hóa dù sự vận

động, chuyển hóa đó bị ơng giới hạn ở yếu tố nước, một hạn chế về trình độ nhận thức do hồn

cảnh lịch sử đem lại.

Trong triết học của mình, Anaximandre (khoảng 610-546, TCN) cũng thể hiện mầm móng tư

tưởng biện chứng, khác với Thales, quy luật mọi sự vận động, tồn tại về nước Anaximandre cho

rằng nguồn gốc, cơ sở của mọi sự vật là apeiron. Apeiron là một cái vơ định hình, vơ cùng tận,

tồn tại vĩnh viễn, là nguồn gốc và sự thống nhất của các sự vật đối lập nhau như nóng - lạnh,

sinh ra - chết đi. Toàn bộ vũ trụ được cấu thành từ apeiron tồn tại như một vòng tuần hồn biến

đổi khơng ngừng. Đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật sơ khai, Anaximandre đã phê

phán các quan niệm trực quan của thần thoại và tôn giáo nguyên thủy về thế giới, ơng cho rằng:



6



Chun đề: Vai trò của Triết học trong đời sống con người

"những gì bề ngồi mà thế giới hiện ra trước mắt chúng ta chưa hẳn là bản thân thế giới đích

thực".

Ở phương Đơng đã tồn tại những tư tưởng biện chứng rất sớm. Tiêu biểu là thuyết "Âm dương Ngũ hành", thể hiện quan niệm duy vật chất phác về tự nhiên, tư tưởng biện chứng sơ khai về tự

nhiên, con người của triết học Trung Hoa cổ đại. Lý luận trên cho rằng, Kim-Mộc-Thủy-HỏaThổ là năm yếu tố cấu thànhnên thế giới. Chính sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các sự vật theo

chiều hướng tương sinh - tương khắc đã góp phần tạo nên sự đa dạng của thế giới vật chất, quan

điểm nầy cũng thể hiện tính biện chứng sâu sắc của con người phương Đơng cổ đại, tuy còn

chất phác và máy móc nhưng trong buổi đầu của lịch sử nhân loại nó đã có tác dụng tích cực

chống lại chủ nghĩa duy tâm và mục đích luận trong quan niệm về tự nhiên.

Thành tựu đáng kể nhất của phép biện chứng cổ đại là công lao của Heraclite (530-470, TCN),

nhà biện chứng nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại. Ông xuất thân từ tầng lớp chủ nô quý tộc nhưng

bản thân sống rất nghèo khổ và đơn độc. Ơng có nhiều tư tưởng biện chứng sâu sắc nhưng trong

cách thể hiện biến chứng ở ơng khơng rõ ràng, có nhiều ẩn dụ khó hiểu.

Trong quan niệm về thế giới, Heraclite cho rằng bản nguyên của thế giới là lửa, "mọi cái biến

đổi thành lửa và lửa thành mọi cái như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hố thành vàng"

hoặc "thế giới nầy đã luôn là ngọn lửa lung linh, lúc bùng cháy, lúc tắt đi trong đó lửa chuyển

hóa thành vạn vật và vạn vật quay về với lửa". Chuẩn mực của mọi sự vật theo Heraclite đó là

logos, nó tồn tại cả dưới dạng khách quan và chủ quan. Logos khách quan là trật tự khách quan

của mọi cái đang diễn ra trong thế giới, biến cả thế giới thành một chỉnh thể thống nhất đầy sống

động. Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói. Heraclite đã tiếp cận được với quan niệm

đúng đắn khi ông cho rằng: về nguyên tắc, thì logos chủ quan phải phù hợp với logos khách

quan nhưng nó biểu hiện ở từng người khác nhau, phù hợp với logos khách quan tức là những

quy luật vận động khách quan của thế giới được coi là tiêu chuẩn đánh giá mọi hoạt động, suy

nghĩ của con người.

Có thể nói, Heraclite là người đầu tiên trong triết học Hy Lạp xem xét thế giới như một quá trình

trải qua các trạng thái "hư vơ - tồn tại - hư vơ". Ơng ví thế giới như "một dòng sơng mà mọi thứ

ở đó đều chảy", cho nên "chúng ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sơng". Dưới cái

nhìn biện chứng của ông, thế giới là một chỉnh thể năng động, sự vật thay đổi, biến hóa khơng

hổn độn mà có tính quy luật, chuyển hóa vào mặt đối lập của mình. Trong đời sống con người,

sự chuyển hóa nầy khơng phải là một quá trình đơn giản mà là đấu tranh, nguồn gốc của sự

đồng nhất bên trong và sự phát triển đấu tranh là hiện thân của tất cả. Bản thân logos theo quan

niệm của Heraclite cũng là sự thống nhất của các mặt đối lập.

Tóm lại, phép biện chứng thời cổ đại dù ra đời trong hoàn cảnh lịch sử còn nhiều hạn chế về mặt

trình độ nhận thức nhưng những tri thức sơ khai về tự nhiên, xã hội của chúng bước đầu đã đặt

nền móng cho chủ nghĩa duy vật tồn tại và phát triển.



II. Phép biện chứng duy tâm

Thế kỹ XVII và XIX trong lòng xã hội các nước phương Tây đã diễn ra những thay đổi

hết sức sâu sắc, cuộc cách mạng tư sản thắng lợi, giai cấp tư sản trở thành lực lượng lãnh đạo

7



Chuyên đề: Vai trò của Triết học trong đời sống con người

nhà nước, cùng với nó là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật với những thành tựu có ý nghĩa to

lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực cơ học đã làm thay đổi bộ mặt của đời sống xã hội. Song song đó,

triết học giai đoạn nầy cũng đã có những bước tiến đáng kể, nhiều nhà triết học duy vật với

những quan điểm tích cực về tự nhiên, xã hội và con người đã ra đời, ít nhiều thể hiện tư tưởng

biện chứng dưới những hình thức phong phú và đa dạng. Tiêu biểu như Bêcơn, Spinoza, Galile

và Locke…, nhưng có lẽ thành tựu quan trọng nhất của phép biện chứng thời kỳ nầy là phải kể

đến công lao của nhà triết học cổ điển lỗi lạc người Đức F.Hêghen (1770-1831), triết học của

ông là đỉnh cao của phép biện chứng và chủ nghĩa duy tâm trước Mác, là bộ óc bách khoa của

thời đại mình.

Khác với các quan điểm truyền thống coi phép biện chứng là nghệ thuật tranh luận,

Hêghen hiểu đây là một khoa học về sự phát triển của các khái niệm được ông đồng nhất với

bản chất của sự vật. Phép biện chứng nói chung là nguyên tắc của mọi vận động, mọi sự sống và

mọi hoạt động trong phạm vi hiện thực. Cái biện chứng còn là linh hồn của mọi nhận thức khoa

học chân chính.

Lần đầu tiên trong lịch sử của nhân loại, Hêghen đã trình bày những nội dung cơ bản của

phép biện chứng một cách có hệ thống với các khái niệm, phạm trù và những qui luật cơ bản.

Khi quan niệm về sự phát triển, Hêghen cho rằng: sự phát triển là một quá trình phủ định biện

chứng, trong đó liên tiếp diễn ra cái mới thay thế cái cũ, nhưng đồng thời kế thừa những yếu tố

của cái cũ mà vẫn có khả năng thúc đẩy sự phát triển. Những hình thái trên đây khơng chỉ khác

nhau mà còn bài trừ khơng dung hợp nhau, tuy nhiên bản chất sống động làm chúng trở thành

những yếu tố của một chỉnh thể hữu cơ, trong đó chúng khơng những không mâu thuẩn với nhau

mà cái nầy cũng tất yếu như cái kia, mà chỉ có tính tất yếu như nhau, như thế tạo nên cuộc sống

của chỉnh thể. Mọi sự vật trong thế giới, theo quan điểm của Hêghen đều phát triển theo những

quy luật biện chứng. Phát triển là quy luật tất yếu bên trong của mọi vật, đó là sự thay đổi dần

dần về lượng dẫn đến sự biến đổi nhảy vọt về chất, là sự nảy sinh và giải quyết mâu thuẩn giữa

các mặt đối lập trong lòng mỗi sự vật, là sự phủ định của phủ định. Phát triển là quy luật khách

quan không gì có thể cưỡng lại được.

Bên cạnh những quan niệm biện chứng về vận động và phát triển Hêghen còn xây dựng

một hệ thống các cặp phạm trù cơ bản trong triết học có ý nghĩa lý luận sâu sắc. Để hiểu rõ hơn

về mối quan hệ giữa các sự vật, Hêghen đã chỉ ra cặp phạm trù nội dung - hình thức, đó là mọi

sự vật chuyển hóa biện chứng từ hình thức sang nội dung và ngược lại và diễn ra trong những

điều kiện nhất định. Chính sự chuyển hóa đó làm cho bản chất sự vật thể hiện sinh động hơn,

bản chất trong sự sống động của mình là hiện tượng hay nói cách khác bản chất thì hiện ra, còn

hiện tượng thì có bản chất, bản chất sâu sắc hơn, nhưng hiện tượng phong phú hơn. Cái lặp lại

liên tục trong các hiện tượng là quy luật. Thực tiển khác với tồn tại bởi hai đặc trưng của nó là

khả năng và tất yếu. Mặt đối lập với tất yếu là ngẩu nhiên, tức là cái gì đó có thể có, có thể

khơng, có thể thế nầy, có thể thế kia. Song, xét cho cùng các sự vật và hiện tượng đều diễn ra

theo mối quan hệ nhân quả.

Theo Hêghen, mọi cái đều là sự thống nhất, nhưng không phải là sự thống nhất khô cứng

mà là sự thống nhất của các mặt đối lập. Bước chuyển từ giai đoạn nầy sang giai đoạn khác là

quá trình tích lũy dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại, đồng thời đây cũng

là quá trình phủ định của giai đoạn sau đối với giai đoạn trước. Tồn tại của sự vật được phân

biệt bởi chất và lượng, sự thống nhất của hai cái đó tạo ra khái niệm độ. Nếu độ bị phá hủy thì

8



Chun đề: Vai trò của Triết học trong đời sống con người

chất cũ bị mất đi, chất mới xuất hiện. Ba quy luật: mâu thuẩn, phủ định của phủ định, sự thay

đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất gắn liền hữu cơ với nhau trên mọi giai đoạn phát triển

của sự vật và khái niệm. Chính những cặp phạm trù và những quy luật cơ bản trên của phép biện

chứng mà Hêghen đã dày công nghiên cứu, xây dựng nên cùng với những tư tưởng tiến bộ về

việc nhìn nhận sự vận động, liên hệ và phát triển diễn ra không ngừng trong thế giới đã được

phép biện chứng duy vật của hai nhà triết học C.Mác và Ph.Ăng-ghen sau nầy kế thừa và hoàn

thiện hơn để nó trở thành một phương pháp khoa học đích thực có ý nghĩa lý luận và thực tiển

sâu sắc phục vụ cho hoạt động khoa học và nhận thức của nhân loại. Mặc dù để lại những tư

tưởng biện chứng xuất sắc nhất trong giai đoạn triết học trước Mác nhưng những tư tưởng biện

chứng trên của Hêghen vẫn còn chứa đựng nhiều hạn chế:

-



Do thế giới quan là duy tâm nên phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm

khách quan, phép biện chứng của ý niệm thần bí, thiếu khoa học, thiếu triệt để. Ơng q đề

cao, tuyệt đối hóa vai trò của "ý niệm tuyệt đối", coi đây là nguồn gốc sản sinh ra sự vật,

hiện tượng. Theo Hêghen, "ý niệm tuyệt đối" là cái có trước thế giới, giới tự nhiên, xã hội là

cái biểu hiện ra bên ngoài của "ý niệm tuyệt đối", do "ý niệm tuyệt đối" tha hóa mà thành.

Từ đó, ơng kết luận rằng chính biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật.

Đây là một sai lầm quan trọng, nó ảnh hưởng đến tồn bộ nội dung phép biện chứng của

ơng.



-



Triết học của Hêghen cũng như phép biện chứng duy tâm của ông còn chưa đựng những yếu

tố bảo thủ, phi lịch sử. Nếu như trong phép biện chứng của mình, Hêghen khẳng định sự

phát triển là phổ biến thì trong hệ thống triết học Hêghen lại phủ nhận tính phổ biến của sự

phát triển. Bởi vì thiên nhiên, theo Hêghen, khơng phát triển trong thời gian mà chỉ triển

khai đa dạng trong khơng gian. Quan niệm siêu hình nầy về giới tự nhiên rõ ràng xuất phát

từ luận điểm duy tâm khởi đầu của Hêghen.



-



Triết học của Hêghen cũng như phép biện chứng của ơng còn chứa đựng nhiều mâu thuẩn,

khơng triệt để. Nếu phép biện chứng của ông khẳng định rằng sự phát triển là vơ hạn thì

trong hệ thống triết học của mình Hêghen lại đặt ra giới hạn cho sự phát triển của tư duy,

nhận thức nói chung và xã hội. Hơn nữa, bản thân phép biện chứng của Hêghen cũng khơng

triệt để bởi tính chất duy tâm của nó, khơng đủ sức thốt ra khỏi hệ thống triết học duy tâm,

lý giải chưa toàn diện sự thống nhất của các mặt đối lập, chỉ nhấn mạnh sự đồng hóa lẫn

nhau, sự đồng nhất và sự tương liên. Chính những mâu thuẩn và tính khơng triệt để nầy đã

làm cho phép biện chứng của Hêghen có ý nghĩa về mặt học thuật thì nhiều, nhưng ý nghĩa

về mặt thực tiển thì ít.



Tóm lại, dù còn nhiều hạn chế nhưng phép biện chứng của Hêghen đã thể hiện sự phát

triển của tư duy thời đại, đem lại cho nhân loại một hệ thống các quan điểm, cặp phạm trù, quy

luật và các nguyên lý. Những vấn đề hạn chế mà Hêghen nêu ra nhưng chưa giải quyết triệt để

sẽ được tiếp tục giải quyết trên mảnh đất mới với phương pháp mới, đó là phép biện chứng duy

vật.

III. Phép biện chứng duy vật

C.Mác và Ph.Ăng-ghen là những người sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng vào

giữa thế kỹ thứ XIX và sau đó được Lênin phát triển hơn nữa vào đầu thế kỹ thứ XX đã đem lại



9



Chuyên đề: Vai trò của Triết học trong đời sống con người

cho phép biện chứng một hình thức mới về chất. Đó là phép biện chứng duy vật. Theo Ph.Ăngghen, phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận

động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy. Hay nói cách khác, phép

biện chứng duy vật là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của

tự nhiên, xã hội và tư duy.

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương

pháp luận biện chứng, có tính kế thừa trực tiếp và hồn thiện phép biện chứng của Hêghen. Nhờ

đó, phép biện chứng duy vật đã khắc phục được những hạn chế trước đây của phép biện chứng

chất phác, thô sơ thời cổ đại và phép biện chứng duy tâm, nó thực sự trở thành khoa học.

Phép biện chứng duy vật có sự thống nhất giữa biện chứng khách quan và biện chứng

chủ quan. Biện chứng là đặc tính phổ biến của thế giới khách quan và tư duy con người. Biện

chứng khách quan là toàn bộ giới tự nhiên và xã hội với những quy luật khách quan của nó.

Biện chứng chủ quan là tư duy biện chứng, quy luật phản ánh của tư duy con người.

Phép biện chứng duy vật có nội dung hết sức phong phú. Nói một cách khái quát nó là

khoa học về mối quan hệ phổ biến và sự phát triển của sự vật và hiện tượng của thế giới vật

chất. Đó được xem là hai nguyên lý chung nhất của phép biện chứng duy vật.

-



Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: Mối liên hệ mang tính khách quan diễn ra giữa các yếu

tố cấu thành sự vật, giữa sự vật, hiện tượng nầy với sự vật, hiện tượng khác, nó vừa mang

tính trực tiếp vừa mang tính gián tiếp. Do đó, muốn nhận thức đúng mối liên hệ phải có quan

điểm tồn diện, khắc phục quan điểm phiến diện một chiều.



-



Nguyên lý về sự phát triển: Phát triển là sự vận động mà kết quả là đưa sự vật tiến lên từ

giản đơn đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện. Tuỳ theo các lĩnh

vực khác nhau mà sự phát triển sẽ thể hiện khác nhau.



Tính chất siêu hình của các quan điểm trước Mác về bản chất con người biểu hiện ở chỗ

coi bản chất đó là cái vốn có, trừu tượng, đặc trưng bản chất con người được quy về bản tính tự

nhiên, do đó nó trở nên bất biến. Họ khơng thấy được rằng, nó được hình thành và biến đổi

trong q trình biến đổi của đời sống xã hội. Ngay cả các nhà duy vật Pháp và Anh thế kỹ thứ

XVIII, mặc dù đã thấy được sự phụ thuộc của con người vào hoàn cảnh nhưng rốt cuộc vẫn xem

những biểu hiện bản chất con người trong cuộc sống thực (tính ích kỷ, hành vi chinh phục…)

như những bản tính tự nhiên của con người.

Với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng, triết học Mác giúp chúng ta

đi tới nhận thức được bản chất con người với những biểu hiện thực sinh động của nó. Ngay từ

bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, một trong những tác phẩm đầu tiên, Mác đã cắt nghĩa sự

tha hóa con người từ lao động bị tha hóa, nghĩa là ông đã tìm ra bản chất con người ở lao động.

Chỉ có xem xét con người trong đời sống xã hội hiện thực mới hiểu được đúng bản chất của nó

khơng phải là cái trừu tượng cố hữu của cá thể người. Và trong luận cương của Phoi-ơ-bắc

(1845), Mác đã đi tới luận đề: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa

những quan hệ xã hội.

Thông qua các hoạt động thực tiển, con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời

cũng biến đổi chính bản thân mình. Đây là phát hiện có giá trị to lớn của Mác về bản chất con

10



Chuyên đề: Vai trò của Triết học trong đời sống con người

người, ở đây Mác chỉ xem xét yếu tố cấu thành bản chất con ngườikhông những bằng các quan

hệ xã hội, mà còn vạch ra bản chất con người khơng những bằng các quan hệ xã hội mà còn

vạch ra bản chất con người trong tính hiện thực của nó.

Tóm lại, nghiên cứu ba hình thức lịch sử của phép biện chứng giúp cho chúng ta một cái

nhìn đúng đắn, tồn diện hơn về thế giới hiện thực xung quanh mình. Phép biện chứng thơ ngây,

thô sơ thời cổ đại dù mang trên mình những hạn chế lớn do trình độ nhân thức, hồn cảnh lịch

sử đem đến, nhưng những đóng góp của các nhà triết học cổ đại đã thực sự đặt nền móng cho

những tư tưởng biện chứng sau nầy phát triển và hoàn thiện hơn. Phê phán quan điểm phép biện

chứng duy tâm thần bí của Hêghen, nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận những đóng góp của

ơng đặc biệt là tư tưởng biện chứng, lần đầu tiên được đúc kết lại một cách có hệ thống.



PHẦN III:

NHẬN THỨC LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC

TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

Như đã biết, một trong những nguyên lý nền tảng của học thuyết Mác

là nguyên lý tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, trong đó những nhân tố vận

động chủ yếu được xác định là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của

xã hội. Chính nguyên lý tiếp cận trên đây đã dẫn đến một kết quả khoa học

cực kỳ quan trọng, quyết định tương lai của nhân loại. Đó là mâu thuẩn tất

yếu giữa lực lượng sản xuất với tính xã hội hóa ngày càng cao với quan hệ

sản xuất dựa trên tư hữu về tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản đã trở nên

khơng còn phù hợp sẽ dẫn đến cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, khác hẳn

với cuộc cách mạng tư sản trước đây ở chỗ là nó sẽ dẫn đến xố bỏ giai cấp,

đưa lồi người tiến lên chủ nghĩa cộng sản.



11



Chuyên đề: Vai trò của Triết học trong đời sống con người

Kết luận khoa học trên đây đã được phát triển sáng tạo trong thực tiển

của Cách mạng Tháng Mười Nga, một sự kiện lịch sử quan trọng mở đầu của

thế kỷ XX.

Rất đáng tiếc, sau sự kiện tháng 8 năm 1991, sự tan rã của nhà nước

Liên Xô đã đặt ra những vấn đề lý luận to lớn, một mặt theo hướng phát

triển để khơng những giải thích được các sự kiện lịch sử hiện đại mà còn

định hướng những hoạt động thực tiển cách mạng; mặt khác phải đấu tranh

chống lại các trào lưu lý luận cơ hội tấn công vào và với tham vọng phủ nhận

học thuyết Mác.

Bài viết này trình bày một cách nhìn mợihoc thuyết Mác thông qua

thực tiển xã hội hiện đại, mong đóng góp nhỏ bé vào việc bảo vệ học thuyết

Mác và có liên hệ với thực tiển phát triển của cách mạng Việt Nam .

Trong quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong thế giới hiện đại,

cho thấy: những khái niệm khoa học kinh tế chính trị về lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất đã được C.Mác và Ph. Ăng-ghen tổng hợp xây dựng rất

hoàn chỉnh và khoa học, đặc biệt trong các tác phẩm Hệ tư tưởng Đức và bộ

Tư bản.

Về lực lượng sản xuất bao gồm nhiều thành phần, chủ yếu là lao động,

các phương tiện tác động lên đối tượng lao động (ví dụ các trang thiết bị,

máy móc…) và các đối tượng lao động đã hàm chứa lao động quá khứ và có

nguồn gốc từ tự nhiên, nói gọn là lao động và tư liệu sản xuất. Trong thế giới

hiện đại, lực lượng sản xuất phát triển rất đa dạng như C.Mác đã dự kiến,

khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Lao động hiện nay đang

chuyển dần sang chủ yếu lao động có trình độ kiến thức, tay nghề cao và lao

động trí óc nói chung. Các đối tượng lao động cũng khơng chỉ trực tiếp có

nguồn gốc tự nhiên mà ngày càng xuất hiện nhiều loại không từng có trong

tự nhiên (xét đến tận gốc rễ thì mới thấy nguồn gốc từ tự nhiên). Trong bối

cảnh của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, các thành phần

chủ yếu của lực lượng sản xuất có thể thâm nhập xen lẫn nhau ngày càng

mạnh mẽ. Ví dụ, giữa lao động và các phương tiện tác động lên đối tượng lao

động đã có sự thâm nhập lẫn nhau rất cao, như trong các dây chuyền tự

động, các người máy, v.v.. Ở đây, cần nhấn mạnh rằng trong dây chuyền tự

động và người máy đã kết tinh một lượng lớn của lao động quá khứ trình độ

cao, và tiềm ẩn một "cái có thể" về sự liên thơng giữa lao động quá khứ và

lao động sống. Bởi vậy, lý luận cho rằng người máy có thể hồn tồn thay

con người sản xuất, do đó khơng có khía niệm bóc lột giá trị thặng dư, là rất

hời hợt và dẫn đến sai lầm.

Nhìn chung trong lịch sử lồi người, lực lượng sản xuất tăng liên tục và

có những bước nhảy vọt là yếu tố năng động nhất, cách mạng nhất của sản

xuất, với xu hướng hàm lượng lao động trí óc, tính xã hội hóa tồn diện và

tồn cầu hóa ngày càng tăng.



12



Chun đề: Vai trò của Triết học trong đời sống con người

Trong quá trình nghiên cứu về lực lượng sản xuất, không thể không

xem xét đến mối quan hệ của nó với quan hệ sản xuất và các yếu tố xã hội

khác. Vì đó là một đối tượng nghiên cứu rất phức tạp, một "thực thể nhiều

chiều", nên cách tiếp cận ban đầu của phương pháp tư duy bao giờ cũng

mong muốn đơn giản hóa bài tóan bằng cách lựa chọn ra nhiều yếu tố tổng

hợp có tính đặc trưng nhất của lực lượng sản xuất. Chính Lênin đã nêu lên

năng suất lao động như là một yếu tố tổng hợp đặc trưng trình độ của lực

lượng sản xuất, thậm chí có vai trò quyết định "ai thắng ai". hiển nhiên năng

suất lao động chỉ phản ánh trình độ lực lượng sản xuất khi có quan hệ sản

xuất phù hợp. Ngày nay, năng suất lao động còn phải hiểu bao hàm cả chất

lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất.

Trong quan hệ sản xuất có mối liên hệ chặt chẽ với lực lượng sản xuất

ngay trong bản thể sản xuất. Có thể hiểu quan hệ sản xuất theo nghĩa rộng

là toàn bộ những mối tương tác qua lại giữa người và người về mặt kinh tế

thì cốt lõi nhất vẫn là quan hệ giữa người và người về quyền sỡ hữu tư liệu

sản xuất, điều kiện cốt yếu để mọi quá trình sản xuất trở thành hiện thực.

Quan hệ sản xuất còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng

sản xuất, chứ không thể tùy theo ý muốn của con người. Các hình thức của

quan hệ sản xuất, do đó cũng phát triển theo sự phát triển của trình độ của

lực lượng sản xuất.



Một trong những quy luật cơ bản của duy vật lịch sử trong học thuyết

Mác và trình độ của lực lượng sản xuất. Quy luật này có nghĩa là giữa lực

lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ln có mối tương tác qua lại, không

phải chỉ là ảnh hưởng một chiều của lực lượng sản xuất lên quan hệ sản xuất

và ngược lại. Chính ở đây, nó thể hiện q trình thống nhất biện chứng giữa

hai mặt mâu thuẫn nhau của sản xuất. Tuy nhiên, cho đến nay một phương

pháp luận để tiếp cận vấn đề thế nào là đã có sự phù hợp tương đối giữa hai

mặt của sản xuất, vẫn còn đang ở trong tình trạng mơ tả, giải thích hơn là

một phương pháp phân tích có căn cứ khơng đa nghĩa. Cũng tương tự như

vậy, đối với tình trạng khơng có sự phù hợp và mâu thuẫn giữa lực lượng sản

xuất và quan hệ sản xuất đang trở nên gay gắt thì những cơng cụ lý luận có

khả năng dự báo thường bất cập và nhiều khi không tránh khỏi các sai lầm

nghiêm trọng.

Tóm lại, thời kỳ quá độ là một thời kỳ có định hướng, đòi hỏi nổ lực cao

và đầy thử thách, để hòan tất về mặt lực lượng sản xuất những gì còn chưa

có so với khi đã đi qua chủ nghĩa tư bản phát triển, về mặt quan hệ sản xuất

và văn hóa - xã hội phải phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó

các nước đã qua thời kỳ quá độ có thể "tự nhiên" tiến vào chủ nghĩa xã hội

hồn tồn, mà khơng phải dừng lại cải tạo ở giai đọan "phòng chờ". Mặt

khác, sự nghiệp giải phóng con người và lồi người là sự nghiệp tự giải

phóng; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Không phải là một lý tưởng

13



Chuyên đề: Vai trò của Triết học trong đời sống con người

mà hiện thực phải khuôn theo. Đối với các ông, chủ nghĩa xã hội là một

phong trào hiện thực, trong đó con người, quần chúng đơng đảo vừa là mục

tiêu, vừa là chủ thể. Để có xã hội cộng sản chủ nghĩa, phải có trình độ phát

triển rất cao cả về kinh tế và về con người.



KẾT LUẬN

Nghiên cứu triết học Mác thơng qua các hình thức nhận thức về thế

giới quan, phương pháp luận và nhận thức luận đối với đời sống con người,

cho thấy vai trò của con người ngày càng cần được chú ý, đặc biệt là khi

nghiên cứu các quy luật xã hội. Chúng ta đều biết rằng, tính khách quan của

quy luật xã hội khơng thể hiểu theo nghĩa là nó tác động tách rời hoạt động

của con người. Trước đây, khi trình bày các quy luật xã hội, vai trò của con

người thường lại khơng được chúng ta quan tâm thích đáng. Chẳng hạn, nếu

chúng ta tách hoạt động của con người ra khỏi quá trình nghiên cứu quy luật

quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì

nhận thức về vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản

xuất cũng như tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản

xuất sẽ trở nên trừu tượng và đơn giản.

Thế giới quan có vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi con

người, mỗi giai cấp, mỗi cộng đồng người và của xã hội nói chung. Có thể coi

thế giới quan là "lăng kính", qua đó, con người có thể xem xét và nhìn nhận

được thế giới. Từ đó, nó định hướng cuộc sống, chi phối nhận thức và hoạt

động thực tiển của con người. Hình thành và phát triển thế giới quan là một

trong những chỉ tiêu quan trọng của quá trình hình thành và phát triển nhân

cách con người. Trong thế giới quan, có sự thống nhất giữa tri thức và niềm

tin, lý trí và tình cảm. Trong lịch sử xã hội, thế giới quan được thể hiện dưới

nhiều hình thức khác nhau, trong đó, chủ yếu là các hình thức thần thoại,

tôn giáo và triết học. Như vậy, triết học là sự nắm bắt thế giới quan bằng lý

14



Chuyên đề: Vai trò của Triết học trong đời sống con người

luận, là sự thể hiện cô đọng và tập trung thế giới quan của một giai cấp, một

thời đại nhất định. Nó thể hiện chiều sâu của tư tưởng, trình độ cao của trí

tuệ con người trong q trình nhận thức thế giới quan của triết học Mác đối

với đời sống con người.

Phép biện chứng duy vật do C.Mác và Ph.Ăng-ghen khởi xướng và được

Lênin hoàn thiện, phát triển thêm đã trang bị cho nhân loại một thế giới

quan duy vật đúng đắn, khoa học, giúp con người nhận thức đúng đắn, cải

tạo hiện thực xung quanh. Chính vì thế, việc nghiên cứu sâu nội dung của

phép biện chứng duy vật mácxít có ý nghĩa lý luận và thực tiển sâu sắc đối

với chúng ta, nhất là trong giai đoạn đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới

như hiện nay.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đại cương Triết học phương Tây, Đinh Ngọc Thạch. Đại Học Tổng Hợp

Tp.HCM.

2. Giáo trình Triết học Mác - Lênin, NXB - CTQG, 1999.

3. Triết học Mác - Lênin, đề cương bài giảng dùng cho các trường Đại Học và

Cao Đẳng từ năm 1991-1992, Tập I. Bộ GD-ĐT, 1992.

4. Triết học. Tập I, II, III dùng cho Nghiên cứu sinh và Cao học không thuộc

chuyên ngành triết học, Bộ GD-ĐT, 1999.

5. Nghiên cứu - Trao đổi về Lược đồ Mác với nhận thức vùng quá độ và cơ

chế thị trường, Số 2, 01-1999.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. Tiền đề về khoa học tự nhiên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×