Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.1 Bảng đồ hành chính huyện Gò Công Tây

Hình 2.1 Bảng đồ hành chính huyện Gò Công Tây

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



Từ những đặc điểm trên cho ta thấy huyện Gò Cơng Tây là một địa

phương có khí hậu và độ phì của đất thích hợp trồng rau màu.

2.1.2. Sản xuất rau an tồn ở Tiền Giang

Đến năm 2016 diện tích trồng rau trên địa bàn tỉnh Tiền giang là 4.300 ha

trong đó trồng rau an tồn 630 ha tập trung ở các huyện Châu Thành, Chợ Gạo,

Gò Cơng Tây, thị xã Gò Cơng; Gò Cơng Đơng (Báo cáo 6 tháng 2015 của Sở

Nông nghiệp và PTNT Tiền Giang); các loại rau nông dân trồng gồm bắp cải, cải

xanh, rau muống, sà lách, mùng tơi, rau ngót..... Mỗi năm tỉnh Tiền Giang đã

cung ứng cho thị trường mỗi năm trên 1.800 tấn rau thương phẩm gồm nhiều

chủng loại. Hiệu quả trồng rau theo quy trình an tồn tại Hợp tác xã lợi nhuận

cao hơn so với rau thường từ 1,2 – 1,7 lần.

Bảng 2.1 Diện tích trồng rau an tồn trên địa bàn tỉnh 2005-2015

Diện tích Năng suất



Sản lượng



Năm



(ha)



(tạ/ha)



(tấn)



2005



40



160



640



2010



550



162



8.910



2012



570



165



9.075



2013



590



170



10.030



2014



610



17,6



10.407



2015



630



17,8



11.214



Chỉ tiêu



(Nguồn Báo cáo năm 2005, 2010 đến 2015 của Sở Nông nghiệp và PTNT Tiền

Giang)

Qua bảng 2.1 ta thấy, sản lượng rau an tồn tăng dần từ năm 2005-2015. Với

diện tích rau toàn 40 ha từ năm 2005 đến năm 2015 tăng lên 630 ha. Năng suất cũng

như sản lượng tăng đều qua các năm, từ năm 2005 đến năm 2015 sản lượng gia tăng

tương đối đồng đều; diện tích và sản lượng rau an tồn tăng nhưng năng suất tăng

khơng đáng kể.



8



Bảng 2.2 Diện tích trồng rau an tồn trên địa bàn huyện Gò Cơng Tây

Diện tích Năng suất



Sản lượng



Năm



(ha)



(tạ/ha)



(tấn)



2014



17



170



10.030



2015



21



17,6



10.407



2016



25



17,8



11.214



Chỉ tiêu



(Nguồn Báo cáo năm 2014 đến 2016 của phòng Nơng nghiệp và phát triển

nơng thơn huyện Gò Cơng Tây)

Diện tích trồng rau màu trên địa bàn huyện ngày càng tăng nhưng so với tổng

diện tích của tỉnh thì huyện Gò Cơng Tây có diện tích trồng rau an tồn theo tiêu

chuẩn VietGap còn thấp.

2.1.3. Các nghiên cứu trước

Vấn đề nơng sản sạch là vấn đề cấp thiết xã hội, cũng như sự tăng trưởng của xã

hội. Con người khơng chỉ thích ăn ngon, mặc đẹp mà còn phải đảm bảo vệ sinh, tốt cho

sức khỏe của con người. Tuy nhiên trong khi nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu là từ

việc trồng thường và phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu thì việc đáp

ứng nhu cầu đang ngày càng tăng cao này dường như là bài toán nan giải. Việc đưa ra

giải pháp áp dụng công nghệ mới vào trồng nông sản sạch đã được nhiều nhà nghiên

cứu quan tâm

Tại Kenya, đã có những đánh giá về tính hiệu quả của EureoGAP trong hoạt

động xuất khẩu trái cây và rau quả cho các trang trại có quy mô khác nhau. Trên cơ

sở số liệu khảo sát tại 18 trang trại có quy mơ lớn và vừa, 46 trang trại nhỏ và 8 nhà

xuất khẩu, nghiên cứu đưa đến kết luận Quy mơ trang trại có ảnh hưởng trực tiếp tới

hiệu quả của trồng theo EureoGAP. Các trang trại sẽ có nhiều thuận lợi hơn các

trang trại nhỏ trong việc xuất khẩu rau củ quả sang thị trường Châu Âu theo tiêu

chuẩn EureoGAP với các lý do trang trại nhỏ phải đối mặt với chi phí đầu tư trung

bình trên một đơn vị diện tích cao hơn. Các trang trại lớn, điển hình có các điều kiện

kỹ thuật tương đối phù hợp với tiêu chuẩn EureoGAP nên chi phí đầu tư ban đầu

thấp hơn trang trại nhỏ. Các trang trại lớn có nhiều cơ hội ký hợp đồng với nhà trồng

hơn do chi phí giám sát của doanh nghiệp xuất khẩu tính trên một đơn vị diện tích

thấp hơn (Kai, 2006).



9



Kiến thức là động lực mạnh mẽ nhất của sản xuất. Kiến thức nông nghiệp

của nông dân phụ thuộc vào mức độ mà họ tiếp cận với các hoạt động cộng đồng

ở vùng nông thôn. Với tất cả các nguồn lực đầu vào giống nhau, hai nông dân với

sự khác nhau về trình độ kiến thức nơng nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau.

Kiến thức nơng nghiệp cũng là một yếu tố đầu vào của sản xuất. Để sản xuất,

người nơng dân phải có đất; có tiền mua các yếu tố đầu vào như giống, phân bón,

thuốc trừ sâu,…Tuy nhiên, nơng dân phải có đủ kiến thức mới có thể phối hợp

các nguồn lực đó hiệu quả (Theo Đinh Phi Hổ, 2007).

Khi phân tích về lợi ích của việc áp dụng GlobalGAP trong trồng lúa tại

Tiền Giang đã xác định - Việc áp dụng GlobalGAP có hiệu quả kinh tế cao hơn

cho người trồng. – Sức khỏe của người lao động được cải thiện do việc hạn chế

sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật. – Tiêu chuẩn GlobalGAP trên cây lúa

có thể tiếp tục mở rộng qui mô trong thời gian tới. Tuy nhiên nghiên cứu chỉ kết

luận được sự thành công trong điều kiện người nông dân trồng lúa theo tiêu

chuẩn GlobalGAP có nguồn đầu ra ổn định, giá cao (ký kết hợp đồng bao tiêu

sản phẩm với doanh nghiệp xuất khẩu gạo thơng qua vai trò trung gian của hợp

tác xã nơng nghiệp trên địa bàn). Vì vậy, đối với sản phẩm chưa có được hợp

đồng tiêu thụ thì việc áp dụng tiêu chuẩn GAP có lợi hơn khơng chưa giải thích

được (Nguyễn Thị Kim Chi , 2010)

Đề tài đánh giá hiệu quả tài chính và các yếu tố ảnh hưởng quyết định của

nông dân trồng lúa theo tiêu chuẩn GlobalGap ở huyện Cai Lậy, Tiền Giang và

chỉ ra rằng, so với trồng thường thì trồng theo tiêu chuẩn GlobalGap có chi phí

cao hơn 3,7 triệu đồng/ha/năm, năng suất ít hơn 0,7 tấn/ha/năm nhưng có giá trị

bán cao hơn 1.645 đồng/kg (37,63%), đồng thời lợi nhuận thu được cao hơn 21,8

triệu đồng/ha/năm. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định trồng lúa theo

GlobalGap gồm số lần tập huấn kỹ thuật, công lao động, lợi nhuận, chi phí trồng.

Để ngày càng mở rộng diện tích lúa trồng theo GlobalGap, nghiên cứu đã đưa ra

khuyến cáo Nhà nước cần hỗ trợ nông dân tìm doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm

GlobalGap, thực hiện mơ hình liên kết trồng – tiêu thụ. (Bùi Minh Vũ , 2012)

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế và xác định các yếu tố ảnh hưởng

đến quyết định trồng nho an tồn của nơng dân tỉnh Bình Thuận. Kết quả nghiên



10



cứu cho thấy các hộ nông dân trồng nho an tồn có năng suất thấp hơn so với

trồng nho theo cách thường nhưng lại có chất lượng và giá bán cao hơn, do đó

hiệu quả kinh tế cao hơn gấp đôi so với trồng nho theo cách thường. Đồng thời

nghiên cứu cũng xác định các yếu tố như diện tích trồng nho, khả năng nhận thức

về mơi trường, số lần tham gia khuyến nơng đều ảnh hưởng có ý nghĩa đến tỷ lệ

chấp nhận mơ hình trồng nho an tồn (Nguyễn Ngọc Duy, 2012).

Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của quy trình VietGap đến hiệu quả sản

xuất bắp cải tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy

các yếu tố tác động đến xu hướng VietGap của người nơng dân gồm: diện tích,

tuổi, tổng chi phí, thu nhập, học vấn, tập huấn VietGap. Trong đó các yếu tố tác

động đến tăng khả năng quyết định áp dụng VietGap gồm thu nhập và tập huấn

VietGap.

2.2.2. Cơ sở lý thuyết

2.2.1. Giới thiệu về rau an toàn

2.2.1.1 . Các khái niệm

Rau an toàn

Rau, quả an toàn là sản phẩm rau, quả tươi được trồng, sơ chế, chế biến

phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm

hoặc phù hợp với quy trình kỹ thuật trồng, sơ chế rau, quả an tồn được Sở Nơng

nghiệp và Phát triển nơng thơn phê duyệt hoặc phù hợp với các quy định liên

quan đến đảm bảo an tồn thực phẩm có trong quy trình thực hành trồng nông

nghiệp tốt cho rau, quả tươi an tồn VietGAP, các tiêu chuẩn GAP khác và mẫu

điển hình đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định. (Theo Thông tư

59/2012/TT-BNNPTNT ngày 09/11/2012 về việc quy định về quản lý rau, quả và

chè an toàn)

Như vậy rau an toàn gồm Rau an toàn theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực

thực phẩm; Rau an toàn theo tiểu chuẩn VietGap; Rau an tồn phù hợp với quy trình

kỹ thuật trồng, sơ chế rau, quả an toàn được Sở Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn

phê duyệt.



11



Rau an tồn chưa phải là rau hữu cơ vì rau hữu cơ là rau khơng chứa hàm

lượng các chất độc hại, còn rau an tồn thì vẫn có chứa một hàm lượng chất nhất

định nhưng không gây hại theo tiêu chuẩn cho phép.

Các tiêu chuẩn của rau an toàn vệ sinh thực phẩm

Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Nông lương & Lương

thực của Liên hợp quốc (FAO) thì rau an tồn phải đảm bảo các yếu tố sau Rau

đảm bảo phẩm cấp chất lượng không bị hư hại, dập nát, héo, và khơng ủ bằng

hóa chất độc hại. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hàm lượng Nitrat (NO3) và

kim loại nặng dưới mức cho phép. Rau khơng bị bệnh khơng có vi sinh vật gây hại

cho con người và gia súc.

Bảng 2.3 Giới hạn ô nhiểm trong rau cải

Giới hạn tối đa



Trích nguồn



Hàm lượng nitrat NO3



500mm/Kg



TCVN 5247 1990



Cadmi (Cd)



0,05mg/Kg



QCVN 8-2 2011/BYT



Chì (Pd)



0,3 mg/kg



E. coli



103 CFU/g



Salmonella



0/25g



Chỉ tiêu



Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật



QCVN 8-3 2011/BYT



68/2010/TT-BNN&PTNT



Cyromazine



10 mg/kg



Fludioxonil



10 mg/kg



Malathion



2 mg/kg



Methoxyfenozide



30 mg/kg



Piperonyl Butoxide



50 mg/kg



Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở trồng trọt (Theo Điều

4 Thông tư 51/2014/TT-BNNPTNT)

Địa điểm trồng không nằm trong vùng bị cảnh báo ơ nhiễm, khơng bảo

đảm trồng thực phẩm an tồn.

Nguồn nước tưới khơng ảnh hưởng đến an tồn sản phẩm. Không sử

dụng nước bị ô nhiễm, nước thải để rửa, sơ chế sản phẩm.



12



Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phải tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng:

đúng thuốc, đúng liều lượng và nồng độ, đúng lúc, đúng cách; tuân thủ thời gian

ngừng sử dụng thuốc theo hướng dẫn của nhà sản xuất thuốc; đọc kỹ nhãn thuốc

trước khi sử dụng.

Sử dụng phân bón có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đúng liều lượng, đúng

cách theo hướng dẫn sử dụng ghi trên bao bì, tài liệu hướng dẫn sử dụng hoặc

hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật trồng trọt, cán bộ khuyến nông; Sử dụng phân

hữu cơ đã được ủ hoai mục.

Có trang thiết bị, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng, phương tiện phù

hợp để trồng, thu hoạch, bảo quản và vận chuyển, bảo đảm không gây độc hại,

không gây ô nhiễm cho thực phẩm.

Người trồng được phổ biến, hướng dẫn về thực hành trồng thực phẩm an

toàn.

Vỏ bao gói thuốc bảo vệ thực vật, phân bón phải được thu gom trong

các vật chứa kín, đúng nơi quy định để chờ xử lý hoặc tiêu hủy tránh gây ô

nhiễm cho sản phẩm và khu vực trồng.

Duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và cung cấp được

thông tin liên quan đến việc mua bán sản phẩm.

Rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap

VIETGAP

Ngày 28-1-2008 tiêu chuẩn VIETGAP đã chính thức được Bộ Nơng

nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành và đã phát huy tác dụng.

VIETGAP (là cụm từ viết tắt của Vietnamese Good Agricultural

Practices) có nghĩa là Thực hành trồng nông nghiệp tốt ở Việt Nam dựa trên 4

tiêu chí như Tiêu chuẩn về kỹ thuật trồng. An toàn thực phẩm gồm các biện pháp

đảm bảo khơng có hóa chất nhiễm khuẩn hoặc ơ nhiễm vật lý khi thu hoạch. Mơi

trường làm việc mục đích nhằm ngăn chặn việc lạm dụng sức lao động của nơng

dân. Truy tìm nguồn gốc sản phẩm. Tiêu chuẩn này cho phép xác định được

những vấn đề từ khâu trồng đến tiêu thụ sản phẩm.

Đây là quy trình áp dụng tự nguyện, có mục đích hướng dẫn các nhà

trồng nâng cao chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn, nâng cao hiệu quả, ngăn



13



ngừa hoặc giám tối đa những nguy cơ tiềm ẩn về hóa học, sinh học và vật lý học

có thể xảy ra suốt q trình trồng, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển

mua bán rau.

Các tiêu chuẩn của VietGap

Quy trình trồng nơng nghiệp tốt VietGap cho rau quả an tồn có tổng số

65 tiêu chí đánh giá, cụ thể như sau:

Bảng 2.4 Các tiêu chuẩn của VietGap

STT



Nhóm tiêu chí



Mức độ



Tố số

tiêu chí



A



B



C



1



Đánh giá và lựa chọn vùng trồng



3



2



1



0



2



Giống và gốc ghép



2



0



2



0



3



Quản lý đất và giá thể



4



2



2



0



4



Phân bón và chất phụ gia



5



4



1



0



5



Nước tưới



2



2



0



0



6



Hóa chất (bao gồm cả thuốc bảo vệ thực vật)



13



6



6



1



7



Thu hoạch và xử lý sau thu hoạch



16



12



3



1



8



Quản lý và xử lý chất thải



1



1



0



0



9



An toàn lao động



7



1



4



2



10



Ghi chép, lưu trữ hồ sơ, truy nguyên nguồn gốc



6



6



0



0



và thu hồi sản phẩm

11



Kiểm tra nội bộ



4



1



2



1



12



Khiếu nại và giải quyết khiếu nại



2



0



2



0



Tổng cộng



65



37



23



5



(Nguồn Thông tư số 48/2012/TT-BNNPTNT)

Ghi chú - A Chỉ tiêu bắt buộc thực hiện, B Chỉ tiêu cần thực hiện, C Chỉ tiêu

khuyến khích thực hiện

Yêu cầu của VietGap Cơ sở trồng được cấp Giấy chứng nhận VietGAP khi đạt

100% số chỉ tiêu mức độ A và tối thiểu 90% số chỉ tiêu mức độ B. Cơ sở trồng

nhiều thành viên được cấp Giấy chứng nhận VietGAP khi 100% số cơ sở thành

viên đại diện được lựa chọn để đánh giá đều đạt yêu cầu theo VietGAP (Nguồn



14



Thông tư số 48/2012/TT-BNNPTNT ngày 26 tháng 9 năm 2012 của Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

Rau thường là rau được trồng khơng theo qui trình an tồn vệ sinh thực

phẩm và qui trình trồng của VietGap ( Rau trồng theo cách thường), chưa được

cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP.

2.2.1. 2. Quản lý nhà nước về rau an tồn

Hiện nay, vì vấn đề sức khỏe, vệ sinh an toàn thực phẩm mà nhu cầu của

người tiêu dùng đối với rau an toàn khá lớn, họ chấp nhận bỏ ra chi phí cao để tiêu

dùng sản phẩm chất lượng. Tuy nhiên, có phải tất cả rau đưa ra thị trường dưới tên

gọi “Rau an toàn” đều là an tồn? Vì vậy quản lý nhà nước đối với rau an toàn là

việc quan trọng và cần thiết nhằm đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng.

Quản lý nhà nước đối với rau an tồn có thể hiểu là hoạt động quản lý của

cơ quan có thẩm quyền về quy trình trồng, tiêu chuẩn, chất lượng của rau an toàn.

Theo quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15 tháng 10 năm 2008 của Bộ

Nông nghiệp và PTNT Ban hành qui định quản lý trồng, kinh doanh rau, quả và

chè an tồn; Để được cơng nhận là rau an tồn thì phải đáp ứng được hai điều kiện

sau Thứ nhất, được chứng nhận đủ điều kiện trồng rau an toàn; Thứ hai, rau trồng

ra phải được chứng nhận trồng theo quy trình trồng rau an tồn.

Thực tế, trồng theo quy trình trồng rau an tồn thường có năng suất khơng

cao, cho nên các tổ chức, cá nhân có khuynh hướng làm sai các điều kiện trồng đã

đăng ký. Vì vậy, trong khâu này nếu hoạt động kiểm tra, giám sát không được tiến

hành hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của rau.

Bên cạnh đó, chưa có ràng buộc về mặt chế tài đối với tổ chức, cá nhân

công bố thông tin khơng chính xác về chất lượng sản phẩm, cho nên trên thực tế,

hoạt động vi phạm về chất lượng rau an toàn vẫn thường xuyên xảy ra.

Do vậy, thực tế rau an tồn bị đánh đồng với rau thơng thường dẫn đến thiệt

hại cho người trồng rau an toàn và người tiêu dùng. Để đảm bảo quyền lợi cho nơng

dân, đảm bảo sự an tồn cho người tiêu dùng, hoạt động quản lý nhà nước đối với rau

an toàn cần được chú trọng và nâng cao hơn nữa trong thời gian tới (Bùi Thị Hằng

Nga, năm 2008).



15



Quy trình trồng rau, quả an tồn

Nhà trồng xây dựng quy trình trồng phù hợp với cây trồng và điều kiện cụ

thể của địa phương, nhưng phải phù hợp với các quy định về đảm bảo an tồn vệ

sinh thực phẩm có trong VietGAP. Nhà trồng phải cam kết đảm bảo vệ sinh an

tồn thực phẩm và có hồ sơ ghi chép tồn bộ quá trình trồng theo VietGAP.

2.2.1.4. Loại hình chủ yếu phát triển rau an toàn ở nước ta

Rau an toàn trong nhà lưới

Trồng rau an tồn trên diện tích hẹp với đầu tư cao, chủ yếu là đầu tư cơ sở

vật chất kỹ thuật. Ðó là trồng rau an tồn trong nhà kính, nhà lưới, trồng rau sạch

thủy canh... Ưu điểm của mơ hình này là có thể trồng rau an toàn trái vụ, cho năng

suất cao, tránh được những bất lợi do thời tiết (mưa, gió lớn) phù hợp chủ yếu với

rau ăn lá và rau cao cấp phục vụ một số yêu cầu khắt khe, cao cấp của người tiêu

dùng. Khiếm khuyết lớn nhất của mơ hình này là quy mô thường nhỏ do vậy số

người tham gia trồng ít sản lượng rau an tồn nhỏ, khơng đáp ứng được đông đảo

cộng đồng người tiêu dùng, tác động bảo vệ môi trường hạn chế, giá thành cao,

hơn nữa đầu tư khá cao (nếu dùng cọc tre làm thì chi phí la 35 triệu đồng/1000m2

thời gian sử dụng 3-4 năm; nếu dùng thép để làm giàn thì chi phí 50-60

triệu/1000m2 thời gian sử dụng vài chục năm) nên khó mở rộng.

Rau an tồn trồng khơng sử dụng nhà lưới

Mơ hình phát triển rau an tồn đại trà ngồi đồng trên diện rộng, đầu tư

không cao chủ yếu là đầu tư kỹ thuật, huấn luyện nông dân, nhược điểm chủ yếu là

không trồng được rau trái vụ, hay bị tác động bất lợi của thời tiết nhưng ưu điểm

lớn là nhiều nông dân biết cách và tham gia trồng rau an tồn, diện tích và sản

lượng lớn nên đáp ứng được yêu cầu của cộng đồng tiêu dùng, khai thác được các

ưu thế của thời tiết nhiệt đới, giá thành thấp (thường gần bằng giá rau thông

thường hoặc tăng không quá 10%) tác động tích cực nhanh và rộng đến nông

nghiệp, môi trường và cộng đồng xã hội, dễ mở rộng quy mơ trồng.

Trồng an tồn theo quy trình giống quy trình tổng hợp IPM mỗi loại rau

khác nhau sẽ có qui trình trồng riêng, qui trình nào cũng dựa trên cơ sở những

nghiên cứu khá sâu về sinh thái học đề ra những phòng trừ bằng canh tác, vật lý,

sinh học cụ thể như cần xử lý cây con trước khi trồng, trồng cây xua đuổi côn



16



trùng và vệ sinh đồng ruộng,. Có thể dùng bẫy đèn bắt cơn trùng có cánh, tưới

nước vào chiều tối, giết nhộng bằng tay. Khi sử dụng thuốc hóa học thì chỉ có thể

sử dụng thuốc vi sinh để bảo vệ thiên địch trên đồng ruộng đồng thời cũng cần

phun thuốc đúng lúc và đúng cách, cần bảo đảm thời gian cách li cần thiết trước

khi thu hoạch.

Hiện tại loại hình trồng thứ hai “trồng an tồn khơng sử dụng nhà lưới”

đang được áp dụng rộng rãi tại địa bàn tỉnh Tiền Giang.

2.2.1.5. Các nguyên nhân gây ô nhiểm rau trồng

Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) là việc hết sức cần thiết để đảm bảo

sức khỏe cộng đồng. Các loại thực phẩm có nguồn gốc từ sản phẩm trồng trọt

khơng an tồn có thể do một trong các nguyên nhân sau Dư lượng thuốc BVTV

vượt mức giới hạn cho phép (MRL Maximum residue limit). Hàm lượng Nitrate

(NO3) vượt mức giới hạn cho phép. Tồn dư kim loại nặng (Hg, As, Pb, Cu, Cd,

Zn,…) vượt mức giới hạn cho phép. Có sự hiện diện của vi sinh vật, ký sinh trùng

gây hại (E.coli, Salmonella, Shigella,…). Có chứa độc tố sinh học (Acid

cyanhydric, độc tố vi nấm Aflatoxin,…)

Ngun nhân của tình trạng ơ nhiễm thuốc trừ sâu trên rau

Rau là loại nông sản rất dễ bị ô nhiễm lượng thuốc trừ sâu so với các loại

nơng sản khác (cây ăn trái, lúa) do có thời gian sinh trưởng ngắn, phần sử dụng

thường nằm sát mặt đất nên rau xanh ln có nguy cơ ơ nhiễm cao. Trình độ hiểu

biết về sử dụng thuốc BVTV an tồn của nơng dân còn hạn chế, theo kinh nghiệm

và cảm tính nên tạo dư lượng thuốc trừ sâu trên rau cao, nhất là các loại thuốc

thuộc nhóm lân hữu cơ và carbamate (độc tính cao và chậm phân hủy).

Rau được tiêu thụ sau khi thu hoạch trong vòng 1-2 ngày mà không qua giai

đoạn tồn trữ, chế biến như các loại nơng sản khác, nhiều khi còn được ăn sống

khơng qua nấu chính nên dư lượng thuốc trừ sâu chưa có điều kiện phân hủy do đó

còn tồn tại trong rau rất cao (nhóm lân hữu cơ, carbamate thời gian cách ly trước

khi thu hoạch từ 10 đến 15 ngày; nhóm cúc tổng hợp thời gian cách ly từ 3 đến 7

ngày). Một số nguyên nhân cụ thể như: tự quyết định phun thuốc khơng theo quy

trình. Phun thuốc quá nhiều lần trên vụ. Sử dụng thuốc quá nồng độ và liều lượng



17



khuyến cáo. Tự ý pha trộn các loại thuốc khi sử dụng. Dùng thuốc quá gần ngày

thu hoạch. Dùng thuốc không đúng cách, không trang bị bảo hộ lao động.

Thực trạng ô nhiễm trên rau

Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật

Khi phun thuốc trừ sâu, bệnh, cỏ dại….. thuốc sẽ tạo thành một lớp mỏng

(chất lắng) trên bề mặt lá, trái, thân cây, mặt đất, mặt nước…. gọi là dư lượng

ban đầu của thuốc. Sau một thời gian dưới tác động của những hệ thống và

những yếu tố vật lý như ánh sáng, nhiệt độ, nước, lớp chất lắng của thuốc có

những biến đổi gọi là dư lượng của thuốc. Lượng thuốc tồn dư này ở mức độ cao

sẽ có thể gây ngộ độc cho người nếu ăn phải.

Theo Cục Bảo vệ thực vật ở Việt Nam đã và đang sử dụng khoảng 270 loại

thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột

và 26 loại thuốc kích thích sinh trưởng với khối lượng lớn ngày càng tăng.

Căn cứ vào thực tế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của nông dân trồng rau

đồng thời căn cứ trên các kết quả phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhất

là thuốc trừ sâu thì dư lượng thuốc trừ sâu trên rau rất cao, có nhiều trường hợp

cao gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép.

Theo kết quả phân tích của Trung tâm Kiểm định thuốc bảo vệ thực vật

phía Nam (Cục Bảo vệ thực vật) thì có 57% số mẫu rau phân tích (256 mẫu) có

dư lượng thuốc trừ sâu hơn 1 ppm, đáng lưu ý là có nhiều mẫu rau phân tích có

dư lượng thuốc trừ sâu vượt trên 100 lần mức cho phép như cải bẹ xanh 48,4%,

cải ngọt 20,3%, cải bắp 10,9%. Phần lớn các mẫu rau phân tích có dư lượng

thuốc trừ sâu cao chủ yếu thuộc các nhóm lân hữu cơ và carbonate.

Hàm lượng Nitrat và kim loại nặng

Nguyên nhân làm cho dư lượng nitrat (NO3) trên rau chủ yếu do sử dụng

nhiều phân đạm hoá học và dùng quá gần ngày thu hoạch. Nguyên nhân làm cho

hàm lượng các kim loại nặng trên rau chủ yếu do thuốc bảo vệ thực vật và các

loại phân NPK trong đó có chứa cả một số kim loại nặng sử dụng trên đồng

ruộng bị rửa trôi xuống ao hồ, sông rạch thâm nhập sâu vào mạch nước ngầm gây

ô nhiễm nguồn nước tưới rau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.1 Bảng đồ hành chính huyện Gò Công Tây

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×