Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



người dân nhiều hay ích thì khơng ảnh hưởng đến việc chuyển đổi mơ hình, do

diện tích canh tác của các hộ không nhiều và người dân trồng rất nhiều loại rau

(rau muống, rau dền, mồng tơi).

Các biến có ý nghĩa thống kê

Tuổi của người trồng rau (TUOI) tác động tích cực đến khả năng tham gia

trồng rau an tồn trên địa bàn huyện Gò Cơng Tây. Kết quả này không phù hợp

với nghiên cứu của Trần Phan Phương Thảo (2014), nhưng đúng với kỳ vọng ban

đầu của tác giả. Từ đó cho thấy sự khác nhau về địa lý nhưng tuổi của người dân

vẫn ảnh hưởng đến việc lựa chọn trồng rau an toàn, nhưng nghiên cứu của Trần

Phan Phương Thảo (2014) biến Tuổi có hệ số β <0, nghiên cứu của tác giả hệ số

β>0, điều này cho thấy, người dân của huyện Gò Cơng Tây tuổi càng tăng thì khả

năng chuyển đổi càng cao, vì hiện nay việc an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm

ngày càng được chú trọng, nhận thức của người dân cũng được nâng lên, bỏ những

suy nghĩ bảo thủ, mạnh dạn chuyển đổi mơ hình.

Kinh nghiệm trồng rau (KNGHIEM) tác động tích cực đến khả năng tham

gia trồng rau an toàn trên địa bàn huyện Gò Cơng Tây. Kết quả phân tích đúng

với kỳ vọng ban đầu hệ số β>0, qua nghiên cứu thực tế những người trồng rau an

toàn hiện nay là những người có kinh nghiệm trồng rau rất lâu năm, họ khơng

ngại khó khăn khi chuyển đổi qua trồng rau an toàn, trồng rau an toàn và trồng

rau thường khác nhau khâu bón phân, thuốc bảo vệ thực vật,và thời gian bón

phân và phun thuốc.

Tập huấn kỹ thuật (TAPHUAN) tác động tích cực đến khả năng tham gia

trồng rau an tồn trên địa bàn huyện Gò Cơng Tây. Kết quả này phù hợp với

nghiên cứu của Trần Phan Phương Thảo (2014) và phù hợp với kỳ vọng dấu ban

đầu hệ số β>0. Từ đó cho thấy khi người dân tham gia tập huấn kỹ thuật trồng

rau theo tiêu chuẩn an tồn thì khả năng chuyển đổi trồng rau thường sang trồng

rau an toàn tăng.

Giá bán rau (GIABAN) tác động tích cực đến khả năng tham gia trồng rau

an tồn trên địa bàn huyện Gò Cơng Tây. Kết quả này phù hợp với kỳ vọng dấu

ban đầu hệ số β>0, Qua điều tra thực tế, giá bán rau an toàn cao hơn giá bán rau

thường nên khi giá bán rau càng cao thì nơng dân sẽ chuyển sang trồng rau an



54



tồn càng nhiều.

Tổng chi phí (TCP) tác động tích cực đến khả năng tham gia trồng rau an toàn,

trên địa bàn. Kết quả nghiên cứu này có sự khác biệt so với nghiên cứu Trần Phan

Phương Thảo (2010) hệ số β>0, điều này cho thấy chi phí tăng có ảnh hưởng, tuy

nhiên không thực sự đáng kể đến đến khả năng chuyển đổi trồng rau an toàn của các

hộ gia đình trên địa bàn. Việc chuyển đổi mơ hình chưa thực sự nhạy cảm đối với

tổng chi phí mà các hộ gia đình bỏ ra, quan trọng họ cho rằng việc chuyển đổi mơ

hình phải tăng được năng suất và lợi nhuận của họ, họ sẳn sàng đối mặt với rủi ro

tăng chi phí.

Lợi nhuận trồng rau (LOINHUAN) tác động tích cực đến khả năng tham gia

trồng rau an tồn trên địa bàn huyện Gò Cơng Tây. Kết quả này phù hợp với nghiên

cứu Trần Phan Phương Thảo (2014), hệ số β>0 từ đó cho thấy hiện nay bà con có

xu hướng đối mặt với rủi ro gia tăng chi phí nếu có cơ hội để nâng cao năng suất

trồng rau an toàn nhằm nâng cao mức lợi nhuận hiện có. Tuy nhiên kết quả nghiên

cứu chưa thấy rõ vai trò của việc gia tăng lợi nhuận thúc đẩy chuyển đổi trồng rau

mới của bà con.

Trình độ học vấn (TĐHV) tác động tích cực đến khả năng tham gia trồng rau

an tồn trên địa bàn huyện Gò Cơng Tây. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu

của Trần Phan Phương Thảo (2014) và đúng với kỳ vọng ban đầu của tác hệ số

β>0. Từ đó cho thấy trình độ học vấn của người dân tham gia trồng rau càng cao

thì việc chuyển đổi trồng rau càng tăng.

4.5 Phân tích động lực khuyến khích và yếu tố cản trở khi nơng dân

tham gia trồng rau an tồn

Thực hiện VietGap cũng góp phần mang lại những lợi ích thiết thực cho

người nơng dân cũng như người tiêu dùng, tuy nhiên trong quá trình áp dụng

VietGap vào trồng người nơng dân cũng gặp phải những khó khăn thuận lợi như

sau:



55



4.5.1 Lý do người dân tham gia trồng rau an toàn (VietGap)

Bảng 4.14 Lý do chọn trồng rau an toàn

SX rau thường



SX rau an toàn



Tần số



(%)



Tần số



(%)



Bán được giá cao



22



36.67



40



66,67



Được phổ biến tuyên truyền



0



2



0,03



Được nhà nước hỗ trợ



0



0



0



Muốn có đầu ra ổn định



0



15



0,25



Nhận thức về ATVSTP



17



3



0,05



Lý do



28,33



(Nguồn số liệu khảo sát, 2016 )

Ngoài ra, Qua số liệu Bảng 4.14 thì có 39 hộ trồng rau thường (chiếm 65%)

quyết định chuyển sang trồng rau an tồn, các lý do chính dẫn đến quyết định của

nơng hộ là

Thứ nhất, cho rằng giá cả không cao hơn trồng rau thường, có 36,67% hộ.

Thứ hai, các hộ nơng dân nhận thức được việc trồng rau an toàn an toàn để

đảm bảo vệ sinh thực phẩm.

Đối với lý do thứ nhất người dân trồng rau ước muốn của hộ muốn bán được

giá cao để mang lại lợi nhuận tối đa cho nên việc chọn trồng rau an toàn điều trước

tiên người dân chọn là lợi nhuận nhiều hơn lợi nhuận trồng rau thường. Để đạt được

điều này thì bên cạnh giá cao thì phải có nguồn đầu ra ổn định để tránh tình trạng

được mùa thì mất giá, được giá thì mất mùa vẫn thương xuyên xảy ra trong lĩnh vực

trồng nơng nghiệp.

Nhận thức về an tồn vệ sinh thực phẩm để làm cho người trồng hiểu trồng

an toàn là xu thế chung của xã hội mà nhà nước đang hướng đến nhằm bảo vệ

sức khỏe con người, vì thế cần phải tuyên truyền, tập huấn kiến thức về VSATTP

cho người dân hiểu rõ về các tác hại trước mắt và dài lâu của việc trồng khơng an

tồn, từ đó có định hướng trồng tốt hơn.



56



4.5.2 Những khó khăn khi áp dụng trồng rau an toàn (VietGap)

Qua số liệu điều tra từ những hộ tha gia trồng rau an tồn, tơi tổng kết lại

những khó khăn mà người dân gặp phải được trình bày qua bảng 4.15

Bảng 4.15 Những khó khăn khi trồng rau an tồn:

Diễn giải



Số hộ



Tỷ lệ (%)

40 hộ



Chi phí đầu tư cao



32



80



Khó khăn trong việc ghi nhật ký



20



50



Do môi trường đất, nước tưới không đạt



10



25



Đầu ra không ổn định



35



87,5



Thủ tục kiểm định, cấp giấy chứng nhận



29



72,5



Chưa hiểu rỏ về trồng rau an toàn theo



12



30



9



22



Tiêu chuẩn VietGap

Các khó khăn khác



(Nguồn số liệu khảo sát, 2016)

Trong số các hộ nơng dân được phỏng vấn cho rằng khó khăn lớn nhất khi

trồng rau an tồn là đầu ra khơng ổn định (87,5%) rau sau khi thu hoạch hầu như

chỉ bán cho thương lái tại ruộng, hoặc bán cho hợp tác xã và tổ hợp tác giá được

thương lái ấn định, đây là một thiệt thòi rất lớn cho người nơng dân. Chi phí đầu

tư cao (80%), đánh giá chứng nhận do thủ tục chứng nhận, kiểm định phức tạp

(72,5%), khó khăn trong việc ghi nhật ký (50%) đa phần người dân còn bối rối,

lúng túng, chưa quen việc ghi “nhật ký nhà nông” và họ cho rằng tốn công vơ

ích. Bên cạnh đó, nơng dân còn khó khăn trong việc kiểm soát sâu bệnh, nhất là

trong giai đoạn cuối chuẩn bị thu hoạch, phải thường xuyên thăm đồng và phải

xịt thuốc đúng quy cách. Việc trồng RAT còn gặp nhiều khó khăn khác, như quy

mơ còn nhỏ lẻ, manh mún, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào trồng còn hạn chế,

chưa có các vùng trồng chun rau tập trung lớn; cơ sở hạ tầng cho vùng trồng

rau còn thiếu và chưa đồng bộ.. Ngoài ra, khi nguồn cung sản phẩm rau trên thị

trường dồi dào thì tình trạng ép giá xảy ra. Mặt khác, nông dân chưa tiếp cận

được những thông tin về nhu cầu của thị trường nên khơng có biện pháp tổ chức

trồng hợp lý.



57



4.6 Giải pháp phát triển trồng rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap

trên địa bàn huyện Gò Cơng Tây

Với kết quả nghiên cứu đạt được như trên, đề tài đề ra một số giải pháp

nhằm khuyến khích mở rộng diện tích trồng rau an tồn:

Trong q trình điều tra thực tế tại địa nghiên cứu cho thấy ta cần chú

trọng đến quy mơ trồng rau của các hộ, diện tích trồng rau hiện nay manh múng,

không tập trung. Các hộ trồng rau thường cần chủ động chuyển sang trồng rau an

toàn, liên kết thành nhóm và đề xuất các cơ quan chức năng hướng dẫn, tập huấn

kỹ thuật trồng rau an toàn và hướng dẫn hồ sơ để được công nhận rau an tồn

theo tê chuẩn VietGap; bên cạnh đó cần tìm hiểu kinh nghiệm trồng rau an toàn

từ các hộ trồng rau an tồn.

Yếu tố hiểu biết kỹ thuật đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn đến

quyết định chọn trồng rau an tồn, Vì vậy cơ quan nhà nước cần tăng cường công

tác tuyền truyền, phổ biến rộng rãi cho hộ ni về hiệu quả kinh tế và tính bền

vững của trồng rau an toàn; đồng thời tổ chức nhiều buổi tập huấn về trồng rau

an toàn và tạo mọi điều kiện để người dân được tiếp cận với các buổi tập huấn,

giúp cho người dân hiểu rỏ về kỹ thuật, lợi ích kinh tế, mơi trường và các chương

trình hỗ trợ của địa phương khi áp dụng trồng rau an toàn.

Ngoài ra, các hợp tác xã, tổ hợp tác xã tìm đầu cho sản phẩm rau ổn định,

giá rau an toàn phải cao hơn giá rau thường, để người dân yên tâm khi tham gia

trồng rau an toàn. Muốn đạt được điều này các tổ hợp tác và hợp tác xã phải tạo

được thương hiệu cho mình, phải có quy trình đóng gói, bảo quản rau an tồn,

chất lượng rau phải đúng theo qui định của cơ quan kiểm định chất lượng. Mở

rộng diện tích trồng rau an toàn đối với những hợp tác xã và tổ hợp tác đã được

chứng nhận rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap, bên cạnh đó phải củng cố, nâng

cấp các Tổ hợp tác, Hợp tác xã hiện có.

Chi phí trồng rau an tồn cao, đề nghị nhà nước cần có chính sách tài chính

hỗ trợ phát triển trồng rau an tồn nhằm giúp bà con nông dân đầu tư các điều

kiện thiết yếu cho trồng rau an toàn như: bãi pha thuốc, bảo hộ lao động, nhà vệ



58



sinh tự hoại, kho chưa phân bón – thuốc BVTV (hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng

hoặc hỗ trợ một phần chi phí đầu tư)

Để chất lượng nước đảm bảo đạt tiêu chuẩn theo qui định thì các kênh nội

đồng vùng trồng rau an tồn tập trung, tạo dòng chảy thơng thống. Nâng cấp hệ

thống ngọt hóa Gò Cơng như đê, cống, đập và có biện pháp vận hành hiệu quả

nhằm tạo nguồn nước tưới ổn định, chất lượng nước tốt và ngăn mặn xâm nhập

nhất là xu hướng nước biển ngày càng dâng cao do biến đổi khí hậu.

Đầu tư xây dựng đường giao thông nông thôn đảm bảo cho việc vận chuyển

rau nhằm giảm chi phí vận chuyển, tăng giá bán cho nơng dân, vì hiện nay vận

chuyển rau chủ yếu bằng xe mơ tơ, sau đó tập kết lên xe tải và vận chuyển đi tiêu

thụ trong và ngồi tỉnh.

Tóm tắt chương 4

Với kết quả nghiên cứu này có thể giải thích được câu hỏi nghiên cứu của

đề tài như sau:

Hiệu quả kinh tế của trồng rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap và trồng rau

thường được xác định và đo lường bằng tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận*100/tổng

chi phí) và xác định trồng rau an toàn hiệu quả kinh tế hơn.

Có 7 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quyết định chọn trồng rau an toàn theo

tiêu chuẩn VietGap tại huyện Gò Cơng Tây, (i) giá bán rau, (ii) chi phí, (iii) lợi

nhuận, (iv) tập huấn kỹ thuật, (v) trình độ học vấn,(vi) tuổi, (vii) kinh nghiệm của

người tham gia trồng rau, trong đó tập huấn kỹ thuật và kinh nghiệm của người

người trồng rau là tác động mạnh nhất. Hệ số tương quan Nagelkerke R Square

đạt tới 84.1% cho thấy biến phụ thuộc khả năng tham gia trồng rau an tồn trên

địa bàn huyện Gò Cơng Tây được sự giải thích bởi sự thay đổi các biến độc lập

trong mơ hình.



59



CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN

5.1 KẾT LUẬN

Qua kết quả điều ra khảo sát các nông dân trồng rau tại huyện Gò Cơng Tây

cho thấy: diện tích trồng nhỏ lẻ, được phân bổ cập các tuyến kênh lớn của huyện,

diện tích trong bình của mỗi hộ 0,16 ha.

So sánh hiệu quả kinh tế của trồng rau an toàn và trồng rau thường, kết quả

chỉ ra rằng lợi nhuận khi trồng rau an tồn cao hơn trồng rau thường, do đó ta cần

chú ý đến việc khuyến khích người dân chuyển sang trồng rau an toàn.

Với cơ sở dữ liệu điều tra năm 2016, sử dụng mơ hình hồi quy logistic đã

xác định có 7 yếu tố có ý nghĩa thống kê quyết định ảnh hưởng đến việc chọn

trồng rau an toàn như: tuổi, kinh nghiệm, tập huấn, trình độ học vấn của người

tham gia trồng rau, giá bán rau tỷ lệ thuận với quyết định trồng rau an toàn. Tuy

nhiên yếu tố tổng chi phí và lợi nhuận mặc dù có ý nghĩa thống kê nhưng ảnh

hưởng rất ít đến quyết định trồng rau an toàn. Ngoài 07 biến số trên có ý nghĩa và

tác động đến quyết định đến việc trồng rau an tồn còn yếu tố diện tích trồng rau

khơng có ý nghĩa thống kê nên khơng ảnh hưởng đến quyết định trồng rau an

tồn.

Kết quả phân tích của nghiên cứu này có tương đồng so với nghiên cứu của

Trần Phan Thương Thảo năm (2014) mà tác giả kế thừa làm mơ hình nghiên cứu

của đề tài. Tuy nhiên do vùng sản xuất khác nhau nên kết quả nghiên cứu biến

dện tích trồng, tổng chí phí trong đề tài của tác giả có khác so với đề tài của Trần

Phan Phương Thảo (2014).

Cũng từ kết quả nghiên cứu tác cũng đưa ra một số giải pháp nhằm phát

triển dện tích trồng rau an tồn trên địa bàn huyện Gò Công Tây như thường

xuyên tập huấn kỹ thuật cho những người tham gia trồng rau, phân tích lợi ích

khi họ tham gia trồng rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap, nâng cấp hệ thống

thủy lợi, đường sá, nhà nước hỗ trợ vốn cho người dân tham gia trồng rau, hỗ trợ

các hợp tác xã, tổ hợp tác tìm đầu ra ổn định cho rau an toàn.



60



5.2 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI:

Bên cạnh những đóng góp về lý thuyết và thực tiễn rút ra được từ kết quả

nghiên cứu, đề tài nghiên cứu này có một số giới hạn và từ đó gợi ý cho các

nghiên cứu tương lai như sau:

Nghiên cứu này chỉ điều tra đến các nông dân trồng rau tại 3 xã huyện Gò

Cơng Tây, tỉnh Tiền Giang nên chỉ có giá trị thực tiễn đối với huyện Gò Cơng

Tây. Vì vậy, hạn chế tính tổng qt hóa của đề tài. Các nghiên cứu tương lai có

thể tăng qui mô mẫu, mở rộng phạm vi khảo sát ở nhiều địa phương trong tỉnh,

trong cả nước để đạt được tính tổng qt hóa cao.

Trong nghiên này chỉ tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết

định chọn trồng rau an tồn trên địa bàn huyện Gò Cơng Tây, chưa đánh giá được

các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của trồng rau an toàn và yếu tố ảnh hưởng tiêu

dùng của rau an toàn trên thị trường hiện nay. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hiệu

quả kinh tế chưa chú ý đến hiệu quả môi trường, xã hội và hiệu quả sản xuất. Đây

cũng là hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết quả nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×