Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vi khuẩn và ký sinh trùng

Vi khuẩn và ký sinh trùng

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



đất từ nơi này sang nơi khác, không thể cải thiện tình trạng đất bạc màu, đất xấu ở

nơi này bằng cách đem đất phì nhiêu, đất tốt ở nơi khác về thay thế. Do đó, biện

pháp phổ biến để tăng năng suất đất là nâng cao hệ số gieo trồng, sử dụng giống có

chất lượng tốt để tăng số lượng và chất lượng của sản phẩm đầu ra, đầu tư trồng

những sản phẩm chất lượng cao và đa dạng hóa trong q trình trồng.

Ngồi ra vùng đất trồng rau an tồn phải trong quy hoạch, khơng bị ảnh

hưởng trực tiếp các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư,

bệnh viện, các lò giết mổ gia súc tập trung, nghĩa trang, đường giao thông lớn;

Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất trước khi trồng và trong q trình trồng

(kiểm tra khi thấy có nguy cơ gây ô nhiễm) không vượt quá ngưỡng cho phép.

Nước tưới Cây trồng sống và phát triển được là nhờ vào chất dinh dưỡng

trong đất được nước hòa tan, từ đó cây sẽ đưa lên ni cây thơng qua bộ rễ. Nước

còn giúp cây trồng vận chuyển các khống chất trong đất, từ đó cây thực hiện q

trình quang hợp tạo nên sự sinh trưởng của cây. Nước tưới đóng vai trò quan trọng

trong sản xuất nơng nghiệp, việc tưới nước đúng lúc, đúng liều lượng cũng góp

phần nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng (Phạm Ngọc Toản 2008). Ngồi

ra, trồng rau an tồn nước tưới khơng được sử dụng nước thải công nghiệp, nước

thải từ các bệnh viện, khu dân cư tập trung, trang trại chăn ni, lò giết mổ gia súc

để tưới trực tiếp cho rau, quả và chè; Hàm lượng một số hoá chất và kim loại nặng

trong nước tưới trước khi trồng và trong q trình trồng (kiểm tra khi thấy có nguy

cơ gây ô nhiễm) không vượt quá ngưỡng cho phép nêu trên. Nước sử dụng trong

trồng rau mầm phải đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt cho người.

Nguồn Lao động Nông nghiệp nguồn lao động trong nơng nghiệp chính

là tồn bộ những người tham gia vào q trình sản xuất nơng nghiệp. Nguồn lao

động nông nghiệp về mặt số lượng lần về chất lượng

Về mặt số lượng bao gồm những người trong độ tuổi lao động (15-60

tuổi đối với nam và 15-55 tuổi đối với nữ) hội đủ các yếu tố thể chất, tâm lý và

một bộ phận dân cư ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất nơng

nghiệp.

Về mặt chất lượng khả năng hồn thành cơng việc trong một thời gian

nhất định, đó cũng chính là năng suất lao động. Chất lượng lao động sẽ tùy thuộc



20



vào tình trạng sức khỏe, trình độ thành thạo của người lao động. Hiện nay muốn

nâng cao chất lượng nguồn lao động thì nguồn lao động đó cần phải được giáo

dục, đào tạo, đây là yếu tố cơ bản để tạo nên sự sáng tạo trong hoạt động nông

nghiệp cũng là yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế.

Vốn trong nơng ngiệp

Vốn trong sản xuất nơng nghiệp là tồn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các

yếu tố nguồn nhân lực trong sản xuất nơng nghiệp. Đó là số tiến dùng để mua

hoặc thuê ruộng đất, đầu tư hệ thống thủy nơng, vườn cây lâu năm, máy móc,

thiết bị, nơng cụ và tiền mua vật tư (phân bón, nơng dược) vốn trong nông nghiệp

được phân thành vốn cố định và vốn lưu động (Đinh Phi Hổ, 2008). Vốn trong

sản xuất nơng nghiệp có đặc điểm tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp và đầu

tư vốn trong nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro vì kết quả sản xuất nơng nghiệp

còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Vốn trong nơng nghiệp được hình thành chủ

yếu từ các nguồn như sau: vốn tích lũy từ bản thân, vốn đầu tư của ngân sách,

vốn vay tín dụng nơng thơn.

Theo Lê Khương Ninh (2011) thu nhập của nơng hộ nước ta còn thấp

nên khơng đủ tích lũy để tái đầu tư, các nguồn vốn tài trợ từ ngân sách rất hạn

chế bởi phải san sẻ cho các khu vực ưu tiên, trong khi nguồn vốn bán chính thức

và phi chính thức lại nhỏ lẻ nên ít được sử dụng cho sản xuất. Do đó, tín dụng

chính thức trở nên hết sức quan trọng đối với nông hộ. Tuy nhiên, thực tế cho

thấy nông hộ gặp khơng ít khó khăn khi vay tín dụng chính thức do các tổ chức

tính dụng thường hạn chế cho vay ở nơng thơn thường hạn chế chi phí giao dịch

và rủi ro cao trong khi người vay lại thiếu tài sản thế chấp và thường gặp bất trắc

khó lường ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ như mất mùa, dịch bệnh, giá nơng

sản bấp bênh.

Giống, Phân bón và thuốc trừ sâu

Lượng phân bón và kỹ thuật bón phân cũng là một trong những yếu tố

quan trọng quyết định nến năng suất của cây trồng.cũng như những loại cây khác,

trong quá trình sinh trưởng và phát triển rau cải cũng cần có nhu cầu nhất định về

lượng phân bón. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hay còn gọi là nơng dược

cũng có vai trò quan trọng trong việc trồng rau cải. Thuốc bảo vệ thực vật là loại



21



chất dùng để diệt trừ các vi sinh vật gây hại, giúp người nông dân giảm bớt các

thiệt hại về mặt sản lượng và chất lượng nông sản. Do đó, phân bón và thuốc trừ

sâu hợp lý sẽ làm giảm nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng về mặt năng suất chất

lượng nhưng ảnh hưởng lớn đến tiêu thu nội địa và xuất khẩu. Theo Ahirwar và

cộng sự (2015), vấn đề bệnh tật và thiếu phân bón ở giai đoạn cây phát triển sẽ làm

cho sản lượng tiềm năng khơng thể đạt được.

Giống, phân bón, thuốc BVTV Trước thực trạng các yếu tố đầu vào cho

bà con trồng có nhiều bất cập. Một là người nông dân phải chịu những chi phí

quá lớn cho các khâu trung gian bao gồm cả đầu vào như giá cả, chất lượng của

giống, phân bón và thuốc BVTV như hiện nay. Việc bà con nông dân bị các đại

lý các đơn vị cung cấp đẩy giá các mặt hàng nói trên lên quá cao điều này sẽ làm

cho giá thành chi phí trồng cao mà giá bán sản phẩm của người nông dân lại thấp

dẫn đến lợi nhuận và ngày công lao động thấp. Hai là chất lượng của các sản

phẩm đầu vào hiện nay vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ bà con dễ mua phải

những sản phẩm chất lượng thấp như giống khơng tốt, phân bón và thuốc trừ sâu

giả hay không được phép của nhà nước vẫn được các cửa hàng đại lý lưu thơng

trên thị trường. Điều này nó đặc biệt ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản

phẩm.

Thông tin về hộ nông dân

Chủ hộ là người trụ cột gia đình, quyết định mọi việc trong gia đình vì thế

độ tuổi và học vấn của chủ hộ có ảnh hưởng đến việc lựa chọn sinh kế của hộ. Học

vấn quyết định lợi thế của mỗi người trong việc tạo ra thu nhập bởi học vấn cao sẽ

dễ tiếp thu, áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất và sử dụng hiệu quả các nguồn lực

khác. Bên cạnh đó học vấn cũng giúp tăng cường khả năng nắm bắt và xử lý thông

tin thị trường để tạo ra cơ hội tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, qua đó làm

tăng thu nhập. Theo Yang (2004) thì học vấn đóng vai trò then chốt đối với sự phát

triển của một cá nhân, tổ chức cũng như quốc gia. Djomo và Sikod (2012) đã

chứng minh học vấn chủ hộ có tác động cùng chiều với thu nhập. Nguyễn Quốc

Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011) cho rằng tuổi của chủ hộ đóng góp tạo ra thu nhập

cho gia đình. Ngồi ra, kinh nghiệm sản xuất, quy mô hộ và tập huấn cũng rất quan

trọng để làm tăng thu nhập hộ. Theo Trần Lợi (2012) thì kinh nghiệm của hộ sẽ



22



làm tăng năng suất trong sản xuất. Trong nghiên cứu của Djomo và Sikod (2012)

cũng khẳng định số năm kinh nghiệm của hộ đồng biến với thu nhập. Theo

Sharma và cộng sự (2007) thì quy mơ hộ sẽ làm tăng thu nhập của hộ.

Yếu tố môi trường và điều kiện thời tiết thời tiết, đối với người nơng dân

hiện nay do trình độ khoa học kỹ thuật còn chưa phát triển nên việc trồng của các

bà con phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết, những năm thời tiết thay đổi như

nắng quá, mưa nhiều sẽ ảnh hưởng rất lớn đến trồng, có năm người nơng dân

trắng tay vì những điều kiện thời tiết

Chính sách hoạch định của cơ quan quản lý nhà nước. Việc định hướng

và chính sách phát triển của các cơ quan quản lý có ảnh hưởng trực tiếp đến

người nơng dân như vẫn thường nói chính sách định hướng của nhà nước “ni

con gì, trồng cây gì”, hiện nay nhà nước vẫn chưa thực sự đóng vai trò là người

dẫn đường chỉ lối cho cho người nơng dân hay nếu có định hướng thì cũng khơng

phát triển bền vững, định hướng trồng cây gì nhưng chưa có yếu tố đầu ra, người

nông dân làm ra không biết bán sản phẩm đi đâu, họ bị thương lái ép giá, nhà

nước chưa có chính sách bảo vệ người dân. Hầu hết người nơng dân đang tự

mình xoay sở do vậy nên họ thường chạy theo xu thế thấy cây gì có hiệu quả bán

được giá thì họ lập tức ồ ạt triển khai trồng theo dẫn đến dư thừa trên thị trường,

hay trong thời gian gần đây vẫn thường nói đến việc nơng dân được mùa thì lại

mất giá. Bởi vậy chính sách của nhà nước và các cơ quan quản lý cần phải có

định hướng để phát triển bền vững để người nông dân yên tâm trồng.

Cơ sở vật chất hạ tầng nhìn chung với ngành nơng nghiệp của Tiền Giang và

cả nước hiện nay về cơ sở hạ tầng ruộng đồng và dụng cụ lao động còn rất thiếu thốn

và lạc hậu, người nông dân chủ yếu làm thủ công nên hiệu quả trong trồng thấp dẫn

đến ngày công lao động không cao. Nguyên nhân trên bởi nhiều lý do nhưng điều đầu

tiên có thể thấy là do tình trạng ruộng đồng manh mún, giao thơng nội đồng chưa phát

triển nên rất khó để đưa dụng cụ máy móc hiện đại vào thay sức lao động của con

người.

Cơng nghệ khoa học kỹ thuật để có chất lượng sản phẩm tốt và hiệu quả

trong trồng thì yếu tố khoa học cộng nghệ sẽ quyết định một phần đến thành bại

trong trồng của người nông dân. Người nông dân có trồng ra được những sản



23



phẩm có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của thị trường thuận hay việc

cạnh tranh với các sản phẩm được nhập khẩu từ các nước có nền khoa học cơng

nghệ tiến tiến. Bởi vậy nếu người nông dân vẫn trồng theo thường họ khơng có

sự thay đổi về cơng nghệ, khơng có được những giống tốt thì họ vẫn chưa thể

thốt khỏi cảnh nghèo khó họ sẽ vẫn phải làm việc cực nhọc chủ yếu bằng sức

lao động mà ngày công thấp không đủ trang trải cuộc sống.

2.2.1.7 Mơ hình chấp nhận cơng nghệ (TAM- Technology Acceptance

Model)

Trồng rau an toàn được xem là mơ hình trồng rau áp dụng những cơng

nghệ mới. Một trong những cơng cụ hữu ích trong việc giải thích ý định chấp

nhận một số sản phẩm mới là mô hình chấp nhận cơng nghệ TAM. Theo Legis

và cộng sự (2003, trích trong Teo., Su Luan, W., & Sing, CC., 2008, tr 266), mơ

hình TAM dự đốn thành cơng khoảng 40% việc sử dụng một hệ thống mới. Lý

thuyết TAM được mơ hình hóa và trình bày ở hình 2.2



Nhận thức sự hữu

ích



Thái độ hướng tới

sử dụng



Ý định sử dụng



Nhận thức tính dễ

sử dụng



Hình 2.2 Mơ hình chấp nhận cơng nghệ

Nguồn: Davis, 1985, Tr.24, trích trongChutter M.Y., 2009, tr 2

Trong đó, Nhận thức sự hữu ích (PU- Perceived Usefulness) là cấp độ mà

cá nhân tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ nâng cao kết quả thu75chie65n

của họ (Davis, 1985, Tr.24, trích trongChutter M.Y., 2009, tr 5). Nhận thức tính

dễ sử dụng (PEU-Perceived Ease of Use) là cấp độ mà một người tin rằng sử

dụng một hệ thống đặc thù sẽ không cần nỗ lực (Davis, 1985, Tr.24, trích

trongChutter M.Y., 2009, tr 5).



24



2.2.1.8. Động lực khuyến khích và yếu tố cản trở trong nông nghiệp

Khái niệm động lực khuyến khích

Động lực khuyến khích là đưa ra động cơ kích thích để hồn thành nhiệm

vụ (Enters và ctv…. 2004). Động lực khuyến khích là việc tạo ra những động cơ

kích thích, hướng người nơng dân chuyển sang canh tác bền vững, nhằm từng

bước đạt được ba mục tiêu về môi trường, hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội

trong một hệ thống canh tác nông nghiệp bền vững.



Trực tiếp



- Nguyên liệu đầu vào (phân, thuốc

BVTV)

- Cơ sở hạ tầng

- Trợ cấp

- Hỗ trợ vay vốn

- Ổn định giá cả



Khuyến khích



Gián tiếp



Ổn định



- Đầu vào nơi cung ứng giá cả

- Phát triển thị trường

- Vốn tín dụng

- Nghiên cứu và phát triển



Thay đổi



- Giá giá đầu vào

và đầu ra

- Giới hạn thương

mại



- Tỷ giá hối đoái.

- Lãi suất

- Thu nhập và

chính sách tiền tệ



Hình 2.3 Phân loại các yếu tố khuyến khích

Nguồn Enters và ctv., 2004



25



Các động lực khuyến khích bao gồm

Khuyến khích tinh thần tức là bằng biện pháp, chương trình, chính sách tác

động vào nhận thức của nơng dân, giúp họ hiểu được vai trò và nghĩa vụ của

mình trong việc cung ứng sản phẩm cho thị trường (Nguồn Enters và ctv., 2004).

Khuyến khích kinh tế tức là các chương trình, chính sách đưa ra phải hấp

dẫn người dân bằng hiện vật, có thể là một khoản tiền tăng thêm hoặc là nhận

được thêm một số vật liệu (giống chất lượng cao, thuốc xử lý, thức ăn, hướng dẫn

của các nhà khoa học) trong quá trình trồng để giảm bớt nỗi lo về rủi ro của mùa

thu hoạch tiếp theo của nông dân.

Yếu tố cản trở

Đối ngược với những yếu tố khuyến khích áp dụng canh tác bền vững là

những yếu tố hay những chương trình, chính sách không hướng nông dân chuyển

sang áp dụng canh tác bền vững được gọi là yếu tố cản trở. Các yếu tố cản trở

chính được thể hiện trong hình 2 dưới đây



Trình độ trồng

Nhân lực

Tập qn trồng



Tăng chi phí

Cản trở



Kinh tế

Giảm sản lượng



Quy mô trồng

Cơ sở hạ tầng



Điều kiện hạ tầng vùng

trồng rau



Hình 2.4 Các yếu tố cản trở

(Nguồn tài liệu tổng hợp)



26



Cản trở kinh tế

Những cản trở về mặt kinh tế đối với nông dân trong việc chấp nhận áp

dụng các biện pháp canh tác nông nghiệp bền vững bao gồm các yếu tố sau: Chi

phí gia tăng (chi phí biến đổi và chi phí cố định) Lao động phải học nhiều lớp tập

huấn hơn, phải lưu trữ hồ sơ của nhiều vụ, sử dụng đầu vào đắt hơn và thân thiện

với môi trường hơn. Giảm sản lượng do giảm sử dụng các hóa chất nơng nghiệp

hoặc sử dụng các kỹ thuật bảo tồn nguồn nước và đất theo hướng bền vững nên

sản lượng thấp hơn cách canh tác thường, đòi hỏi nơng dân phải có tay nghề cao

hơn, buộc họ phải đầu tư thêm để gia tăng kiến thức cho bản thân.

Cản trở về nhân lực

Ngoài những cản trở về mặt kinh tế, người nơng dân còn phải đối đầu với

những cản trở do hạn chế về khả năng nguồn nhân lực trong nơng hộ như: Trình

độ học vấn của người lao động; Độ tuổi của người lao động cũng ảnh hưởng đến việc

chuyển đổi mơ hình canh tác. Nông dân không chấp nhận rủi ro do không chắc

chắn về mức sản lượng trong tương lai. Nông dân khơng có quen lưu trữ tài liệu

về lượng, loại thuốc, phân bón sau mỗi mùa vụ, điều này khơng phù hợp với u

cầu của mơ hình mới.

Cơ sở hạ tầng Thiếu cơ sở hạ tầng để kiểm tra dư lượng hóa chất trong sản

phẩm.

2.2.2. Các chỉ tiêu kinh tế

2.2.2.1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt

động sản xuất. Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẳn có phục vụ cho

lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động sản

xuất. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất

xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng. Yêu

cầu của công tác quản lý sản xuất đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt

động sản xuất làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế (Ngô Quang Trung,

2006).

Bất kỳ ngành sản xuất kinh doanh nào muốn tồn tại và phát triển, vấn đề

hiệu quả kinh tế phải được đặt lên hàng đầu. Qua mỗi thời kỳ sản xuất phải phân



27



tích, tìm ra những ưu điểm, tồn tại, có hướng khắc phục tổ chức sản xuất trong

chu kỳ sản xuất tiếp theo (Trần Hoàng Kim và Lê Thu, 1992).

Xuất phát từ nhiều gốc độ nghiên cứu khác nhau, nhiều nhà kinh tế đưa ra

nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:

Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả

đạt được trong hoạt động kinh tế. Ngày nay, quan điểm này khơng còn phù hợp,

bởi vì cùng một kết quả sản xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì theo quan

điểm này chúng có cùng một hiệu quả.

Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng

trưởng sản phẩm xã hội hoặc nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao. Quan điểm

này xem ra cũng chưa được thỏa đáng vì nếu trường hợp chi phí hoặc nguồn lực

được sử dụng tăng nhanh thì rất bất hợp lý.

Quan điểm thứ ba Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm

chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức độ tăng khối lượng kết quả hữu

ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm

lợi ích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân.

Có rất nhiểu quan điểm về hiệu quả kinh tế như nêu trên, tuy nhiên việc

xác định khái niệm hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất cần xuất phát từ luận

điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn Hiệu quả

kinh tế là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu ra và đầu vào, là lợi ích lớn nhất thu

được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất.

2.2.2.2. Các khái niệm liên quan đề tài

Doanh thu là tổng số tiền thu được khi bán sản phẩm ra thị trường.

Lợi nhuận là hiệu số của doanh thu trừ chi phí (Guell, 2008).

Tổng chi phí là tất cả các khoản đầu tư mà nông dân bỏ ra trong quá trình

trồng và thu hoạch; bao gồm định phí (chi phí khấu hao tài sản cố định), biến phí

(chuẩn bị đất, nhiên liệu, năng lượng dùng trong trồng, chi chăm sóc, phí thu

hoạch), và chi phí cơ hội (chi lao động gia đình, lãi suất ngân hàng, thuê đất)

Lao động gia đình và lao động thuê là số ngày công lao động mà người

sản xuất trực tiếp trồng bỏ ra để chăm sóc cây trồng hay vật ni. Lao động gia



28



đình và lao động th được tính bằng đơn vị ngày cơng (mỗi ngày cơng được

tính 8 giờ lao động).

2.2.2.3. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế

Khái niệm hiệu quả

Hiệu quả là khả năng đạt được mục tiêu đề ra. Hiệu quả kinh tế liên quan chi

phí để đạt được mục tiêu đề ra, hoặc là kết quả đạt được với chi phí cho trước. Hiệu

quả mơi trường liên quan đến môi trường và sức khỏe cộng đồng (Adger và cộng sự,

2003).

Hiệu quả kỹ thuật là mức sản lượng tối đa có thể đạt được ở mức chi phí

nguồn lực nhất định trong điều kiện có nhiều công nghệ, kỹ thuật trồng khác

nhau. Hiệu quả phân phối đề cập đến sự điều chỉnh các nguồn lực và sản lượng

để phản ánh các giá cả liên quan và kỹ thuật trồng đã được chọn. Hiệu quả kinh

tế là khi đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối (Ellis, 1988).

Phân tích lợi ích chi phí

Theo Frances Perkins (1994) CBA là phân tích mở rộng của phân tích tài

chính, được sử dụng chủ yếu bởi các Chính phủ và cơ quan quốc tế để xem xét

dự án hay chính sách có làm tăng phúc lợi cơng cộng hay khơng.

Boardman (2001) cũng giải thích CBA là một phương pháp đánh giá

chính sách, trong đó giá trị của tất cả các kết quả chính sách đối với mọi thành

viên trong xã hội nói chung được lượng hóa bằng tiền. Lợi ích xã hội ròng là

thước đo giá trị của chính sách.

Như vậy, có thể hiểu CBA là một phương pháp thường được tiến hành để

so sách chi phí và lợi ích của nơng hộ. Làm căn cứ cho việc phân bổ nguồn lực

của nơng hộ một cách có hiệu quả. Điểm mạnh của phương pháp nầy là giúp cho

các nơng hộ, nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách trong việc quyết định sử dụng

nguồn lực có hiệu quả nhất. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp nầy là một số vấn

đề khơng thể lượng hố bằng tiền nên việc ước lượng so sánh tương đối khó khăn.

Vì vậy, trong q trình phân tích chúng ta sẽ đưa ra một số giả định phù hợp với

thực trạng nghiên cứu của đề tài.

Các chỉ tiêu đo lường mức độ hiệu quả kinh tế

Tỉ suất doanh thu trên chi phí (DT/CP) = doanh thu/Chi phí tỷ số nầy phản ánh

một đồng chi phí đầu tư thì chủ đầu tư sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu. Nếu chỉ



29



số nầy nhỏ hơn một thì trồng bị lỗ, bằng 1 hồ vốn và lớn hơn một là có lợi nhuận. Tỉ

suất này càng lớn càng mang lại hiệu quả kinh tế cho nơng dân.

Tỉ suất Lợi nhuận trên chi phí (LN/CP) = Lợi nhuận/Chi phí tỷ số nầy

phản ánh 01 đồng chi phí bỏ ra đầu tư trồng thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi

nhuận. Nếu tỷ số nầy là số dương thì người trồng có lợi, chỉ số nầy càng lớn càng

tốt.

Tỉ suất Lợi nhuận trên doanh thu (LN/TN) = Lợi nhuận/doanh thu thể

hiện 01 đồng thu nhập thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận, nó phản ánh mức lợi

nhuận so với doanh thu.

Tóm tắt chương 2

Bắt đầu từ định nghĩa các khái niệm quan trọng, Chương 2 đã tổng hợp

các nghiên cứu trước và ý kiến các chuyên gia để hình thành mơ hình lý thuyết

cho nghiên cứu gồm các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định trồng rau an toàn theo

tiêu chuẩn VietGap và cũng xác định hai động lực lực khuyến khích, ba yếu tố

cản trở người dân tham gia trồng rau an toàn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vi khuẩn và ký sinh trùng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×