Tải bản đầy đủ - 33 (trang)
Đội ngũ ông chức hành chính trung ương và cán bộ chính quyền cơ sở:

Đội ngũ ông chức hành chính trung ương và cán bộ chính quyền cơ sở:

Tải bản đầy đủ - 33trang

Đội ngũ CB đảng
Xuất thân công nhân
Trình độ lý luận chính trò
Trình độ chuyên môn
CĐ-ĐH Quản lý kinh
tế Quản lý nhà
nước 1. Cấp tỉnh,
thành phố: - BCH
- Thường vụ - Bí thư
- P. Bí thư 2. cấp huyện:
- BCH - Bí thư
-Phó bí thư 2,2
5,9 11,7
6,1
4,6 4,9
4,1 79,3
85,4 89,3
86,8
29,3 69,4
65,6 65
61,5 75
50
39,3 44,2
47,1 32,2
31,5 55
-
14,6 29,4
24,1 27,3
36,3 45
-
16,6 40,6
39,1
Nguồn: Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước”- NXB chính trò quốc gia,
2002. Theo sách dẫn trên, ở cấp cơ sở, trong cả nước có trên 10.000 Bí thư
đảng ủy xã, phường và thò trấn: trình độ lý luận cao cấp 8 và trung cấp 58,3, trình độ văn hóa cấp I chỉ chiếm 8, và cấp II là 41,8, trình độ
chuyên môn trung cấp là 11,8 và cao đẳng đại học trở lên là 6, đã học qua lớp quản lý nhà nước 20,2 và lớp quản lý kinh tế 6,9.

2. Đội ngũ ông chức hành chính trung ương và cán bộ chính quyền cơ sở:


Nước ta có bốn cấp chính quyền: Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện và cấp xã, phường, cán bộ chính quyền các cấp từ
trung ương chính phủ tới huyện, quận đều nằm trong số lượng công chức hành chính. Số lượng này trong cả nước có 197.897, trong đó Trung ương:
94.747 và đòa phương: 103.150.
Theo thống kê của 18 cơ quan trung ương gồm có bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ và 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vào
tháng 3-1998 cho thấy trong tổng số 61.656 người từ chuyên viên trở lên chia ra như sau:
Chuyên viên cao cấp: 701 người Chuyên viên chính: 10.725 người
Chuyên viên: 50.230 người Sự phân bố chuyên viên trên không đều ở Trung ương với đòa phương.
các đòa phương, chuyên viên cấp cao rất ít, chỉ chiếm 0,49 số chuyên viên của ở đây nhưng ở khối trung ương thì chuyên viên cao cấp chiếm tới
2,12.
27
Số cán bộ từ cấp cục, vụ, viện, viện phó trở lên tới cấp thứ trưởng: 1.248 người.
Số cán bộ từ CT.UBND và HĐND quận, huyện, giám đốc, phó giám đốc các sở, ban ngành đến CT.UBND và HĐND tỉnh 2.460 người.
Về trình độ văn hóa chuyên môn nghiệp vụ: trên đại học 2,77, đại học 72,56, trung cấp 21,41 còn lại là sơ cấp 3,26. Riêng ở đòa phương,
cán bộ công chức khối trung ương có trình độ trên đại học 4,15, khối đòa phương 1,87, khối trung ương có đại học 73,45, khối đòa phương 71,03,
sơ cấp: khối trung ương 0,07, khối đòa phương 3,63.
Về lý luận chính trò: cao cấp có 6,19, trung cấp: 32,76. Về ngoại ngữ: trong số 61.656 cán bộ nói trên, công chức từ chuyên
viên trở lên có 34,61 có trình độ ngoại ngữ từ A đến C, trong đó A: 18, B : 10,01 và C:6,2.
Về tin học, ứng dụng vào quản lý hành chính nhà nước: trong số cán bộ, công chức nói trên có trang bò về tin học 24,78, trong đó thành thạo
5,35 và số thành thạo ở khối trung ương cao hơn có 11,77, còn khối đòa phương 1,16.
Cán bộ chính quyền ở cấp cơ sở xã, phương, thò trấn: cả nước ta có trên 10 vạn xã, phường, thò trấn với 218.666 đại biểu HĐND 1994 – 1999.
Trong số đại biểu trên: 26.064 người 11,92 có trình độ văn hóa cấp II, 77.954 người 35,65 có trình độ văn hóa cấp III và 7.850 người
3,59 có trình độ đại học. Phần lớn đại biểu HĐND cấp cơ sở tại các tah2nh phố, khu vực
đồng bằng có trình độ văn hóa cấp II, cấp III, số đại biểu có trình độ đại học chiếm tỷ lệ đáng kể, trong khi tại các tỉnh miền núi, phần lớn các đại biểu
chỉ có trình độ văn hóa cấp I và II.
Tháng 12-1997, cuộc khảo sát và điều tra 45 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho thấy, trong số 55.350 cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở các
đòa phương gồm có chủ tòch, phó chủ tòch UBND,HĐND và 4 chức danh chuyên môn: cán bộ đòa chính, tư pháp, tài chính, kế toán và văn phòng
UBND có trình độ văn hóa và chuyên môn như sau:
Về trình độ văn hóa: 28.455 người 51,41 đạt trình độ cấp III, 22.961 người 41,45 có trình độ cấp II và 3.934 người 7,11 ở trình độ
cấp I. Về lý luận chính trò: 12.631 người 22,79 có trình độ sơ cấp, 15.175
người 27,41 có trình độ trung cấp, 939 người 1,69 trình độ cao cấp và số còn lại chưa được đào tạo nhưng được bồi dưỡng ngắn ngày.
Về trình độ chuyên môn: 37.077 người 66,98 chưa được đào tạo nhưng có 3,78 có trình độ đại học và số còn lại là trung cấp và sơ cấp.
28
Về kiến thức quản lý nhà nước: trong số 55.350 người có 32.150 người 58,10 chưa được bồi dưỡng, số được bồi dưỡng ngắn hạn 1 tháng chiếm
tỷ lệ 29,95, còn lớp bồi dưỡng 6 tháng chỉ có 3,56.
3. Đội ngũ cán bộ mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân: Số cán bộ mặt trận và các đoàn thể như dân như công đoàn, nông
hội, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh ở trung ương, tỉnh và quận, huyện có khoảng 30.781 người, trong đó chủ tòch và phó chủ tòch chiếm tới 804 người,
ngoài ra còn cán bộ thuộc các đoàn thể xã hội khác như hội liên hiệp kho học kỹ thuật, liên hiệp hội văn học, nghệ thuật, hội nhà báo, hội chữ thập đõ, hội
làm vườn, hội nuôi ong, hội người mù, hội người cao tuổi, hội người tàn tật, hội khuyến học, các liên đoàn và hội thể thao, các hội hòa bình hữu nghò, các
hội đoàn tôn giáo… tuy chưa thống kê được nhưng chiếm một số lượng lớn tới hàng ngàn người.
Số cán bộ mặt trận và 5 đoàn thể nhân dân ở các xã, phường trong cả nước đã có tới gần 5 vạn người.
Về trình độ văn hóa, lý luận chính trò, nghiệp vụ chuyên môn, tuy chưa thống kê được hết nhưng trong số lượng cán bộ là chủ tòch, phó chủ tòch
của mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở trung ương và cấp tỉnh co thấy có 70 có trình độ lý luận chính trò cao cấp 22,5 đã học quản lý kinh tế, 65
có trình độ đại học. Dối với cán bộ khác thuộc các đoàn thể nhân dân này ở cấp tỉnh và quận, huyện có trên 39 đạt trình độ đại học và cao đẳng.
4. Đội ngũ cán bộ doanh nghiệp nhà nước: Mặc dù chưa có con số bằng thống kê chính thức về số lượng doanh
nghiệp nhà nước đến thời điểm này nhưng theo thống kê của vài năm vừa qua, số lượng doanh nghiệp nhà nước có khoảng 6.000 sau khi đã thực hiện
chủ trương sắp xếp lại của chính phủ. Do đó, số lượng giám đốc và phó giám đốc có thể tới 2 – 3 lần hơn số này tức vào khoảng 15.000 còn cán bộ cấp
trưởng phòng, ban cũng có tới 5 – 6 lần lớn hơn số lượng doanh nghiệp, tức vào khoảng 30.000.
Hầu hết các giám đốc, phó giám đốc doanh nghiệp đều có trình độ đại học trở lên, một số có trình độ chuyên môn cao thuộc các ngành sản xuất,
chế biến trong hệ thống kinh tế, có khoảng 40 – 50 có trình độ lý luận chính trò cao cấp, có ngoại ngữ nhưng nói chung không thành thạo. Có
khoảng 30 – 40 có trình độ quản lý nhà nước về kinh tế. Đa số cán bộ cấp phòng, ban đều có trình độ cao đẳng- đại học về chuyên ngành và ngoại ngữ
tương đối đọc, dòch và nói được.
Theo đánh giá chung, đội ngũ giám đốc doanh nghiệp nhà nước đã thể hiện tính năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với điều kiện mới, chủ
động nắm bắt những yêu cầu của cơ chế thò trường, tranh thủ thời cơ khai
29
thác thò trường, tạo công ăn việc làm và tăng thêm thu nhập cho doanh nghiệp. Nhưng có không ít giám đốc do hệ thống đào tạo kiểu cũ nay chuyển
sang cơ chế mới gặp không ít bất cập trước yêu cầu mới. Những kiến thức về thò trường, về kinh doanh… chưa được chuyển tải kòp thời đầy đủ cho đội ngũ
làm công tác quản trò kinh doanh. Một số giám đốc tuy có trong tay một hai bằng đại học nhưng thực tế vẫn chưa làm tốt công tác quản lý và sản xuất,
không đủ khả năng nắm bắt và tiếp cận được những tiến bộ của khoa học công nghệ, chưa chú trọng tới việc nâng cao trình độ công nghệ trong doanh
nghiệp của mình, hoặc có thì không phù hợp và còn khá bỡ ngỡ trước những hoạt động kinh oanh của cơ chế thò trường. Trong làm ăn với nước ngoài,
nhiều người chưa nắm bắt được thông lệ quốc tế, thiếu tri thức kinh doanh hiện đại, văn minh.
5. Đội ngũ tri thức chuyên gia và cán bộ quản lý khoa học: Tính đến năm 1999, nước ta có trên 1 triệu người tốt nghiệp cao đẳng
và đại học trở lên chưa kể ngành quản trò kinh doanh, trong đó có hơn 10 ngàn thạc só, 11.718 tiến só, hơn 800 giáo sư, 3.000 phó giáo sư theo báo cáo
của văn phòng TW Đảng, tháng 9-1999. Giáo sư Phạm Minh Hạc, trong cuộc phỏng vấn dành cho báo Saigon giải phóng số ra ngày 2952002, cho
biết hiện nay trong cả nước có trên 200 trường đại học, cao đẳng với 32.000 giảng viên và hơn 100 viện nghiên cứu với hơn 20.000 cán bộ nghiên cứu.
Tính đến tháng 51002, thống kê được 927 giáo sư và 3.419 phó giáo sư.
Theo bằng cấp, nếu coi tri thức là trình độ học vấn trên đại học tức có bằng thạc só trở lên thì nước ta đội ngũ này chỉ mới chiếm 12 trong tổng số
tri thức nói trên, còn phân loại theo các ngành khoa học thì trí thức làm việc trong các cơ quan hành chính- sự nghiệp chiếm tới 67,3, trong số này có
27,6 hoạt động ở các cơ quan đảng, đoàn thể, còn ở các ngành sản xuất kinh doanh chỉ có 32,7.
- về nguồn nhân lực hoạt động kinh tế thường xuyên: Theo tài liệu thống kê” thực trạng lao động- việc làm ở Việt Nam” do
NXB thống kê phát hành năm 2000, số người đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên đã qua đào tạo chia theo nghề đào tạo và trình độ
chuyên môn kỹ thuật của cả nước ở hai khu vực thành thò và nông thôn như sau:
30
TỔNG SỐ THÀNH THỊ NÔNG THÔN
Nghề đào tạo
Từ đủ 15 tuổi trở lên
Trong độ tuổi lao
động Từ đủ 15
tuổi trở lên Trong độ
tuổi lao động
Từ đủ 15 tuổi trở lên
Trong độ tuổi lao
động
1.dạy nghề 1.768.161
1.722.177 996.149
971.754 722.012
750.783 2.Trung học
chuyên nghiệp
1.592.127 1.527.797
741.443 716.704
850.684 12.093
3. Cao đẳng 335.544 328.610
148.561 146.162
186.983 182.448
4. Đại học 9520505
932.707 770.505
757.816 182.000
174.891 5. Thạc só
9.306 9.076
8.178 7.948
1.112 1.128
6.Tiến só 7.398
6.508 7.153
6.262 245
245 7. Ngành
đào tạo khác
192 192
192 192
Cộng 4.669.045
4.532.177 2.674.675
2.609.293 1.914.570
1.922.884
- Về nguồn nhân lực chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật: Đây là lực lượng công nhân lao động trong cả nước ở hai khu vực
thành thò và nông thôn có độ tuổi từ 15 trở lên được phân chia thành 3 lao5i: không có chuyên môn kỹ thuật CMKT, có trình độ tay nghề từ cấp SC
trở lên và từ công nhân kỹ thuật CNKT có bằng cấp trở lên thống kê qua 5 năm liền từ 1996 tới năm 2000.
Naêm 1996 Naêm 1997
Naêm 1998 Naêm 1999 Naêm 2000
A. Khu vực thành thò - Không có CMKT
- Có tay nghề SC trở lên
- Từ CMKT có bằng trở lên
B. Khu vực nông thôn -Không có CMKT
- Có tay nghề SC trở lên - Từ CMKT có bằng trở
lên 7.160.120
4.898.449 2.261.671
1.684.030 28.027.141
25.956.089 2.070.052
1.305.220 7.853.149
5.323.594 2.529.555
1.482.934 27.735.311
25.677.870 2.057.441
1.260.397 8.211.710
5.512.442 2.699.266
2.050.544 28.367.885
26.616.208 2.201.679
1.449.711 8.420.405
5.548.275 2.872.120
2.389.953 29.363.426
26.978.056 2.385.370
1.576.860 8.725.118
5.514.086 3.211.912
2.666.743 29.917.091
27.154.749 2.762.342
1.847.956
Nguồn: số liệu thống kê lao động việc làm ở VN 199 – 2000. Nhìn chung, nguồn nhân lực từ 15 tuổi trở lên gồm cả ba nhóm đều
tăng nhanh qua các năn. cả hai khu vực, nhóm người lao động không có tay nghề lúc nào cũng cao hơn hai nhóm sau theo thứ tự l2 lao động có tay nghề
thấp từ sơ cấp không qua đào tạo hoặc chỉ được bồi dưỡng tay nghề ngắn ngày từ 3 tháng tới 1 năm do các trung tâm dạy nghề quận, huyện tổ chức và
được đánh giá theo thực tế việc làm trở lên và công nhân kỹ thuật có bằng
31
cấp trung cấp do các trường trung học dạy nghề của ngành, tỉnh thành phố tổ chức và được công nhận là bậc ba khởi điểm khi ra trường.
nông thôn theo số liệu trên chúng ta nhận thấy lực lượng công nhân lao động nói chung nhiều hơn thành thò gấp 25,55 năm 1996 nhưng tới 5
năm sau 2000 tăng lên 29,16, trong đó không có tay nghề chiếm 92,6 1996 tới năm 2000 giảm còn 90,76. Sự giảm sút lao động không có tay
nghề ở nông thôn cho thấy có sự di cư của dòng lao động này ra thành thò.
Tình trạng này cho thấy đội ngũ công nhân lao động đang làm việc ở các ngành trong nền kinh tế nước ta rất đông về số lượng nhưng rất yếu kém
về tay nghề chuyên môn kỹ thuật, do đó có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng lao động, nhất là ở nông thôn.
Lao động nông thôn đa số trong khu vực nông nghiệp là một yếu tố sản xuất quan trọng được hợp thành bởi toàn bộ những người tham gia vào
sản xuất nông nghiệp. Lao động nông nghiệp bao gồm những nông dân và ngoài nông dân sống ở nông thôn ở độ tuổi lao động theo bộ luật lao động qui
đònh nam từ 16 – 60, nữ từ 16 – 55 và một bộ phận ngoài tuổi lao động, thấp hơn 16 tuổi và cao hơn tuổi 60, lao động trong nông nghiệp ngoài đặc tính về
số lượng còn có chất lượng – một đặc tính rất quan trọng. Qui mô lao động phần lớn tùy thuộc vào nguồn nhân lực. Chất lượng lao động được biểu hiện
ở sức khỏe, trình độ học thức, kỹ năng chuyên môn, năng suất và kinh nghiệm…
Việc tham gia của lao động nông nghiệp vào hoạt động nông nghiệp hiện nay được phân chia thành hai giai đoạn:

1. Giai đoạn bắt đầu công nghiệp hóa: đây là giai đoạn chuyển tiếp


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đội ngũ ông chức hành chính trung ương và cán bộ chính quyền cơ sở:

Tải bản đầy đủ ngay(33 tr)

×