Tải bản đầy đủ - 27 (trang)
Ngơn ngữ miêu tả hồ vào ngơn ngữ đối thoại, độc thoại. Sự phức tạp của hệ lời.

Ngơn ngữ miêu tả hồ vào ngơn ngữ đối thoại, độc thoại. Sự phức tạp của hệ lời.

Tải bản đầy đủ - 27trang

đường, người đi tìm chân lí của nhà văn đã bị mờ nhồ, thay vào đó là hình ảnh một nhà văn tham dự, đứng ngang hàng với nhân vật để đối thoại với bạn đọc.

4. Ngôn ngữ trần thuật đa thanh.


Barktin đã viết ngôn ngữ trong tiểu thuyết mang tính biện chứng và nhiều lời, giống như lòng của con sơng, nơi mọi thứ ý nghĩa, hình ảnh, dụng ý và gợi ý
đều lẩn lộn vào nhau và vẩn lên mặt nước. Lời nhận xét ấy rất xác đáng với tác
phẩm này của Hồ Anh Thái. Nét đặc sắc của ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết này chính là sự pha trộn của các hệ lời.

4.1. Ngơn ngữ miêu tả hồ vào ngơn ngữ đối thoại, độc thoại.


Trong tác phẩm này, ngôn ngữ miêu tả và ngôn ngữ đối thoại, độc thoại hồ trong nhau, khơng có sự gián cách. Một số những đoạn tiêu biểu trong tác
phẩm này như Ngon không? Chủ tay vào đĩa thịt chó, Ơ gút gút 35, 2 Hay Bà già vẫn liên tục nhầm chìa khố, rủng rẻng thì có tiếng một thằng bé. Bà ơi, chú
ấy đi rồi, vừa đi xong, Bà già ngừng tay, không tiếp tục nỗ lực mở cửa nữa., Mày thấy chú ấy đi rồi à. vâng cháy thấy 39,2. Những đoạn xâm nhập loại ngôn ngữ
như vậy xuất hiện đậm đặc trong tác phẩm. Lời trần thuật và lời nhân vật hoà lẫn vào nhau. Điều đặc biệt là đối thoại tuy không phân vai cụ thể nhưng người đọc
vẫn có thể phân biệt dễ dàng lời thoại của nhân vật trong tác phẩm. Dường như sự lơ gíc giữa hệ lời và điểm cá thể của ngôn ngữ nhân vật đã tạo nên những
phép chuyển dịch đối thoại trong tác phẩm mà không cần đến lời chỉ dẫn, phân vai thơng thường.
Khơng chỉ có lời đối thoại, cả những dòng độc thoại nội tâm của nhân vật cũng hồ vào ngơn ngữ trần thuật. Ngày thứ năm và ngày thứ sáu thì bắt đầu
ngộ. Ta có thể vắng. Ta có thể chết hẳn. Và mọi việc dù hệ trọng đến đâu cũng có thể làm mà khơng có ta 38,2. Ngơn ngữ trần thuật không chỉ mang ý nghĩa là
lời kể, dẫn dắt câu chuyện mà còn là lời của chính nhân vật được đề cập đến.
21
Điều này cũng đồng nghĩa với việc xoá nhoà ranh giới giữa người kể chuyện và nhân vật trong chuyện, tất cả đều cùng một vị trí trong truyện kể.
Sự hồ trộn còn thể hiện sự gia tăng tốc độ của ngôn ngữ. Ngôn ngữ thoại giữa các nhân vật liền mạch với nhau thể hiện tốc độ trao đổi ngôn ngữ nhanh và
gọn. Hầu như nhân vật không phải xưng danh và cũng không dùng những đại từ để trao đổi. Người đọc khi theo dõi những đoạn thoại lẫn trong đoạn trần thuật
cảm nhận rất rõ những cuộc trao đổi chớp nhoáng, chỉ chú trọng lấy thơng tin mà nhẹ phần bộc lộ thái độ, tình cảm. Nó thể hiện rõ nhịp sống hiện đại gấp gáp và
thực dụng.

4.2. Sự phức tạp của hệ lời.


Hồ Anh Thái đã sử dụng hầu hết các hệ lời trong xã hội để đưa vào tác phẩm: ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ thị dân, ngôn ngữ chuyên ngành, ngôn
ngữ Việt và cả tiếng Anh được Việt hoá. Điều đáng chú ý trong tác phẩm này là ngôn ngữ đời sống, ngơn ngữ thị dân chiếm vị trí áp đảo các ngôn ngữ khác.
Ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ đời sống là hai đường tròn đồng tâm có sự qui tụ gặp gỡ nhưng cũng có sự gián cách. Các nhà văn hiện đại rất chú ý đưa
ngôn ngữ cuộc sống vào tác phẩm tạo tính chân thực rõ nét của tác phẩm. Hồ Anh Thái chọn ngôn ngữ thị dân làm điểm nhấn trong trang viết của mình.
Những từ ngữ như: điên lắm, khỉ thật, khơng xong rồi… xuất hiện với tần suất lớn trong lời đối thoại. Thêm vào đó, cấu trúc câu trong tác phẩm cũng có xu
hướng thị dân hố, mới chỉ cách đây dăm năm thôi, Cách đây dăm năm chị
chưa lây được ông Vip, tuổi ba mươi tư chưa một lần lấy chồng bị xem là gái già. Khách khứa đến nhà chơi hỏi bao giờ lập gia đình, để mặc cho mẹ trả lời 46,2.
Hay Chịu. Chịu tức là khơng thua nhưng mặc kệ. Chán chẳng bn nói. Từ nay anh ả muốn làm gì tuỳ ý 67,2 nàng chẳng ghen đời nàng giai hơi bị sẵn, hét
22
giai này có giai khác 77,2. Điều đáng chú ý là nếu như nhà văn đi trước như Vũ Trọng Phụng hay Nguyên Hồng sử dụng kiểu ngôn ngữ này để nêu lên đặc
điểm của tầng lớp dưới thì Hồ Anh Thái lại dùng kiểu ngôn ngữ thị dân để phản ánh những nhân vật thuộc tầng lớp trí thức, nghệ sĩ. Đó là một phương cách giễu
nhại. Điều này xuất phát từ quan điểm của nhà văn. Trong lần trả lời báo Thể thao và Văn hoá, số 3 năm 2005, nhà văn đã nhấn mạnh: tơi thích nhại giọng thị
dân, đúng hơn là giọng điệu kiểu thị dân bới vì hầu nhưu người ta đang bê nguyên lối sống tiểu thị dân và quê mùa vào đô thị. Từ sự cảm nhận và quan sát
của mình, nhà văn đã thể hiện cách đánh giá về con người trong cuộc sống, đánh
giá theo tiêu chí mà mình lực chọn, qua vị trí văn hố trong xã hội mà qua bản chất văn hố.
Cũng sẽ rất lí thú khi ta làm một phép so sánh sơ lược giữa ngôn ngữ trần
thuật trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài với tác phẩm này. Sự khác biệt rõ nét nhất là sự đối lập của ngôn ngữ nhiều tầng bậc, thuật ngữ trong Thiên sứ và
ngôn ngữ thị dân giản đơn trong Mười lẻ một đêm. Nhưng dù phân li thành hai
đối cực như vậy những xét về bản chất thì cả hai loại ngơn ngữ trần thuật này đều thể hiện xu thế hiện đại hố ngơn ngữ kể chuyện. Phạm Thị Hoài đi theo con
đường sử dụng lối ngơn ngữ biểu tượng, nhiều tầng bậc thể hiện tính đa thanh, nhiều liên tưởng đậm chất phương Tây. Còn Hồ Anh Thái thì xố mờ ranh giới
ngơn ngữ văn chương và cuộc sống, tạo ra một lối ngôn ngữ dễ hiểu gần với ngơn ngữ báo chí, thể hiện rõ xu hướng đơn giản hoá, rõ ràng và mạch lạc hố
của ngơn ngữ thời đại mới. Hiểu theo nghĩa này, đó là một cách nhà văn đối thoại trở lại với tiểu thuyết truyền thống, thể nghiệm một lối văn khác biệt, đậm
dấu ấn cá nhân.
23

4.3. Sự gia tăng của ngôn ngữ nhại.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ngơn ngữ miêu tả hồ vào ngơn ngữ đối thoại, độc thoại. Sự phức tạp của hệ lời.

Tải bản đầy đủ ngay(27 tr)

×