Tải bản đầy đủ - 45 (trang)
Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm năm 2002 của Công ty :

Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm năm 2002 của Công ty :

Tải bản đầy đủ - 45trang

1.2 Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm năm 2002 của Công ty :


Trong năm 2002, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm giầy các loại đợc lập nh sau :
Biểu số 1
- Tại cột Tên sản phẩm cho thấy kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của Công ty trong năm 2002 đợc lập chi tiết cho mặt hàng giầy tiêu thụ nội địa
và mặt hàng giầy xuất khẩu bao gồm nhiều loại : Giầy nội địa : Giầy bata
Giầy xuất khÈu : CVO, JTS, VEMA. - Hai cét sè lỵng Tiêu thụ 2001 và Doanh thu tiêu thụ 2001 đợc
tổng hợp từ các sổ sách, chứng từ báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của Công ty trong năm 2001.
- Cột số lợng Kế hoạch 2002 dự kiến số sản phẩm tiêu thụ trong năm 2002 đợc lập trên cơ sở căn cứ vào đơn đặt hàng, hợp đồng tiêu thụ sản
phẩm đã ký kết, kết hợp với việc dự đoán nhu cầu thị trờng năm kế hoạch và kết quả công tác tiêu thụ sản phẩm năm 2001.
- Cột Đơn giá bình quân kế hoạch là giá bình quân của từng loại sản phẩm đợc Công ty căn cứ vào giá năm trớc và kết quả của việc nghiên
cứu thị trờng nh tình hình biến động của nguyên vật liệu, tình hình cung cầu...để tính cho năm sau.
- Cột Doanh thu dự kiến 2002 đợc xác định bằng cách nhân số l- ợng sản phẩm kế hoạch năm 2002 với đơn giá bình quân kế hoạch của từng
loại. - Số Doanh thu tiêu thơ 2001 “ vµ “ Doanh thu dù kiÕn 2002 không
phản ánh toàn bộ số doanh thu của Công ty đã đạt trong năm 2001 cũng nh dự kiến sẽ đạt trong năm 2002, mà chỉ phản ánh một phần của doanh thu
tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
Ngoài kế hoạch tiêu thụ sản phẩm đợc lập chung cho cả năm, Công ty còn tiến hành lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm cho từng quý để cụ thể hoá
hơn nữa hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở Công ty nhằm đêm lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm đợc lập khá chi tiết.
Ta lấy đơn cử kế hoạch tiêu thụ quý IV năm 2002-đây là quý dự kiến có tốc độ tiêu thụ sản phẩm khá mạnh trong năm.
Ta thấy rằng, từ số lợng sản phẩm dự kiến tiêu thụ trong quý IV của năm 2002, Công ty sẽ chia ra số lợng sản phẩm tiêu thụ hàng tháng. Nhng
không phải tháng nào Công ty cũng dự kiến tiêu thụ đợc tất cả các mặt hàng mà có tháng sẽ không có một hoặc một vài sản phẩm nào đó dợc tiêu
thụ đặc biệt đối với giầy xuất khẩu. Bởi vì khi Công ty lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là dựa trên các đơn đặt hàng của nớc ngoài, do vậy sẽ có những
mặt hàng phía nớc ngoài sẽ không đặt trong một vài tháng. Công ty phải lập kế hoạch sát nh vậy nhằm phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất thật
chính xác, phù hợp với tình hình tiêu thụ thực tế, tránh tình trạng sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ đợc. Và cũng chính dựa trên các đơn đặt hàng và
dự kiến tiêu thụ từng loại giầy tại các thời điểm khác nhau trong quý thông qua tình hình thực tế năm trớc, nghiên cứu và dự đoán tình hình tiêu thụ
25
cho năm tới. Công ty đã lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm cho các tháng trong quý là không đều nhau.
Qua công tác lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của Công ty Da giầy Hà nội ta có thể rút ra một số nhận xét sau:
Nét đặc biệt trong kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của Công ty là không tính đến số sản phẩm kết d đầu kỳ và cuối kỳ. Nghiên cứu bở do đặc điểm
tiêu thụ sản phẩm của Công ty chủ yếu là theo đơn đặt hàng của khách, số lợng khách mua lẻ sản phẩm không lớn lắm cho nên số sản phẩm tồn kho
hầu nh chiếm một tỷ trọng nhỏ, không đáng kể so với khối lợng sản xuất.
Phơng pháp lập kế hoạch của Công ty rất cụ thể, chi tiết cho từng tháng, từng quý phù hợp với đặc điểm của Công ty, thuận lợi cho công tác
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Công ty đã lập kế hoạch tiêu thụ dựa trên tình hình tiêu thụ thực tế năm trớc và dự đoán nhu cầu năm nay và nhu cầu
tại thời điểm trong năm nhằm đạt tới sự trùng khớp giữa sản xuất và tiêu thụ, giữa kế hoạch tiêu thụ với tình hình thực tế.
Trong kế hoạch tiêu thụ sản phẩm 2002 của Công ty, doanh thu dự kiến sẽ đạt 14.312.000.000đ tăng 7.127.099.000đ so với năm 2001. Tỷ lệ
tăng là 199,19. Ta thấy doanh thu dự kiến năm 2002 tăng lên so với năm 2001 chủ
yếu là do một số nguyên nhân cơ bản sau: Đơn đặt hàng tăng lên làm cho số lợng sản phẩm tiêu thụ tăng lên
dẫn đến tăng doanh thu tiêu thụ các loại sản phẩm. Hơn nữa, số lợng sản phẩm dự kiến tiêu thụ trong năm 2002 tại thị trờng nội địa tăng lên fn so
với năm 2001 cũng làm cho doanh thu tiêu thụ tăng lên.
Cụ thể: Loại giầy bata tăng từ 25.800 đôi năm 2001 lên 35.000 đôinăm
2002, tức là tăng tiêu thụ 9.200 đôi. Loại giầy CVO tăng từ 143.200 đôi năm 2001 lên 200.000 đôinăm
2002, tức là tăng tiêu thụ 56.800 đôi. Loại giầy VEMA tăng từ 137.673 đôi năm 2001 lên 190.000 đôi
năm 2002, tức là tăng tiêu thụ 52.327 đôi. Và ta thấy lợng tiêu thụ năm 2002 của Công ty tăng cũng bắt nguồn từ
một loại sản phẩm mới đợc đa vào sản xuất theo đơn đặt hàng của nớc ngoài, đó là loại giầy JTS dự kiến năm 2002, Công ty sẽ tiêu thụ đợc hơn
100.000 đôi.
Về giá cả tính cho một đơn vị sản phẩm tiêu thụ: Nhìn chung, giá cả của sản phẩm giầy các loại có biến động so với thực tế năm 2001 nhng sự
biến động là không đáng kể. Công ty đã dự kiến giá bán sản phẩm các loại có tăng hơn năm 2001 một chút. Công ty đã dự trên giá bán của năm trớc
và dự đoán tình hình biến động của thị trờng năm nay để đặt giá sản phẩm kỳ kế hoạch. Việc dự kiến giá bán sản phẩm tăng cũng góp phần làm cho
doanh thu tiêu thụ kỳ kế hoạch tăng lên.
Về kết cấu sản phẩm tiêu thụ: Biểu số 3
Biểu 3 : So sánh kết cấu tiêu thụ giầy kế hoạch 2002
26
so với thực tế 2001
Tên sản phẩm
Thực tế 2001 Kế hoạch 2002
Số lợng đôi Tỷ lệ
Số lợng đôi
Tỷ lệ
- Giầy nội địa Giầy bata
25.800 8,4
35.000 6,67
- Giầy xuất khÈu CVO
143.200 46,7
200.000 38,09
JTS 100.000
19,04 VEMA
137.673 44,9
190.000 36,2
Tæng céng 306.673
100,0 525.000
100,0
Công ty vẫn tập trung vào việc sản xuất và tiêu thụ các loại sản phẩm giầy đang đợc a chuộng trong và ngoài nớc. Thêm vào đó, Công ty có đa ra
thị trờng ngoài nớc một loại sản phẩm mới theo đơn đặt hàng và loại sản phẩm này còng chiÕm mét tû träng kh«ng nhá trong tỉng sè sản phẩm tiêu
thụ năm 2002.
Chính vì vậy, kết cấu sản phẩm tiêu thụ năm 2002 không giống năm 2001. Điều này cũng tác động làm cho doanh thu tiêu thụ sản phẩm của
Công ty thay đổi so với năm 2001. Dới sự tác động tổng hợp ba nhân tố: số lợng, kết cấu, giá cả sản phẩm
kỳ kế hoạch 2002 so víi kú thùc tÕ 2001 ®É dÉn ®Õn kÕt quả doanh thu tiêu thụ dự kiến trong năm 2002 tăng lên. Công tác lập kế hoạch của Công ty
nhìn chung mang tính khả thi cao tuy nhiên vẫn còn một số nhợc điểm sau: Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm mới chỉ dựa vào các hợp đồng đợc ký kết, cha
quan tâm đến việc mở rộng thị trờng tiêu thụ nên mặc dù kế hoạch sản xuất và tiêu thụ là rất sát nhau, nhng cha phát huy đợc vai trò của mình, kém
sáng tạo nhiều khi không nghiên cứu các yếu tố cạnh tranh dẫn đến tình trạng nắm bắt thông tin về cung của thị trờng không đợc chính xác. Đó
là một vài yếu điểm trong công tác lập kế hoạch ở Công ty. Muốn đi tìm hiểu rõ hơn về công tác thực hiện kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
nh thế nào cần nghiên cứu tình hình tt của Công ty trong năm 2002.
2 Tình hình tiêu thụ sản phẩm và nhiều biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở Công ty Da giầy Hà nội trong năm 2002:
2.1 Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở Công ty: Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trờng, Công ty Da
giầy Hà nội đã từng bớc đi lên để khẳng định vị trí và uy tín của mình. Xuất phát từ tình hình cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp sản xuất giầy
trên thị trờng, Công ty Da giầy Hà nội đã nhận thức đợc rằng, cạnh tranh về chất lợng sản phẩm là vấn đề cần quan tâm hàng đầu. Do đó, Công ty luôn
chú trọng đến việc nâng cao chất lợng sản phẩm từ khâu nhập nguyên vật liệu chất lợng cao để dda vào sản xuất cho đến khâu sản xuất luôn cố gắng
đảm bảo đúng kỹ thuật. Bên cạnh đó, Công ty đã áp dụng một số biện pháp khác để giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm đợc diễn ra nhanh chóng, thuận lợi
27
hơn. Do nhân thức đợc hiệu quả của những biện pháp tài chính và một số biện pháp khác, Công ty đã nghiên cứu và phân tích đánh giá tình hình tiêu
thụ của mình để từ đó đa ra những biện pháp thích hợp nhất đối với tình hình tiêu thụ hiện tại. Cụ thể là các biện pháp:
Thứ nhất: Các biện pháp tài chính Trong nền kinh tế thị trờng, uy tín và chất lợng sản phẩm luôn là
những yếu tố quan trọng chinh phục khách hàng. Công ty Da giầy Hà nội với bề dầy năng lực kinh nghiệm sản xuất đã sử dụng một số biện pháp tài
chính kinh tế khá linh hoạt và hiệu quả nhằm đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm trong năm 2002.
Giá cả hàng hoá: Nh nhiều doanh nghiệp sản xuất khác, Công ty áp
dụng hình thức giảm giá đối với những khách hàng tiêu thụ khối lợng sản phẩm lớn, do đó từ trớc đến nay số lợng khách hàng mua buôn của Công ty
chiếm tỷ lề rất cao, là nguồn tiêu thụ quan trọng giúp Công ty đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra, tuỳ thuộc vào thị trờng tiêu thụ mà
doanh nghiệp có thể tăng giá bán khi thấy cầu về tiêu thụ sản phẩm của Công ty tăng lên. Qua đó có thể thấy việc tăng giảm giá bán sản phẩm của
Công ty là rất hợp lý biểu hiện sự năng động, sáng tạo, linh hoạt trong công tác sản xuất kinh doanh của Công ty góp phần nâng cao doanh thu, đẩy
mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm.
Chiết khấu bán hàng: Cùng với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ
sản phẩm, Công ty đã sử dụng chiết khấu bán hàng để khuyến khích khách hàng rút ngắn thời gian thanh toán tiền hàng, giúp Công ty nâng cao tỷ lệ
doanh thu trả tiền ngay, hạ thấp doanh thu trả tiền chậm, hạn chế đợc số khách hàng nợ nần làm cho quá trình tiêu thụ sản phẩm diễn ra nhanh hơn.
Đa dạng hoá các hình thức thanh toán: Nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho khách hàng, Công ty vận dụng nhiều hình thøc thanh to¸n kh¸c nhau nh thanh to¸n b»ng tiỊn mặt, séc...Trờng hợp khách hàng thanh toán ngay
bằng tiền mặt thì kế toán lập chứng từ ban đầu là phiếu thu tiền. Phiếu thu tiền còn gọi là chứng từ chứng minh cho việc thanh toán bằng ngân phiếu.
Phiếu thu tiền đợc lập thành ba liên: một liên giao cho khách, một liên nộp cho phòng Tài vụ và một liên lu. Còn nếu khách hàng thanh toán bằng
séc thờng là séc bảo chi hoặc séc chuyển khoản thì số séc đó đợc phòng Tài vụ nộp vào tài khoản của Công ty ở ngân hàng ngoại thơng thành phố
HN.
Hàng tháng, quý phòng kế toán đối chiếu công nợ, gửi giấy báo đòi nợ đến khách hàng. Mọi số nợ quá hạn đều phải chịu lãi suất theo lãi suất vay
vốn ngân hàng. Những quy định và phơng pháp thực hiện trren vừa tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quan hệ mua bán với Công ty, vừa đảm
bảo an toàn cho tài sản, tiền vốn.
Bên cạnh những biện pháp tài chính nêu trên, Công ty còn sử dơng mét sè chÝnh s¸ch kh¸c nh: hoa hång cho đại lý ký gửi, giảm giá...nhằm
đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên muốn phát huy đầy đủ tác
28
dụng của các đòn bẩy đó, Công ty còn phải khắc phục những tồn tại, chấn chỉnh đổi mới kịp thời mới đảm bảo duy trì tốc độ tiêu thụ sản phẩm.
Ngoài những biện pháp trên, Công ty còn tiến hành cải tiến phơng thức bán hàng nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty
nói chung và trong năm 2002 nói riêng. Thứ hai: Hoàn thiện phơng thức bán hàng
Nhằm hoàn thiện và đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm cũng nh đáp ứng đợc tối đa nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng cho mọi khách
hàng thuộc mọi đối tợng với số lợng không hạn chế, Công ty tiến hành mở rộng, đa dạng hoá các phơng thức bán hàng.
Để có thể tiêu thụ một số lợng sản phẩm lớn, Công ty phải có các hợp đồng đợc ký kết, các đơn đặt hàng. Do Công ty luôn có các khách hàng th-
ờng xuyên và lâu dài nên hàng năm Công ty đều có thời điểm thoả thuận công việc một cách thích hợp vì hợp đồng phải đợc ký kết theo quy định
của Công ty.
Tiêu thụ hàng hoá ở Công ty đợc tiến hành theo ba phơng thức bán hàng đó là bán buôn, bán lẻ và bán đại lý. Nghiệp vụ bán lẻ thực hiện tại
cửa hàng, đại lý của Công ty. Với hàng hoá bán buôn, Công ty chỉ thực hiện phơng thức bán buôn qua kho với chứng từ ban đầu kiêm phiếu xuất
kho là chứng từ bán hàng duy nhất có giá trị làm căn cứ cho việc hạch toán nghiệp vụ bán buôn. Công tác bán buôn do phòng nghiệp vụ đảm nhận,
cuối tháng gửi chứng từ lên phòng Tài vụ Công ty để phòng lên nhật ký chứng từ.
Việc theo dõi công tác tiêu thụ sản phẩm: Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu theo dõi việc tiêu thụ sản phẩm ra nớc ngoài, phòng tiêu thụ theo
dõi việc tiêu thụ sản phẩm trong nớc và phòng Tài vụ theo dõi chung dựa trên các chứng từ do hai phòng kia chuyển sang. Từng loại sản phẩm đợc
theo dõi trên sổ chi tiết riêng, kế toán tiêu thụ sản phẩm căn cứ vào các hoá đơn phiếu xuất kho phát sinh trong tháng để lập sổ. Công ty cũng thực hiện
việc theo dõi tổng hợp tình hình tiêu thụ sản phẩm theo từng tháng, từng quý. Cuối mỗi quý, phòng Tài vụ lại tập hợp các kết quả tiêu thụ theo các
chỉ tiêu số lợng, số tiền chi tiết cho từng loại sản phẩm.
Hiện nay, Công ty có một mạng lới các cửa hàng giới thiệu, bán sản phẩm giầy và kinh doanh tổng hợp. Hàng tháng các cửa hàng chỉ cần báo
cáo doanh thu lên Công ty và thực hiện các nghĩa vụ giao nộp theo định mức Công ty quy định. Tuy tổ chức hạch toán kinh doanh nội bộ nhng các
cửa hàng này vẫn là các đơn vị thuộc khối thơng nghiệp của Công ty. Tận dụng lợi thế về địa điểm các cửa hàng đã phát huy tối đa khả năng kinh
doanh của mình, đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, vừa là nơi quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và nắm bắt nhu cầu thị trờng một cáhc nhanh chóng,
chính xác, từ đó định hớng sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn.
Về cơ bản phơng thức bán hàng của Công ty tạo điều kiện cho khách tham quan và tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Việc tiêu thụ sản phẩm của
Công ty còn phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ bán hàng của các đại lý và ngời
29
bán lẻ sản phẩm của Công ty. Nếu họ tiêu thụ nahnh sẽ sớm tiêu thụ đợt hàng mới cho Công ty còn nếu tiêu thụ chậm thì khó có thể xác định họ sẽ
đến tiêu thụ đợt tiếp vào lúc nào nên nhiều khi Công ty rất khó khăn trong việc xác định và kiểm soát tốc độ tiêu thụ sản phẩm.
Khó khăn hạn chế còn nhiều, để đánh giá chính xác hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty phải đi vào phân tích cụ thể tình hình tiêu thụ sản
phẩm trong năm 2002 so với kế hoạch đặt ra để thấy rõ tác động tích cực của các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm mà Công ty áp dụng và rút
ra những kết luận chính xác.

2.2 Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm: a


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm năm 2002 của Công ty :

Tải bản đầy đủ ngay(45 tr)

×