Tải bản đầy đủ - 45 (trang)
Mở rộng mạng l ới phân phối sản phẩm: Quảng cáo: Một số biện pháp Marketing khác:

Mở rộng mạng l ới phân phối sản phẩm: Quảng cáo: Một số biện pháp Marketing khác:

Tải bản đầy đủ - 45trang

Trớc sự ảnh hởng to lớn của giá bán sản phẩm đến việc tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp đã sử dụng giá cả hàng hoá rất linh hoạt. Mỗi
doanh nghiệp có thể định giá theo cách riêng của mình. Khi một mặt hàng mới đợc đa ra thị trờng mà doanh nghiệp cha có đối thủ cạnh tranh thì
doanh nghiệp có thể bán với giá cao nhng đến khi trên thị trờng xuất hiện sản phẩm cùng loại thì doanh nghiệp lại hạ thấp giá bán để đẩy nhanh tốc
độ tiêu thụ sản phẩm, nhanh chóng thu hồi vốn. Nhiều khi sản phẩm đa ra thị trờng không còn mới lạ nhng vì lý do nào đó khiến nhu cầu tăng vọt lên,
lúc đó doanh nghiệp có thể tăng giá bán rất cao mà vẫn tiêu thụ đợc sản phẩm một cách mạnh mẽ. Ngợc lại, do cung lớn hơn cầu hoặc vì lý do nào
đó khiến việc tiêu thụ tạm thời chậm lại vì vậy doanh nghiệp cũng lại nhanh chóng hạ thấp giá bán.
Việc giảm giá trong tiêu thụ sản phẩm cũng đợc các doanh nghiệp rất chú trọng, có nhiều hình thức giảm giá: giảm giá trong trờng hợp khách
hàng mua một khối lợng sản phẩm hoặc với khách hàng mua thờng xuyên; giảm giá theo khối lợng sản phẩm; giảm giá nhằm thu hồi vốn đối với
những sản phẩm đã tồn kho cha tiêu thụ đợc; giảm giá trong kỳ ngắn hạn.
Ngoài hình thức giảm giá hàng bán, doanh nghiệp còn áp dụng phơng thức chiết khấu bán hàng để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Chiết khấu bán
hàng là việc doanh nghiệp khấu trừ cho khách hàng một số tiền tơng ứng với một tỷ lệ phần trăm nhất định tính trên trị giá số hàng hoá đã mua của
doanh nghiệp nhằm khuyến khích những khách hàng thanh toán nhanh trớc thời hạn. Lµm nh vËy doanh nghiƯp cã thĨ thu håi vèn nhanh đa vào tái sản
xuất.
Việc sử dụng chiết khấu bán hàng cũng là một biện pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm. Có những tỷ lệ chiết khấu
thích hợp sẽ hấp dẫn đợc khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp nh vậy tiêu thụ mới thuận lợi và nhanh chóng thu hồi đồng vốn đã bỏ vào
sản xuất.

4.4 Mở rộng mạng l ới phân phối sản phẩm:


Để tiêu thụ đợc nhiều sản phẩm, các doanh nghiệp luôn chú trọng đến công tác mở rộng mạng lới phân phối sản phẩm. Các doanh nghiệp không
chỉ bán hàng tại kho của mình, tại cửa hàng của doanh nghiệp mà còn phải tìm cách mở rộng thị trờng. Để thực hiện đợc mục tiêu này, các doanh
nghiệp đã thiết lập các chi nhánh bán hàng ở các tỉnh, thành phố khác nhau. Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu thị trờng doanh nghiệp đã thiết lập
một mạng lới đại lý tiêu thụ rộng khắp nhằm đa đợc sản phẩm tới tay ngời tiêu dùng ở mọi tỉnh, thành phố...Ngoài ra nhiều doanh nghiệp còn tiến
hành ký gửi sản phẩm tại nhiều cửa hàng khác nhau. Do vậy nhờ áp dụng hình thức bán hàng thông qua đại lý và các cửa hàng ký gửi, doanh nghiệp
không những mở rộng thị trờng tiêu thụ mà còn có thể tiết kiệm đợc nhiều chi phí khác mà vẫn chiếm lĩnh thị trờng.

4.5 Quảng cáo:


12
Doanh nghiệp nào cũng nhận thấy trong cơ chế thị trờng hiện nay, việc quảng cáo bán hàng có ý nghĩa rất lớn. Do vậy, quảng cáo bán hàng đã
trở thành một hoạt động quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp thực hiện quảng cáo để đa tin tức đến
ngời tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp, giải thích lợi ích của mặt hàng này và so sánh u thế của nó với những mặt hàng tơng tự. Các quảng
cáo bán hàng mà doanh nghiệp sử dụng thờng cô đọng, dễ nhớ đặc biệt là phải gây đợc ấn tợng cho ngời tiêu dùng. Thông qua đó ngời tiêu dùng sẽ
chú ý đến sản phẩm của doanh nghiƯp vµ nh vËy doanh nghiƯp sÏ cã thĨ tiêu thụ đợc nhiều sản phẩm hơn.

4.6 Một số biện pháp Marketing khác:


Hiện nay trong cơ chế thị trờng cạnh tranh gay gắt các doanh nghiệp rất chú trọng đến việc tiến hành các biện pháp marketing khác nhau để đẩy
mạnh việc tiêu thụ sản phẩm của mình. Chẳng hạn việc bán sản phẩm cho khách hàng thì phải đảm nhận dịch vụ vận tải, vận chuyển cho khách hàng
với một khối lợng sản phẩm lớn, hoặc trong trờng hợp mua ít thì chỉ đợc giảm giá cớc phí hoặc phải chịu tiền cớc phí. Ngoài ra doanh nghiệp còn áp
dụng các hình thức khuyến mại bán hàng vào các dịp khai trơng, ngày lễ, tết...hoặc các hình thức tặng quà kèm theo khi mua sản phẩm của doanh
nghiệp.
Thêm vào ®ã, nhiỊu doanh nghiƯp cßn thùc hiƯn viƯc quay sỉ xố, vé tham gia dự thởng và các hình thức tài trợ giải thởng cho các cuộc thi lớn,
thu hút nhiều khán giả trong và ngoài nớc tham dự nhằm mục đích quảng cáo cho hãng và sản phẩm của hãng. Điều này hoàn toàn hấp dẫn khách
hàng và với khách hàng có nhu cầu nhng cha có ý định mua thì sẽ cố gắng mua vào dịp này để có đợc cơ may và lúc đó doanh nghiệp đã thành công
trong tiêu thụ sản phẩm.
Ngoài ra, các doanh nghiệp còn sử dụng phơng pháp phát sản phẩm dùng thử, biếu tặng sản phẩm nh các hãng mỹ phẩm và các hãng sản xuất
hàng tiêu dùng nhỏ khác. Tuy nhiên, việc sử dụng biện pháp nào cho có hiệu quả và phù hợp thì
doanh nghiệp phải phân tích, đánh giá đúng tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, nghiên cứu kỹ tình hình thị trờng, các đối thủ cạnh tranh
trên cơ sở đó đề ra những giải pháp tối u cho việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm.
II Sự cần thiết và vai trò của công tác tài chính đối với việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm:
1 Sự cần thiết của hoạt động tiêu thụ sản phẩm: Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối của quá trình sản xuất nhng nhiều
khi là khâu quyết định. Các doanh nghiệp chỉ sau khi tiêu thụ đợc sản phẩm mới có thể thu hồi đợc vốn để tiếp tục quá trình tái sản xuất kinh doanh.
Tiêu thụ sản phẩm bảo đảm quá trình sản xuất đợc liên tục là điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội.
13
Sản phẩm đợc tiêu thụ tức là đợc ngời tiêu dùng chấp nhận. Sức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện chất lợng sản phẩm, uy tín doanh
nghiệp, sự hợp lý hoá các dây chuyền công nghệ, sự thích ứng với nhu cầu ngời tiêu dùng và sự hoàn thiện các hoạt động dịch vụ...Nói cách khác tiêu
thụ sản phẩm phản ánh khá đầy đủ điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm gắn ngời sản xuất với ngời tiêu dùng, giúp ngời sản xuất hiểu thêm về sản phẩm của mình và các thông tin về nhu
cầu thị trờng, khách hàng, từ đó có biện pháp làm cho sản phẩm thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngời tiêu dùng.
Tiêu thụ sản phẩm trở thành căn cứ quan trọng để doanh nghiệp lập kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý về thời gian, số lợng, chất lợng, tìm cách
phát huy thế mạnh và hạn chế những điểm yếu của mình. Với ngời tiêu dùng, tiêu thụ sản phẩm giúp cho họ thoả mãn về nhu cầu hàng hoá vì sản
phẩm hàng hoá có đến tay ngời tiêu dùng hay không là tuỳ thuộc vào hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Xét trên giác độ vĩ mô, nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất với những cân bằng, những quan hệ tỷ lệ nhất định. Sản phẩm sản xuất ra đợc
tiêu thụ tức là sản xuất xã hội đợc diễn ra một cách bình thờng, trôi chẩy, tránh đợc những mất cân đối, đảm bảo ổn định xã hội.
Trong điều kiện nên kinh tế thị trờng, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, việc tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự sống còn của
các đơn vị sản xuất kinh doanh. Tiêu thụ sản phẩm - đó là sự cần thiết hết sức khách quan.
2 Vai trò của công tác tài chính đối với việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm:
Tiêu thụ sản phẩm trong nỊn kinh tÕ thÞ trêng hiƯn nay cã vai trò to lớn, mang tính chất sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. Do vậy, mỗi doanh
nghiệp đều không ngừng tìm mọi biện pháp để đẩy nhanh tiêu thụ sản phẩm. Mọi nỗ lực cố gắng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đều đợc
đánh giá, thể hiện qua khả năng và hiệu quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Công tác tiêu thụ sản phẩm có những vai trò rất quan trọng, đó là:
- Làm tốt công tác tiêu thụ sản phẩm sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển cân đối, đáp ứng nhu cầu xã hội. Ngợc lại sản phẩm không
tiêu thụ đợc sẽ làm cho sản xuất ngừng trệ, sản phẩm không có giá trị sử dụng.
- Việc đảm bảo chất lợng sản phẩm, giá cả hợp lý của sản phẩm là những vấn đề vô cùng quan trọng quyết định đến công tác tiêu thụ sản
phẩm nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung. Vì vậy doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu thị trờng về cung cầu hàng hoá, giá cả,
đối thủ cạnh tranh...đồng thời không ngừng cải tiến công nghệ sản xuất, đầu t chiều sâu để nâng cao chất lợng sản phẩm và hạ giá bán. Trên ý nghĩa
đó, tiêu thụ sản phẩm đợc coi là một biện pháp để điều tiết sản xuất, định h- ớng cho sản xuất, là tiêu chuẩn để đánh giá quá trình tổ chức sản xuất, cải
tiến công nghệ.
14
- Việc tổ chức hợp lý hoá khoa học quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ giảm tới mức thấp nhất các loại chi phí, góp phần làm giảm giá thành tới
tay ngời tiêu dùng, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên th- ơng trờng.
- Tiêu thụ sản phẩm góp phần củng cố vị trí, thế lực của doanh nghiệp, nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng thông qua sản phẩm
có chất lợng tốt, giá cả phải chăng, phơng thức giao dịch mua bán thuận tiện, dịch vụ bán hàng tốt...giúp doanh nghiệp thành công trên thơng trờng.
Thực hiện tốt các khâu của quá trình tiêu thụ giúp cho doanh nghiệp có thể tiêu thụ đợc khối lợng sản phẩm lớn và lôi cuốn thêm khách hàng, không
ngừng mở rộng thị trờng.
- Làm tốt công tác tiêu thụ sản phẩm là động lực thúc đẩy sản xuất và là yếu tố tăng nhanh vòng vốn sản xuất kinh doanh.
- Thông qua tiêu thụ sản phÈm, ta thÊy r»ng trong nỊn kinh tÕ thÞ trêng cạnh tranh gay gắt hiện nay, các doanh nghiệp không chỉ thực hiện tái sản
xuất giản đơn mà còn phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất của mình, tăng cờng đầu t theo chiều sâu, mở rộng quy mô
theo hớng đi mới...muốn có đợc điều đó doanh nghiệp phải làm thế nào để thu đợc nhiều lợi nhuận. Vậy phải làm để thu đợc nhiều lợi nhuận? Vấn đề
này chỉ có thể đợc giải đáp khi doanh nghiệp tìm mọi cách để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và có lãi vì hoạt động này góp phần rất quan trọng trong
việc nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nh vậy, tiêu thụ sản phẩm đã góp phần vào việc thực hiện tái sản xuất mở rộng.
- Tăng tiêu thụ sản phẩm có lãi sẽ làm tăng lợi nhuận, do đó doanh nghiệp sẽ có nguồn tài chính để thiết lập các quĩ của doanh nghiệp. Nh vậy,
đây là điều kiện để tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên, tăng thêm các hoạt động phúc lợi của doanh nghiệp nhằm cải thiện và nâng cao điều kiện
làm việc, sinh hoạt cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.
Tóm lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trờng nói chung và nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần nói riêng, các doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh gay gắt với nhau để có khả năng tồn tại và phát triển. Chính vì vậy,
việc làm thế nào để tiêu thụ đợc số sản phẩm đã sản xuất ra là một vấn đề hết sức bức xúc, nó mang tính chất sống còn đối với mỗi doanh nghiệp.
Tiêu thụ sản phẩm tốt sẽ mang lại hiệu quả to lớn và ngợc lại doanh nghiệp sẽ không tồn tại đợc. Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích để nhận thức đúng
đắn vấn đề tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp nói chung và trong thời gian thực tập tại Công ty Da giầy Hà nội, em xin trình bày một số nét về
tình hình tiêu thụ giầy và một số giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm ở Công ty.
Chơng 2: Tình hình tiêu thụ ở Công ty Da giầy Hà nội.
I Tình hình và đặc điểm hoạt động kinh doanh ở Công ty Da giầy Hà nội:
15
1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty Da giầy Hà nội: 1.1 Lịch sử hình thành phát triển:
Công ty Da giầy Hà nội ngày nay tiền thân là nhà máy da Thụy Khuê do một nhà t bản Pháp đầu t xây dựng năm 1912 theo thiết kế của Pháp với
nhiệm vụ sản xuất da thuộc, các sản phẩm chế biến từ da phục vụ cho các ngành công nghiệp đặc biệt là phục vụ cho cuộc chiến tranh của thực dân
Pháp.
Từ khi thành lập cho đến nay nhà máy đã trải qua quá trình hình thành phát triển khá dài có một số thay đổi trong nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
cũng nh tên gọi và cơ quan chủ quản. -Từ năm 1912-1954, một t bản đã đầu t vào ngành thuộc da và thành
lập công ty thuộc da Đông Dơng- một công ty thuộc da lớn nhất Đông D- ơng thời đó. Nhiệm vụ sản xuất thời kỳ này là sản xuất ra sản phẩm phục vụ
cho chiến tranh nh bao súng, bao đạn, thắt lng...Lúc này quy mô hoạt động của công ty còn nhỏ, lao động thủ công là chủ yếu. Máy móc đợc đa từ
Pháp sang, điều kiện lao động thì ẩm ớt, độc hạị...Sản lợng đạt khoảng 5000 - 6000 da 1năm.
-Giai đoạn từ 1954 -1960, Công ty thuộc da Đông dơng nhợng lại cho t sản Việt Nam. Sau đó Nhà nớc quốc hữu hoá một phần chuyển thành xí
nghiệp công ty hợp doanh lấy tên là Công ty thuộc da VN . -Giai đoạn từ 1960 - 1987, C«ng ty thc da ViƯt Nam tõ mét c«ng ty
hợp doanh mang tên mới Nhà máy da Thụy Khuê trực thuộc công ty tạp phẩm của Bộ công nghiệp nhẹ. Trong giai đoạn này Công ty đã hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ cung cấp da công nghiệp phục vụ các ngành công nghiệp trong nớc. Đây là giai đoạn phát triển nhất của công ty. Số lợng công nhân
lúc này lên tới 600 ngời, sản lợng tăng vọt từ 5,3 tỷ năm 1986 lên tới 6,7 tỷ năm 1987, tỷ lệ tăng trung bình 25. Công ty luôn hoàn thành kế hoạch từ
5- 31 năm.
- Giai đoạn từ 1989 - 1990, khi nhận thấy ngành da giầy có những nét đặc trng riêng và có triển vọng, Nhà nớc đã cho phép nhà máy da Thụy
Khuê đợc tách khỏi công ty tạp phẩm và thành lập liên hiệp da giầy với nhiệm vụ tập trung vào công nghiệp da giầy, cung cấp đầy đủ NVL cho các
công ty giầy, sản xuất thêm các mặt hàng tiêu dùng bán ra thị trờng.
- Giai đoạn từ 1990- 1992, cùng với sự thay đổi của cơ chế quản lý Nhà nớc mô hình liên hiệp không còn thích hợp nữa, Nhà nớc cho phép tất
cả các doanh nghiệp thuộc liên hiệp tách ra hoạt động độc lập. Nhà máy da Thụy Khuê tách ra khỏi Liên hiệp da giầy trực thuộc Bộ công nghiệp nhẹ
và xuất nhập khẩu trực tiếp.
- Đến tháng 12 1992 Nhà máy da Thuỵ Khuê đợc đổi tên thành Công ty da giầy Hà nội theo QĐ số 1310 CNN- TC ngày 17121992 của Bộ tr-
ởng Bộ công nghiệp nhẹ kèm theo điều lệ của Công ty. - Giai đoạn 1993 - nay: theo quyết định số 338 CNN TC ngày
294 1993 Bộ trởng Bộ công nghiệp nhẹ ra quyết định thành lập lại Công ty lấy tên:
16
Tên doanh nghiệp: Công ty da giầy Hà Nội . Tên giao dÞch quèc tÕ: HALEXIM viÕt t¾t cđa Ha Noi Leather
products and foot wear production and export import company. Từ tháng 61996 Công ty trở thành thành viên của Tổng Công ty da
giầy Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất cũng nh tăng sản lợng năm 1997 công ty đã đa vào một dây chuyền thuộc da hoàn chỉnh và một số
thiết bị nhập từ Italia vào lắp đặt. Lúc này sản lợng của công ty đã tăng lên: - Sản lợng da cứng 25- 32 tấnnăm.
- Sản lợng da mềm 450.000 hanăm. - Keo CN 25 tấn năm.
Một số chỉ tiêu công ty đã đạt đợc trong những năm gần đây:
stt chỉ tiêu
đvt 1999
2000 2001
1 2
3 4
5
6 Giá trị tổng sản lợng
Doanh thu Nộp ngân sách
Lợi nhuận thực hiện Vốn kinh doanh :
Vốn cố định Vốn lu động
Thu nhập bình quân CNV tỷ
- -
- -
- -
1000
đ
9,2 8,76
0,788 2,012
15,324 11,035
4,289 500
11,9 10,1235
0,912499 2,105
19,005 12,018
6,987 550
15,3 11,019
0,93758 3,623
21,712071 14,320
7,39 580
1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý, quy trình công nghệ của Công ty a Đặc điểm quy trình công nghệ:
Hiện nay công ty đang tập trung vào 2 mặt hàng truyền thống đó là da cứng, da mềm và sản phẩm mới, sản phẩm giầy vải. Mỗi một loại sản phẩm
đều có một quy trình công nghệ riêng. Quy trình công nghệ giầy vải ở Công ty Da giầy Hà Nội là một quy trình công nghệ sản xuất kiểu đơn giản.
Sản phẩm giầy vải là kết quả của nhiều công đoạn. Nguyên vật liệu chính để sản xuất giầy vải là vải và cao su. Thời gian đa nguyên vật liệu vào sản
xuất nhanh hơn, nhập kho hàng ngày.
các bớc quy trình công nghệ giầy vải
17
Vải Cao su
Cách luyện
May Chặt mảnh
b Đặc điểm tổ chức sản xuất: Để phù hợp với quy trình công nghệ sản xuất 3 loại sản phẩm Công ty
tổ chức 4 phân xởng và 1 xởng giầy vải với những nhiệm vụ cụ thể:
- Phân xởng da keo: Đây là phân xởng sản xuất chính. Nguyên vật
liệu chính đa vào sản xuất là các loại da trâu, bò tơi hoặc da muối, vật liệu sử dụng là các hoá chất. Sản phẩm của phân xởng là các loại da cứng, da
mềm, keo công nghiệp.
- Phân xởng chế biến I: Chế biến các mặt hàng đồ da phục vụ công
nghiệp dệt nh gông, takê, dây cu roa...và một số khác phục vụ cho quốc phòng nh dây đeo, bao súng, bao đạn... Nguyên vật liệu chính của phân x-
ởng này là da cứng, da mềm lấy tõ ph©n xëng da keo.
- Ph©n xëng chÕ biÕn II: Từ nguyên liệu là da mềm, da cứng do phân
xởng da keo cung cấp.Phân xởng chế biến ra các sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng dân dụng và quốc phòng: đóng giầy, máy găng.
-Phân xởng cơ khí: Đây là phân xởng sản xuất phụ có nhiệm vụ cung
cấp lao vụ cho các phân xởng chính đồng thời tận dụng các loại phế liệu phế phẩm để sản xuất ra các sản phẩm cung cấp cho thị trờng. Cã 3 bé
phËn: Bé phËn c¬ khí, bộ phận mộc nề, tổ nồi hơi.
- Xởng giầy: Bao gồm các bộ phận cắt may, gò ráp và hoàn thiện. Nguyên vật liệu chủ yếu của xởng giầy là vải và cao su.
mối quan hệ giữa các phân xởng theo sơ đồ sau:
Bộ phận cơ khí Cơ khí
Mộc nề Nồi hơi
18
Chuẩn bị gò
Gò ráp Hấp
Cắt riềm, dán kín, sỏ dây
Hoàn tất sản phẩm
Sản phẩm giầy
Kiểm nghiệm
Nhập kho
c Đặc điểm tổ chức quản lý của doanh nghiệp: Là một đơn vị hạch toán độc lập, có đầy đủ t cách pháp nhân trực
thuộc Tổng công ty Da giầy Việt Nam, Công ty Da giầy Hà Nội tổ chức theo quy mô hình trực tuyến chức năng. Ban giám đốc trực tiếp điều hành
quản lý, bên cạnh đó công ty còn thực hiện cơ chế khoán đến từng phân x- ởng để giải quyết công ăn việc làm cho công nhân, các quản đốc phân xởng
phải tự đôn đốc công nhân trong quá trình sản xuất.
Với 523 lao động ngoài ban giám đốc hiện nay, công ty có 7 phòng ban và 5 phân xởng. Mỗi phòng ban có những chức năng nhiệm vụ sau:
- Ban giám đốc: gồm 1 đồng chí giám đốc và 2 đồng chí phó giám
đốc. Giám đốc điều hành chung cả công ty đặc biệt là về mặt kinh tế. Một phó giám đốc thờng trực quản lý về mặt đời sống, đầu t XDCB. Một phó
giám đốc phụ trách kỹ thuật.
-Văn phòng: gồm 4 bộ phận: Phòng tổ chức, phòng hành chính,
phòng bảo vệ, phòng y tế. Mỗi phòng có nhiệm vụ và chức năng riêng của mình nh tổ chức bộ máy, quản lý lao động, ban hành một số quy chế về
công tác tiền lơng của cán bộ công nhân viên trong công ty, công tác bảo vệ an ninh, chăm lo sức khoẻ đời sống công nhân viên...
- Phòng kế hoạch vật t: có chức năng xây dựng kế hoạch tháng, quý,
năm, điều hành sản xuất kinh doanh trên cơ sở nhu cầu tiêu thụ của khách hàng.
- Phòng tài chính kế toán: Giúp lãnh đạo trong công ty hạch toán chi
phí sản xuất kinh doanh của công ty và xác định nhu câù về vốn, tình hình hiện có và sự biến động của các loại tài sản trong công ty.
- Phòng kinh doanh -XNK: Giúp giám đốc trong việc tìm thị trờng
trong nớc, nớc ngoài để tiêu thụ sản phẩm, thực thi kế hoạch bán hàng.
- Phòng kỹ thuật: Có nhiệm vụ xây dựng các quy phạm trong quá
trình sản xuất và xây dựng kế hoạch trung đại tu và sửa chữa máy móc thiết bị đồng thời xây dựng quy trình sử dụng và quản lý máy móc thiết bị.
- Phòng XDCB: Có nhiệm vụ quản lý, đề nghị và tham mu do lãnh đạo
xây dựng đề ra kế hoạch và các hạng mục đầu t, gọi vốn đầu t. Giám sát quá trình xây dựng chịu trách nhiệm trớc ban giám đốc về chất lợng công
trình.
19
Phân xởng da keo
PX chế biến I
PX chế biến II
Xởng cắt may
Xởng gò ráp, hoàn thiện
Giám đốc công ty đứng đầu bộ máy quản lý trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh hoặc gián tiếp thông qua các phó giám đốc. Các phòng ban
có một sự ®éc lËp t¬ng ®èi nhng còng cã mèi quan hƯ gần gũi tơng tác, phối hợp nhịp nhàng để bộ máy của công ty vận hành trôi chảy.
sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty
1.3 Đặc điểm sản phẩm của Công ty Da giầy Hà nội: Sản phẩm của Công ty Da giầy Hà nội là giầy vải các loại. Sản phẩm
đợc sản xuất chủ yếu theo đơn đặt hàng của nớc ngoài nh Đài Loan, Hồng Kông, Đức, ý...và sản xuất để phục vụ nhu cầu trong nớc nên đòi hỏi tiêu
chuẩn khá cao, chất lợng phải đảm bảo, mẫu mã đẹp, sản xuất phải theo đúng yêu cầu của khách hàng. Đặc điểm của loại sản phẩm tiêu dùng này là
có thể để lâu, không bị hao hụt nên cũng dễ dàng trong việc quản lý. Đơn vị tính thờng là đôi. Do yêu cầu của quản lý và theo đơn đặt hàng của khàch
hàng nên khi sản xuất xong sản phẩm thờng đợc đóng thành kiện. Số đôi giầy trong một kiện và kích cỡ giầy, mầu sắc giầy đóng vào kiện hoàn toàn
theo yêu cầu của khách hàng.
Về số lợng: Hàng tháng số lợng sản phẩm sản xuất nhiều hay ít căn cứ vào các đơn đặt hàng, các hợp đồng kinh tế đã ký kết với khách hàng và
tình hình tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng, từ đó bộ phận kế hoạch sẽ lên kế hoạch sản xuất giầy trong tháng. Quá trình vận động của thành phẩm rất
20
Giám đốc
PGĐ phụ trách đời sống,XDCB
PGĐ phụ trách kỹ thuật
Phòng tổ
chức Văn
phòng Phòng
kế hoạch
vật tư Phòng
TCKT Phòng
kinh doanh
XNK Phòng
kỹ thuật
Phòng XDCB
Quản đốc PX chế biến I
Quản đốc PX da keo
Quản đốc PX chế biến II
Quản đốc PX giầy
Quản đốc PX cơ khí
ngắn và nhanh kết thúc để có thể kịp thời gian giao hàng cho khách nh hợp đồng đã ký kết.
Về chất lợng: Do Công ty có dây chuyền sản xuất giầy tiên tiến, tơng đối hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế nên sản phẩm sản xuất ra đạt chất lợng
khá cao. Ngoài ra, nhiều loại nguyên vật liệu nhập về từ nớc ngoài để phục vụ cho sản xuất sản phẩm cũng góp phần nâng cao chất lợng sản phẩm.
Công ty đã sản xuất đợc rất nhiều loại giầy vải khác nhau. Mỗi loại giầy chia thành nhiều loại giầy khác nhau. Giầy của Công ty có mẫu mã, hình
thức khá đẹp và rất đa dạng. Chính vì vậy, nhiều loại giầy đã chiếm lĩnh đ- ợc thị trờng trong và ngoài nớc. Sản phẩm của Công ty đợc bạn hàng tín
nhiệm nên số lợng đơn đặt hàng ngày càng nhiều.
Với đặc điểm sản phẩm của Công ty nh vậy nên để thực hiện tốt công tác tiêu thụ sản phẩm thì nhất thiết cần phải tổ chức công tác tiêu thụ sản
phẩm một cách khoa học, hợp lý, phải có các biện pháp thích hợp, kịp thời đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm nhằm đảm bảo thu hồi vốn nhanh và
thu đợc nhiều lợi nhuận.
2 Đặc điểm tiêu thụ sản phẩm của Công ty: Việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty Da giầy Hà nội có đặc điểm rất
riêng biệt, khác với nhiều Công ty trong nớc. Sản phẩm sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu sang các nớc khác theo các đơn đặt hàng của khách hàng. Và
trong một vài năm gần đây, sản phẩm của Công ty cũng đã đợc tiêu thụ rộng rãi ở thị trờng trong nớc.
- Đối với xuất khẩu: Việc xuất khẩu sản phẩm ra nớc ngoài do phòng kinh doanh xuất nhập khẩu phụ trách. Công ty sẽ xuất giao hàng dựa trên
các hợp đồng ký kết với nớc ngoài. Công ty có quan hệ hợp đồng với một số Công ty khác ở các nớc nh: Đài loan, hồng kông, trung quốc. Những
Công ty này đóng vai trò trung gian và Da giầy Hà nội nhận đợc các đơn đặt hàng của nớc ngoài chủ yếu thông qua các Công ty này. Theo nh hợp
đồng, Công ty sẽ xuất hàng cho bên trung gian và bên trung gian sẽ thanh toán tiền hàng cho Công ty sau khi đã nhận đợc hàng. Nguyên vật liệu để
sản xuất sản phÈm do C«ng ty mua trong níc nhng còng cã trờng hợp không mua đợc trong nớc vì không có nên Công ty phải nhập nguyên liệu
từ phía các Công ty trung gian. Cã khi nguyªn vËt liƯu dïng cho sản xuất phải nhập 70 từ phía nớc ngoài. Nh vậy khi thanh toán tiền hàng, khách
hàng sẽ bù trừ tiền nguyên vật liệu vào tiền hàng của Công ty theo định mức đã tính. Trong trờng hợp Công ty không phải xuất hàng sang các Công
ty trung gian mà xuất thẳng sang nớc có đơn đặt hàng thì sau khi đã nhận đợc tiền hàng từ phía nớc có đơn đặt hàng, Công ty sẽ thanh toán hoa hồng
cho bên trung gian theo phần trăm đã thoả thuận trong hợp đồng. Ngoài ra, Công ty cũng có đơn đặt hàng trực tiếp từ phía các nớc có nhu cầu mà
không phải qua trung gian nhng trờng hợp này không nhiều.
- Đối với thị trờng trong nớc: Việc sản xuất sản phẩm chủ yếu dựa vào tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty trên thị trờng và các hợp đồng
với khách hàng. Việc tiêu thụ sản phẩm trong nớc do phòng tiêu thụ phụ
21
trách. Công ty có các chi nhánh bán hàng, các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm tại Hà nội và nhiều tỉnh, thành phố trong nớc. Đặc biệt mạng lới
tiêu thụ sản phẩm của Công ty đã có mặt ở hầu khắp các tỉnh, thành phố, trung du, miền núi đặc biệt là ở những nơi dân c đông đúc và lực lợng công
nhân lao động nhiều. Việc thanh toán tiền hàng giữa các đại lý, chi nhánh, khách hàng với Công ty đợc thực hiện theo từng tháng. Riêng đối với các
đại lý, khi thanh toán sẽ đợc tính trừ luôn phần trăm tiền hoa hồng.
- Việc thanh toán, biên bản thanh toán, hoá đơn bán hàng...giữa Công ty với khách hàng, nếu là khách hàng hàng nớc ngoài sẽ do phòng kinh
doanh xuất nhập khẩu tính trên từng lô hàng xuất đi, nếu là khách hàng trong nớc hay chi nhánh bán hàng, đại lý sẽ do phòng tiêu thụ đảm nhiệm
theo từng tháng. Cuối cùng tất cả các chứng từ biên bản sẽ đợc chuyển sang phòng Kế toán. Kế toán tiêu thụ và Kế toán thanh toán sẽ tập hợp các
chứng từ, biên bản đó và theo dõi việc thanh toán giữa khách hàng với Công ty hoặc việc thanh toán của Công ty với khách hàng theo từng biên
bản.
- Thông thờng việc thanh toán tiền hàng giữa Công ty với khách thờng theo phơng thức giao hàng trớc và thanh toán tiền hàng sau. Tất cả các chi
phí bán hàng quy định trong hợp đồng do Công ty chịu trách nhiệm. Khi bán hàng ra nớc ngoài thì tiền hàng của Công ty thờng đợc thanh toán bằng
ngoại tệ. Do vậy, khi khách hàng thanh toán Công ty phải quy đổi ra đồng Việt nam.
- Ta thấy rằng, việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty phần lớn là ở thị tr- ờng nớc ngoài. Thị trờng sản phẩm của Công ty ở trong nớc tuy vài năm trở
lại đây đã phát triển khá mạnh nhng trong điều kiện nền kinh tế thị trờng trong nớc ngày càng phát triển thì việc mở rộng thị trờng trong nớc để tăng
khối lợng tiêu thụ sản phẩm là một vấn đề rất đáng quan tâm đối với Công ty.
3 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác tiêu thụ sản phẩm ở Công ty Da giầy Hà néi:

3.1 Thn lỵi:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mở rộng mạng l ới phân phối sản phẩm: Quảng cáo: Một số biện pháp Marketing khác:

Tải bản đầy đủ ngay(45 tr)

×