Tải bản đầy đủ - 48 (trang)
Về quy trình đặt tên nhãn hiệu

Về quy trình đặt tên nhãn hiệu

Tải bản đầy đủ - 48trang

1.4.2 Về quy trình đặt tên nhãn hiệu


Đối với tên nhãn hiệu, hầu hết 71 các doanh nghiệp tự đặt mà khơng có sự tham gia của các chun gia hay công ty thiết kế chuyên nghiệp. Trong số 31 doanh
nghiệp có thuê tư vấn thiết kế tên nhãn hiệu thì cũng chỉ có 8 hồn tồn giao phó việc đặc tên nhãn hiệu cho các cơ sở tư vấn thiết kế, còn lại 21 số doanh nghiệp còn
lại kết hợp việc đặt tên nhãn hiệu do chính doanh nghiệp kết hợp với sự tư vấn của các cơ sở tư vấn. Trong số các doanh nghiệp được khảo sát, hầu như khơng có doanh
nghiệp nào có quy trình nhất quán cho việc đặt tên nhãn hiệu. Tất cả những doanh nghiệp tự đặt tên nhãn hiệu sử dụng phương thức thảo luận trong một số thành viên
của ban lãnh đạo cơng ty và có thể mở rộng ra đội ngũ cán bộ quản lý chủ chốt. Rất ít doanh nghiệp trưng cầu ý kiến của toàn thể cán bộ, nhân viên trong việc đặt tên nhãn
hiệu. Tuy vậy, các doanh nghiệp cũng đã ban đầu thực hiện một số bước trong quá
trình đặt tên nhãn hiệu. Trên thực tế, tất cả các doanh nghiệp được phỏng vấn sâu đều trả lời có cân nhắc đến các tên nhãn hiệu cạnh tranh đã có trên thị trường. Tuy nhiên,
khơng nhiều doanh nghiệp quan tâm đến việc tra cứu tên nhãn hiệu đã đăng ký mà chủ yếu dựa vào hiểu biết và kinh nghiệm của mình về những nhãn hiệu đã có trên thị
trường. Rất ít doanh nghiệp tiến hành kiểm tra những nhãn hiệu đã đăng ký tại Cục SHTT. Trong năm 2003 chỉ có 453 lượt người và 115 dự án có tra cứu thơng tin tại
Cục SHTT Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà nội, 2004 [16]. Đó cũng là lý do tại sao có đến 95 số doanh nghiệp nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa khơng hợp lệ, phải
làm lại vì có dính dáng đến một số chi tiết mà trước đó đã có doanh nghiệp đăng ký – Số liệu của Cơng ty Sở hữu Trí tuệ INVENCO Phi Long, VietnamNet 2004 [12].
Điều này có thể lý giải được phần nào là do việc kiểm tra nhãn hiệu đã đăng ký tại Việt nam trước đây chỉ có thể tiến hành tại Cục SHTT thơng qua nhân viên của Cục,
mất phí và chủ yếu phục vụ mục tiêu kiểm tra xem nhãn hiệu đăng ký mới có bị trùng với nhãn hiệu đã đăng ký không mà không cho phép doanh nghiệp có một cái nhìn
tổng thể về những nhãn hiệu đã đăng ký để tiến hành việc đặt tên cho nhãn hiệu của mình. Điều này khiến cho quá trình kiểm tra nhãn hiệu đã đăng ký không thuận lợi và
bị động – doanh nghiệp không thể chủ động kiểm tra theo mục đích của mình cho nên doanh nghiệp thường chỉ tiến hành khi buộc phải đăng ký nhãn hiệu.
25
Một số doanh nghiệp mong muốn đưa những ý nghĩa nhất định vào trong tên nhãn hiệu của mình nhưng hầu hết những ý nghĩa này đều chung chung và không tập
trung vào những lợi ích then chốt của sản phẩm mang lại cho khách hàng và khơng nói lên được bản sắc của nhãn hiệu. Có thể kể ra một số ví dụ điển hình của ý nghĩa
tên nhãn hiệu chung chung theo kiểu này như Việt Tiến – “Việt nam” và “tiến lên”, AQSILK - “Lụa tơ tằm Nữ hoàng châu Á”, Vĩnh Hảo – “cuộc sống mãi mãi tốt
đẹp”, hay Trường Sinh – “Trường sinh bất lão”. Yếu tố văn hóa và ngơn ngữ thường được tính đến trong việc đặt tên nhãn
hiệu. Tuy nhiên, chủ yếu các doanh nghiệp quan tâm đến những yếu tố này ở góc độ làm thế nào để tên nhãn hiệu của họ nghe quen thuộc đối với khách hàng trong nước.
Để đạt được điều này, doanh nghiệp chọn những từ thơng dụng và có ý nghĩa hay để đặt tên cho nhãn hiệu Hải Hà, Bình Minh, sử dụng tên địa phương Hà nội, Thăng
long hoặc tên người Lê Minh, Thái Tuấn.
1.5 Hiện trạng công tác thiết kế biểu trưng 1.5.1 Về thiết kế của biểu trưng

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Về quy trình đặt tên nhãn hiệu

Tải bản đầy đủ ngay(48 tr)

×