Tải bản đầy đủ - 23 (trang)
3 Các chủ thể tham gia thị trường bảo hiểm

3 Các chủ thể tham gia thị trường bảo hiểm

Tải bản đầy đủ - 23trang

Nhóm 01 Lớp 1102BKSC0911 Kinh tế bảo hiểm

Pháp luật Việt Nam đã quy định các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm được hoạt động

bao gồm: doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp

100% vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức bảo hiểm tương hỗ.





Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước







Khái niệm

Theo Luật doanh nghiệp Nhà nước CHXHCN Việt Nam (2007), doanh nghiệp Nhà



nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp

chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách

nhiệm hữu hạn.





Hình thức pháp lý



-



Công ty bảo hiểm Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều



lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động kinh donah theo quy định của Luật doanh

nghiệp Nhà nước. Công ty Nhà nước được tổ chức dưới hình thức Công ty Nhà nước độc lập

hoặc Tổng công ty Nhà nước

-



Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các



công ty Nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước ủy quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt

động theo Luật doanh nghiệp.

-



Công ty trách nhiêm hữu hạn Nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm



hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt

động theo quy định của Luật doanh nghiệp.

-



Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước có hai thành viên trở lên là công ty trách



nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là các công ty Nhà nước, hoặc có thành

viên là công ty Nhà nước và thành viên khác là tổ chức được Nhà nước ủy quyền góp vốn,

được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp.

-



Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước

Là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ



và Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó. Quyền chi phối đối với doanh

nghiệp là quyền định đoạt đối với điều lệ hoạt động, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức



Đại học thương mại



Page 6



Nhóm 01 Lớp 1102BKSC0911 Kinh tế bảo hiểm

các chức danh quản lý chủ chốt, việc tổ chức quản lý và các quyết định quản lý quan trọng

khác của doanh nghiệp.





Công ty cổ phần bảo hiểm

 Khái niệm

Công ty cổ phần bảo hiểm là loại hình doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ đươc chia



thành nhiều cổ phần, do các cổ đông tham gia đóng góp thông qua hình thức phát hành cổ

phiếu.

 Đặc điểm

-



Doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, cùng chia lợi nhuận và cùng chịu lỗ tương ứng



với số vốn góp.

-



Các cổ đông có thể tổ chức, có thể là cá nhân. Số lượng cổ đông tối thiểu theo quy



định của Luật doanh nghiệp là 3 và không hạn chế số lượng tối đa.

-



Các cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn góp vào công ty và có



quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác.

-



Công ty cổ phần bảo hiểm có thể huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu.

• Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh

 Khái niệm

Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh là doanh nghiệp bảo hiểm do hai bên (bên Việt Nam



và bên nước ngoài) hoặc nhiều bên hợp tác thành lập và kinh doanh tại Việt Nam trên cơ sở

hợp đồng liên doanh và Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước

ngoài.

 Đặc điểm

-



Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu



hạn.

-



Các bên chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ vốn góp của mỗi bên.



-



Theo Nghị định 42/2001/NĐ-CP (01/08/2001) thì tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam



trong doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh không được thấp hơn 30% vốn điều lệ.

-



Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh chịu sự điều chỉnh chủ yếu của Luật kinh doanh



bảo hiểm và Luật đầu tư nước ngoài.



Đại học thương mại



Page 7



Nhóm 01 Lớp 1102BKSC0911 Kinh tế bảo hiểm

• Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp bảo hiểm bảo

hiểm do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn và được thành lập tại Việt Nam. Nhà đầu

tư nước ngoài tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Trong lĩnh vực bảo

hiểm, nhà đầu tư nước ngoài thường là các tổ chức bảo hiểm hoặc các tập đoàn tài chính đa

năng. Cũng giống như doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn

đầu tư nước ngoài hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ yếu chịu sự

điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật đầu tư nước ngoài.

• Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là loại tổ chức bảo hiểm do một số thành viên cùng nhau

thành lập để bảo hiểm cho chính họ. Số lượng thành viên của tổ chức bảo hiểm tương hỗ đòi

hỏi rất lớn, chẳng hạn ở Pháp quy định tối thiểu là 500.

Ở Việt Nam, địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tương hỗ đã được thừa nhận ở điều

70, mục 2, chương III, Luật kinh doanh bảo hiểm: “Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có

tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau

giữa các thành viên. Thành viên của tổ chức bảo hiểm tương hỗ vừa là chủ sở hữu, vừa là

bên mua bảo hiểm”.

b,



Trung gian bảo hiểm

Trung gian bảo hiểm là người được ủy quyền của một bởi một bên (bên mua bảo



hiểm hoặc bên bán bảo hiểm), gọi là thân chủ để đưa thân chủ đó vào mối quan hệ hợp

đồng với bên kia (bên bảo hiểm hoặc bên mua bảo hiểm), gọi là bên thứ ba.

Trung gian bảo hiểm bao gồm hai loại: môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm.

• Môi giới bảo hiểm

 Khái niệm

Môi giới bảo hiểm là người đại diện của bên mua bảo hiểm (đối với bảo hiểm

gốc) hoặc doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm (đối với tái bảo hiểm) trong quan hệ hợp

đồng bảo hiểm.

 Phân loại



Đại học thương mại



Page 8



Nhóm 01 Lớp 1102BKSC0911 Kinh tế bảo hiểm

-



Môi giới bảo hiểm gốc là hoạt động mà người môi giới đứng ra đàm phán, thu xếp



các vấn đề về bảo hiểm giữa khách hàng và doanh nghiệp bảo hiểm gốc.

-



Môi giới tái bảo hiểm là hoạt động của người môi giới đứng ra đàm phán, thu xếp các



vấn đề về nhượng và nhận tái bảo hiẻm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.

 Nội dung

-



Cung cấp thông tin về loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm, doanh



nghiệp bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm.

-



Tư vấn cho bên mua bảo hiểm trong việc đánh giá rủi ro, lựa chọn loại hình bảo hiểm,



điều kiện, điều khoản, biểu phí bảo hiểm, DN bảo hiểm.

-



Đàm phán, thu xếp, giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên



mua bảo hiểm

-



Thực hiện các công việc khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm



theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm.

-



Môi giới còn có thể tiến hành giám định rủi ro,cung cấp dịch vụ quản lý rủi ro, soạn



thảo các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm, giải quyết một số khiếu nại,…

• Đại lý bảo hiểm

 Khái niệm

Theo điều 84, mục 1, chương IV, Luật kinh doanh bảo hiểm CHXHCN Việt

Nam quy định: “Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm ủy

quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo

quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.

 Phân loại

-



Theo phạm vi quyền hạn được ủy thác người ta chia đại lý bảo hiểm thành đại lý đặc



biệt, tổng đại lý và đại lý toàn quyền.

-



Theo thời gian hoạt động có thể chia đại lý bảo hiểm thành đại lý chuyên nghiệp và



đại lý bán chuyên nghiệp.

-



Căn cứ vào loại hình bảo hiểm có thể chia thành đại lý bảo hiểm nhân thọ và đại lý



bảo hiểm phi nhân thọ.



Đại học thương mại



Page 9



Nhóm 01 Lớp 1102BKSC0911 Kinh tế bảo hiểm

-



Theo mức độ chuyên sâu trong công việc, thường nói đến đại lý chuyên khai thác và



đại lý chuyên thu.

c,



Hiệp hội bảo hiểm

 Khái niệm:

Hiệp hội bảo hiểm là một tổ chức dân sự nghề nghiệp hoạt động trên cơ sở tham



gia tự nguyện và đóng góp kinh phí của hội viên- các doanh nghiệp bảo hiểm.

 Hình thức

-



Hiệp hội các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ



-



Hiệp hội các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ



-



Hiệp hội các doanh nghiệp bảo hiểm xe cơ giới



-



Hiệp hội đại lý bảo hiểm



-



Hiệp hội các nhà môi giới bảo hiểm



-



Hiệp hội chuyên viên tính phí bảo hiểm

 Vai trò



-



Hiệp hội bảo hiểm được coi là chiếc cầu nối giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với Nhà



nước.

-



Hiệp hội bảo hiểm chính là nơi mà các doanh nghiệp bảo hiểm cùng nhau tạo nên một



môi trường nghề nghiệp có lợi cho sự phát triển chung.

-



Hoạt động của Hiệp hội đa liên kết các tổ chức bảo hiểm trong một tổ chức thống



nhất, để có thể thực hiện việc hợp tác với các tổ chức nghề nghiệp khác trong nền kinh tế

cũng như các tổ chức nghề nghiệp bảo hiểm trên trường quốc tế một cách có hiệu quả nhất.



II/



THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY



Quá trình hình thành và phát triển của thị trường bảo hiểm ở Việt

Nam

Ngành bảo hiểm nước ta mới thực sự bắt đầu phát triển từ cách đây khoảng 10 năm

khi thế độc quyền kinh doanh bảo hiểm được xoá bỏ theo nghị định 100 CP được Chính phủ

ban hành ngày 18/12/1993. Kể từ đó đến nay, ngành bảo hiểm đã có những bước tiến đáng



Đại học thương mại



Page 10



Nhóm 01 Lớp 1102BKSC0911 Kinh tế bảo hiểm

kể và nếu được phát triển đúng hướng, ngành sẽ góp phần rất tích cực vào công cuộc công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ mới.

Bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn so với sự phát triển chung của ngành bảo hiểm

thế giới do nhiều điều kiện chủ quan cũng như khách quan. Tuy nhiên, hiện nay, ngành bảo

hiểm đang dần dần bắt kịp xu thế phát triển chung của bảo hiểm trong khu vực và quốc tế và

ngày càng chứng tỏ vai trò không thể thiếu được của mình đối với nền kinh tế. Chúng ta có

thể nhận thấy điều này khi theo dõi quá trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam từ

những ngày đầu đến nay.

 Trước năm 1986

Hoạt động bảo hiểm ở nước ta ít nhiều cũng đã có những bước phát triển ngay từ thời

thực dân Pháp. Cho tới khi miền Bắc được giải phóng, đất nước bị chia cắt, hoạt động kinh

doanh bảo hiểm ở miền Nam khá phát triển dưới chế độ Ngụy quyền.

• Ở miền Nam trước năm 1975.

Có hơn 52 công ty trong và ngoài nước đã triển khai các loại hình nghiệp vụ khá đa

dạng như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm chuyên chở, bảo hiểm xe tự động, bảo hiểm sinh

mạng, bảo hiểm tai nạn lao động… Các công ty hoạt động khá mạnh mẽ, đáp ứng được phần

nào nhu cầu về bảo hiểm trên toàn thị trường miền Nam. Các công ty bảo hiểm trong nước

thường được thành lập dưới dạng Hội vô danh và Hội tương hỗ. Các công ty nước ngoài

thành lập ở Việt Nam dưới hình thức công ty chi nhánh. Hầu hết các công ty đều đặt trụ sở

chính ở Sài Gòn. Mạng lưới trung gian bảo hiểm là môi giới và đại lý bảo hiểm được sử

dụng phổ biến để kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi toàn miền Nam. Để đảm bảo cho hoạt

động kinh doanh được trôi chảy, cạnh tranh lành mạnh, các công ty bảo hiểm đã sớm thành

lập hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm của mình. Hiệp hội có chức năng thông tin tư vấn, đào

tạo, tạo ra một môi trường hợp tác. Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm được

thực hiện thông qua Bộ Tài chính. Các văn bản pháp luật điều chỉnh như Luật bảo hiểm

cũng sớm ra đời. Ngoài ra, Hội đồng tư vấn bảo hiểm quốc gia cũng đóng vai trò khá quan

trọng.

• Ở miền Bắc trước năm 1975



Đại học thương mại



Page 11



Nhóm 01 Lớp 1102BKSC0911 Kinh tế bảo hiểm

Hoạt động bảo hiểm chỉ thực sự bắt đầu khi có sự ra đời của Bảo Việt. Để đáp ứng

nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt động ngoại thương, ngày 17/12/1964, Thủ tướng Chính phủ

đã ra quyết định thành lập Công ty Bảo hiểm Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt. Đến ngày

15/01/1965, Bảo Việt chính thức đi vào hoạt động. Đây cũng là công ty bảo hiểm Nhà nước

duy nhất đại diện cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Từ ngày thành lập cho đến trước năm

1975, do những điều kiện khó khăn của chiến tranh, hoạt động của Bảo Việt ở miền Bắc

chưa phát triển. Lúc bấy giờ, Bảo Việt chỉ có trụ sở ở Hà Nội và chi nhánh ở Hải Phòng thực

hiện chủ yếu 3 nghiệp vụ: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tàu và tái bảo

hiểm. Tỉ lệ tái bảo hiểm cho Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Ba Lan lúc đó cũng tương đối

cao.

• Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng

Cũng như tất cả các ngành kinh tế khác, các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam được

tiến hành quốc hữu hoá. Công ty Bảo hiểm và Tái bảo hiểm Việt Nam được thành lập để

thực hiện tiếp trách nhiệm của các công ty cũ đối với những người được bảo hiểm muốn tiếp

tục hợp đồng. Đối với các công ty bảo hiểm nước ngoài, công ty có trách nhiệm thanh toán

và đòi nợ theo đúng hợp đồng. Năm 1976, khi hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt Nhà

nước, công ty được chuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố

Hồ Chí Minh. Thời kỳ này, Bảo Việt là công ty duy nhất hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở

Việt Nam theo chế độ hạch toán kế toán kinh tế thống nhất toàn ngành. Công ty trực thuộc

Bộ Tài chính, có chức năng giúp Bộ Tài chính thống nhất quản lý công tác bảo hiểm Nhà

nước và trực tiếp tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước. Trong giai đoạn này, ở Việt

Nam, Bảo Việt độc quyền kinh doanh bảo hiểm nên các sản phẩm của Bảo Việt chưa đa

dạng, chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ với khoảng 20 sản phẩm bảo

hiểm. Có thể nói, thời gian này, hoạt động bảo hiểm ở nước ta vẫn chưa phát triển.

 Từ năm 1986 đến nay

Năm 1986 đánh dấu một bước ngoạt trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta.

Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI diễn ra vào năm này đã đưa ra

chính sách đổi mới, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh theo các

quy định của pháp luật. Đồng thời, Việt Nam cũng đã tiến hành mở cửa nền kinh tế, thu hút



Đại học thương mại



Page 12



Nhóm 01 Lớp 1102BKSC0911 Kinh tế bảo hiểm

đầu tư từ nhiều quốc gia, khu vực. Hoạt động sản xuất – kinh doanh từng bước phát triển,

đời sống nhân dân được nâng cao đòi hỏi ngành bảo hiểm cũng phải đổi mới để đáp ứng nhu

cầu, thích hợp với hoàn cảnh mới. Sự xuất hiện của các công ty bảo hiểm mới, công ty liên

doanh, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài… sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá

trình phát triển bảo hiểm ở nước ta.

Ngày 18/12/1993, nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được

Chính phủ ban hành, mở ra bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Nó phá vỡ

thế độc quyền đang tồn tại, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm với nhiều hình

thức khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế. Mặc dù vậy, phải từ sau năm 1995, một loạt

các công ty kinh doanh bảo hiểm mới ra đời: Bảo Minh, VINARE, PVI, PJICO… và các

công ty liên doanh bảo hiểm như: UIC, VIA,… Ngoài ra, với khoảng 40 văn phòng đại diện

của các công ty bảo hiểm nước ngoài và hơn 70.000 đại lý bảo hiểm thị trường bảo hiểm

Việt Nam đang phát triển ngày một sôi động.

Việc mở cửa thị trường bảo hiểm cũng như sự xuất hiện của các công ty mới đã tạo

điều kiện cho bảo hiểm phát triển mạnh mẽ trong một môi trường cạnh tranh ngày càng

quyết liệt. Các công ty liên tục hoàn thiện những sản phẩm cũ, đồng thời nghiên cứu và giới

thiệu những loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mới đa dạng và hấp dẫn. Người tham gia bảo

hiểm có thể tự do lựa chọn người bảo hiểm, loại hình dịch vụ bảo hiểm với mức phí cạnh

tranh nhất. Trong tương lai, nhu cầu bảo hiểm sẽ ngày càng đa dạng hơn và số lượng, chủng

loại sản phẩm chắc chắn sẽ còn được rộng mở. Không chỉ có vậy, để nâng cao tính cạnh

tranh, công tác chăm sóc khách hàng cũng ngày càng được chú trọng. Bảo hiểm Việt Nam

được đánh giá là một thị trường vẫn đang rất giàu tiềm năng phát triển.



Thực trạng hoạt động thị trường bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay

Sự phát triển của thị trường trước hết thể hiện ở số lượng doanh nghiệp bảo hiểm

(DNBH) ngày càng tăng, sản phẩm bảo hiểm ngày càng phong phú, kênh phân phối sản

phẩm bảo hiểm ngày càng đông đảo, đáp ứng cơ bản nhu cầu về bảo hiểm của nền kinh tế xã

hội và dân cư.



Đại học thương mại



Page 13



Nhóm 01 Lớp 1102BKSC0911 Kinh tế bảo hiểm

Năm 2006, cả nước mới có 37 DNBH nhưng đến tháng 06/2010, con số này đã lên tới

50 doanh nghiệp với đầy đủ các loại hình sở hữu (DNNN, công ty cổ phần, công ty TNHH,

công ty liên doanh). Nếu tính cả 02 doanh nghiệp đã được Bộ Tài chính đã chấp nhận về

nguyên tắc là Công ty bảo hiểm phi nhân thọ Cathay Việt Nam và Công ty bảo hiểm nhân

thọ Fubon Việt Nam thì tổng cộng đã là 52 doanh nghiệp.

Bảng 1: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm

Loại hình DNBH

Phi nhân thọ

Nhân thọ



Tái bảo hiểm

Môi giới

Tổng số DNBH



2006



Trong nước

Nước ngoài

Trong nước

Nước ngoài

Liên doanh

Trong nước

Nước ngoài

Trong nước

Nước ngoài



2007



2008



2009



6T/2010



13

8

1

5

1

5

3

37



14

8

1

8

1

5

3

40



17

10

1

9

1

1

6

4

49



17

10

1

9

1

1

6

4

49



18

10

1

9

1

1

6

4

50



Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt nam

Năm 2010 có 50 DNBH (trong đó có 11 DNBH nhân thọ), tăng 1 DN so với năm

2009, tăng 14 DN so với năm 2005. Các DNBH đã phát triển được 800 sản phẩm bảo hiểm

(trong đó có 200 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ), tăng 100 sản phẩm so với năm 2009, gấp 2

lần so với năm 2005. Tổng cộng có 190.562 đại lý bảo hiểm, tăng 18,57% so với năm 2009,

tăng 45,47% so với năm 2005 và vượt 85% so với chỉ tiêu chiến lược đề ra.

Như vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, lĩnh vực kinh doanh dịch

vụ bảo hiểm của Việt Nam cũng có những bước tiến đáng kể. Số lượng các DNBH tăng lên



Đại học thương mại



Page 14



Nhóm 01 Lớp 1102BKSC0911 Kinh tế bảo hiểm

cũng đồng nghĩa với mức độ cạnh tranh tăng lên, và nhờ đó, chất lượng các sản phẩm dịch

vụ bảo hiểm ngày càng hoàn thiện đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, đa dạng của người dân.

Cùng với sự tăng trưởng của cả nền kinh tế, sự gia tăng về số lượng các DNBH và sự

thay đổi theo hướng tích cực trong nhận thức của người dân, doanh thu phí bảo hiểm của

toàn ngành cũng tăng đều qua các năm với tốc độ tăng trung bình khoảng 20%/năm, quy mô

thị trường ngày càng được mở rộng.

Bảng 2: Quy mô thị trường bảo hiểm

Chỉ tiêu

Doanh thu phí bảo hiểm



2006



14.898

(tỷ đồng), trong đó:

- Phi nhân thọ

6.403

- Nhân thọ

8.495

Doanh thu hoạt động

3.478

đầu tư (tỷ đồng)

Đóng góp vào GDP (%) 1,74

Đầu tư trở lại nền kinh

30.661

tế (tỷ đồng)



2007



2008



2009



6T/2010



17.650



21.253



25.473



14.427



8.213

9.437



10.950

10.303



13.616

11.857



7.940

6.487



6.623



6.799



6.016



3.321



2,12



2,31



2,3



-



46.549



58.643



69.000



-



Nguồn: Báo cáo của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và Báo cáo thường niên của Bộ Tài

chính

Tính riêng từ đầu năm 2010 đến nay, cùng với đà phục hồi của nền kinh tế, thị trường

bảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, doanh

thu đạt 8.241 tỷ đồng, tăng trưởng 28%. Hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm đều có tốc độ tăng

trưởng khá, trong đó bảo hiểm cháy tăng 125%, bảo hiểm nông nghiệp 109%, bảo hiểm xây

dựng lắp đặt 68%. Tại thị trường bảo hiểm nhân thọ, số lượng hợp đồng khai thác mới tăng

24% so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng mức trách nhiệm các DNBH nhân thọ đang nắm giữ là



Đại học thương mại



Page 15



Nhóm 01 Lớp 1102BKSC0911 Kinh tế bảo hiểm

323,56 nghìn tỷ đồng, tăng 33%; tổng phí khai thác mới đạt 1.544 tỷ đồng, tăng 27%. Nhiều

DNBH có doanh thu khai thác mới lên tới hàng trăm tỷ đồng. Tổng số tiền các DNBH chi

trả quyền lợi cho khách hàng lên tới 1.546 tỷ đồng. Trong năm 2010 đã đạt được:

* 30.201 tỷ đồng là tổng số tiền phí bảo hiểm năm 2010. Trong đó, 2.043 tỷ đồng là tổng phí

bảo hiểm thu xếp qua môi giới, tăng 3,8% so với năm 2009.

* 38.700 tỷ đồng là tổng doanh thu ngành bảo hiểm năm 2010, bằng 96,7% chỉ tiêu chiến

lược. Trong đó:

+ Bảo hiểm phi nhân thọ đạt 17.120 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2009, gấp 3 lần

năm 2005 và gấp 1,9 lần chỉ tiêu chiến lược.

+ Bảo hiểm nhân thọ đạt 13.580 tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2009, gấp 1,7 lần so

với năm 2005, nhưng chỉ đạt 45% so với chỉ tiêu chiến lược, do gặp khó khăn khủng hoảng

kinh tế toàn cầu.

* 92.800 tỷ đồng là số tiền DNBH đã huy động đầu tư trở lại nền kinh tế tính đến cuối năm

2010, tăng gần 26.000 tỷ đồng so với cuối năm 2009.

Hệ thống kênh phân phối đã góp phần đưa sản phẩm bảo hiểm phủ khắp toàn quốc,

kể cả vùng sâu, vùng xa. Các sản phẩm bảo hiểm phát triển đa dạng, phong phú, bảo hiểm

cho cả những đối tượng bảo hiểm có quy mô lớn, rủi ro cao, giá trị lớn cho đến bảo hiểm vi

mô cho người dân hộ nghèo, nông thôn, miền núi, hải đảo. Các sản phẩm bảo hiểm cháy nổ

bắt buộc, trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp được

Nhà nước quan tâm chỉ đạo và các DNBH tích cực triển khai.

Bảng 3: Các kênh phân phối sản phẩm chủ yếu ở Việt Nam

Kênh truyền thống



Kênh trực tiếp



Kênh mới



Đại lý



Cán bộ bảo hiểm



Ngân hàng



Môi giới



Điện thoại



Công ty tài chính



Đại diện thương mại



Thư tín, Internet



Cửa hàng hợp tác …



Đại học thương mại



Page 16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Các chủ thể tham gia thị trường bảo hiểm

Tải bản đầy đủ ngay(23 tr)

×