Tải bản đầy đủ - 17 (trang)
Dặn dò : Ôn lại kiến thức đã học .

Dặn dò : Ôn lại kiến thức đã học .

Tải bản đầy đủ - 17trang

H:Những người có nhà ở gần biển báo đó có biết nội dung của biển báo đó không ?
H:Theo bạn việc không tuân theo như vậy có thể xảy ra hậu quả nào không ?
H:Theo bạn nên làm thế nào để mọi người thực hiện theo lệnh của biển báo hiệu giao thông?
c .Kết luận : Muốn phòng tránh tai nạn giao thông , mọi người cần có ý
thức chấp hành những hiệu lệnh và chỉ dẫn của biển báo hiệu giao thông . Hoạt động 2 :
Ôn lại các biển báo đã học
. - GV tổ chức cho HS hoạt động nhóm : Chọn khoảng 4
nhóm , mỗi nhóm 4-5 em . Giao cho mỗi nhóm 5 biển báo nhiệu khác nhau .
- GV viết tên 4 nhóm biển báo hiệu trên bảng .
Biển báo cấm
Biển báo nguy hiểm
Biển hiệu lệnh
Biển chỉ dẫn
- Khi GV hô bắt đầu , mỗi nhóm 1 em cầm biển lên xếp biển báo đang cầm váo đúng nhóm biển gắn ở trên bảng . Làm
xong về chỗ , em thứ hai của nhóm thực hiện tiếp rồi các em còn lại trong nhóm .
Kết luận : Khi gặp biển báo hiệu nguy hiểm này , ta phải căn cứ vào nội dung biển hiệu để đề phòng nguy hiểm có thể
xảy ra . H : Những biển báo hiệu giao thông thường được đặt ở đâu ?
Nhằm mục đích gì? GV chốt :
Tác dụng của biển báo hiệu chỉ dẫn là cung cấp thông tin cần thiết trên đường cho người đi đường biết .
Hoạt động 3 :
Luyện tập
Gắn tên 10 biển ở vò trí khác nhau + Yêu cầu từng HS lên gắn nbiển nào đúng tên biển đó .
H : Em hãy nhắc lại hình dáng , màu sắc nội dung của 2 biển báo trong số các biển báo này ?
Làm phiếu nbài tập , khuyến khích HS vẽ vẽ màu H : Vẽ 2 biển báo hiệu mà em nhớ , có ghi tên biển báo ?
- GV nhận xét – chữa cho HS . 4. Củng cố :
- Gọi HS nhắc lại ghi nhớ SGK 7 - Nhận xét tiết học .

5. Dặn dò : Ôn lại kiến thức đã học .


- HS trả lời . + Dễ xảy ra tai nạn giao thông .
+ Nhắc nhở mọi người hiểu ý nghóa của biển báo hiệu và thực
hiện .
- HS nghe và nắm yêu cầu của GV .
- Các nhóm thực hiện .
- Cả lớp theo dõi = nhận xét .
+ Đặt ở bên lề đường , để cho người đi đường biết nếu có nhu
cầu . - HS nhắc lại .
- HS khác quan sát = nhận xét . - HS trả lời .
- HS thực hiện vẽ . - HS trưng bày sản phẩm của
mình – lớp nhận xét . - HS nhắc lại ghi nhớ .
Ngày soạn : ….. …. 2006 Ngày dạy : ….. ….. 2006
Bài 2 KỸ NĂNG ĐI XE ĐẠP AN TOÀN
An toàn giao thông 5
2
I-MỤC TIÊU
1. Kiến thức : Học sinh biết những quy đònh đối với người đi xe đạp trên đường phố theo luật giao thông đường bộ.
- Học sinh biết cách lên, xuống xe vàdừng, đỗ xe an toàn trên đường phố. 2. Kó năng : Học sinh thể hiện đúng cách điều khiển xe an toàn qua đường giao nhau có
hoặc không có vòng xuyến. - Phán đoán và nhận thức được các điều kiện an toàn hay không an toàn khi đi xe đạp có thể
điều khiển tốc độ vòng tránh xe ô tô và các phương tiện khác và tránh các nguy hiểm khác trên đường.
- Xây dựng, liệt kê một số phương án và nhân tố để đảm bảo an toàn khi đi xe đạp. 3. Thái độ: Có ý thức điều khiển xe đạp an toàn.
II -NỘI DUNG AN TOÀN GIAO THÔNG: Những quy đònh đối với người đi xe đạp, để đảm bảo an toàn.
- Ở đường một chiều, xe không có động cơ đi ở bên phải đường, xe có động cơ đi ở bên trái đường.
- Ở cả đường một chiều và hai chiều, xe đạp đi ở phía bên phải đường hoặc đi vào làn đường dành riêng cho xe thô sơ.
- Khi đổi hướng hoặc đổi làn xe, xe đạp phải giơ tay xin tay xin đường. - Không đổi hướng bất ngờ trên đường. Khi muốn rẽ, từ trước nơi đường giao nhau, người đi
xe đạp phải đi chậm lại, chuyển hướng xe sang làn đườnggần với chiều rẽ của mình theo mũi tên kẻ trên đường, giơ tay xin đường rồi mới rẽ.
- Khi rẻ, đổi hướng, xe đạp phải nhường đường cho người đi bộ, cho những người đi xe đạp khác đang đi trên đường và những xe đi ngược chiều.
- Khi qua đường giao nhau, nơi đường giao nhau không có vòng xuyến, xe đạp phải nhường đường cho những xe đi tới từ bên phải.
- Nơi đường giao nhau có vòng xuyến, xe đạp phải nhường đường cho những xe đạp tới từ bên trái.
- Người đi xe đạp không được chở hàng cồng kềnh, gây cản trở giao thông. Các điều luật liên quan : Điều 13 – Khoản 2, 3; Điều 15 – Khoản 1 ,2; Điều 22 – Khoản 3; Điều
22 – Khoản 3; Điều 29 – Khoản 3 Luật GTĐB III-CHUẨN BỊ:
Giáo viên : Tạo một mô hình hoặc sa bàn đường phố có những đường sau:
+ Một đường hai chiều, mỗi chiễu có 2, 3 làn xe; + Hai đường phụ đi vào đường chính;
+ Một ngã tư không có vòng xuyến; + Một ngã năm , ngã sáu có vòng xuyến;
+Vạch kẻ đường để phân chia đường. + Những mũi tên kẻ trên đường chỉ hướng xe đi.
GV chuẩn bò những ô tô, xe máy, xe đạp, đèn tín hiệu giao thông có thể bằng giấy màu có
thể di chuyển được trên mô hình Xem hình vẽ mô hình A kèm theo.
IV-CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH Hoạt động của GV
Hoạt động của HS Hoạt động 1:
Trò chơi đi xe đạp trên sa bàn
a Mục tiêu: Biết cách điều khiển xe an toàn trên đường An toàn giao thông 5
3
giao nhau có hoặc không có vòng xuyến. b Tiến hành: Giáo viên giới thiệu:
-GV giới thiệu mô hình một đoạn đường phố. -GV đặt các loại xe bằng giấy trên mô hình, gọi
1-2 HS chỉ trên sa bàn trình bày cách đi xe đạp từ một điểm này đến một điểm khác.
-GV hỏi về cách đi xe đạp với các tình huống khác nhau chỉ trân mô hình A, yêu cầu từng học
sinh trả lời chỉ trên mô hình hoặc sa bàn H : Để rẽ trái từ điểm A đến điểm N người đi xe
đạp phải đi như thế nào?
H : Người đi xe đạp nên đi như thế nào từ điểm O đến điểm D từ một đường phụ sang đường chính
mà ở ngã tư không có đèn tín hiệu giao thông?
H : Người đi xe đạp đi như thế nào từ điểm D đến điểm E hoặc điểm I?
H : Khi rẽ ở một đường giao nhau từ điểm A đến điểm N ai được quyền ưu tiên đi trước? người đi
xe đạp, các xe đi chiều ngược lại hay là người đi bộ qua đường?.
H : Người đi xe đạp nên đi qua vòng xuyến từ điểm A đến điểm K như thế nào?
H : Người đi xe đạp đi như thế nào từ điểm A đến điểm M?
H : Xe đạp nên đi vòng và vượt qua một xe đang đỗ Ô tô P ở phía làn xe bên phải như thế nào?
H : Khi đi xe đạp trên đường quốc lộ có rất nhiều xe chạy, muốn rẽ trái, người đi xe đạp phải đi như
thế nào? c Kết luận ghi nhớ
Các em đã học và nắm được cách đi xe đạp trên đường có những tình huống khác nhau. Chúng ta
cần nhở để khi lên lớp trên, đủ tuổi ta có the åđi xe đạp ra ngoài đường mà không sợ đi sai Luật
GTĐB. Hoạt động 2 :
Thực hành trên sân trường.
a Mục tiêu:Học sinh thể hiện được cách điều khiển xe an toàn qua đường giao nhau có hoặc
không có vòng xuyến. + Xe đạp luôn đi bên phải sát lề đường. Nhưng muốn rẽ
trái, người đi xe đạp không đi đến tận đường giao nhau mới rẽ, mà nên giơ tay trái xin đường, chuyển sang làn
xe bên trái khi đến sát đường giao nhau mới rẽ. + Đến gần ngã tư, người điều khiển xe đạp
phải đi chậm lại, quan sát cẩn thận các xe đi đến từ cả hai phía trên đường chính. Khi
không có xe ñi qua mới vượt nhanh qua đường để rẽ trái tới điểm D.
+ Đến điểm E, người đi xe đạp nên đi ở sát bên phải,
giơ tay phải xin đường để báo hiệu là mình chuẩn bò rẽ phải. Khi muốn đổi hướng sang điểm I, người đi xe đạp
giơ tay trái xin đường. + Xe đạp nên đi chậm lại và nhường đường
cho xe đi chiều ngược lại từ M đến ô tô P và người đi bộ đang qua đường.
+ Người đi xe đạp phải nhường đường cho các xe đi đến từ bên trái và đi sát vào bên phải.
+ Người đi xe đạp không được đi xuyên qua vạch kẻ đường liền mà phải đi đến đường
giao nhau và vòng theo hình chữ U qua vòng xuyến để đến điểm M
+ Người đi xe đạp giơ tay trái báo hiệu để đổi sang
làn xe bên trái, đi vượt qua xe đỗ, giơ tay phải xin trở về làn đường bên phải.
+ Người đi xe đạp phải đi chậm lại, quan sát phía sau và trước mặt, nếu có nhiều xe ô tô
đang chạy từ phía trước, phải dừng lại chờ, khi thấy xe còn ở xa mới vượt nhanh qua
đường.
An toàn giao thông 5
4
b Cách tiến hành: Giáo viên chuẩn bò kẻ sẵn trên sân trường một đoạn ngã tư, trên đường có vạch
kẻ phân làn đường đường 2 chiều và chia làn xe chạy 3 làn xe, 2 làn xe ô tô và 1 làn xe thô sơ.
Đường cắt ngang chỉ có một vạch chia 2 làn đường đường nhỏ hơn. Nếu có đèn tín hiệu giao
thông đặt ở góc ngã tư đường. H : Em nào biết đi xe đạp?
- Thầy mời một em đi xe đạp từ đường chính rẽ vào đường phụ theo cà hai phía rẽ phải và rẽ
trái; một em khác đi từ đường phụ rẽ ra đường chính cũng đi cả 2 phía. Một em khác đi khi gặp
đèn đỏ, đèn vàng … hoặc các tình huống khácnhư ở trên lớp đã thể hiện trên sa bàn.
Giáo viên hỏi thêm: H : Tại sao lại cần phải giơ tay xin đường khi
muốn rẽ hoặc thay đổi làn đường? H : Tại sao xe đạp phải đi vào làn đường sát bên
phải? c Kết luận ghi nhớ
Điều cần nhớ khi đi xe đạp là:Luôn luôn đi ở phía tay phải, khi đổi hướng muốn rẽ phải, rẽ trái đều phải đi chậm, quan sát
và giơ tay xin đường. Không bao giờ được rẽ ngoặt bất ngờ, vượt ẩu lướt qua
người đi xe phía trước. Đến ngã ba, ngã tư, nơi có đèn tín hiệu Giao thông phải đi theo hiệu lệnh của đèn.
- Các em quan sát bạn thực hiện và nhận xét.
+ Nhờ đó những xe ở phía sau có thể biết em đang đi theo hướng nào để tránh
+ Những xe có động cơ kích thước lớn và tốc độ cao
đều đi ở làn đường bên trái. Khi muốn vượt xe khác, các xe phải đi về phía trái của xe đi chậm hơn. Do đó
xe đạp cần đi ở làn đường bên phải để các xe khác không phải tránh xe đạp.
V-CỦNG CỐ – DẶN DÒ : a Mục tiêu:Nhắc nhở HS khi xe đạp phải đi theo đúng quy đònh của Luật giao thông đường bộ.
b Cách tiến hành -Yêu cầu HS nhắc lại những quy đònh cơ bản đối với người đi xe đạp để đảm bảo an toàn giao
thông. Nhắc HS nếu đi xe đạp trên đường phố các em cần thực hiện đúng những điều đã học. -Yêu cầu những HS có đi xe đạp đi học làm bản “Phương án xử lý các tình huống giao thông khi
đi học” -Cụ thể: Trên đường từ nhà đến trường em phải đi qua những đường phố nào, có mấy ngã ba, ngã
tư. Đi trên đường chính hay đường phụ?
Có chỗ ngoặt, trái hay phải, có đi qua đoạn đường khó hay vật cản nào không? Em hãy thống kê và đề ra cách xử lý khi đi đường đối với từng đoạn đường nguy hiểm.
Ngày soạn: 13 122006 Ngày dạy: 15122006
Bài 3 CHỌN ĐƯỜNG AN TOÀN, PHÒNG TRÁNH TAI NẠN GIAO THÔNG
I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức: Học sinh biết được những điều kiện an toàn và chưa an toàn của các con đường và
đường phố để lựa chọn con đường đi an toàn đến trường, đến CLB, Nhà thiếu nhi …
An toàn giao thông 5
5
- Học sinh xác đònh được những điểm, những tình huống không an toàn đối với người đi bộ và đối với người đi xe đạp để có cách phòng tránh tai nạn khi đi bộ và đi xe đạp trên đường.
2. Kỹ năng: Có thể lập một bản đồ con đường an toàn cho riêng mình khi đi học hoặc đi chơi. - Học sinh biết cách phòng tránh các tình huống không an toàn ở những vò trí nguy hiểm trên
đường để tránh tai nạn xảy ra. 3. Thái độ: Có ý thức thực hiện những quy đònh của Luật GTĐB, có các hành vi an toàn khi đi
đường. đội mũ bảo hiểm, đi đúng làn đường … - Tham gia tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện Luật giao thông và chú ý đề phòng ở
những đoạn đường dể xảy ra tai nạây2 II. CHUẨN BỊ:
1. Giáo viên: Chuẩn bò một bộ tranh, ảnh về đoạn đường an toàn và kém an toàn nếu có điều kiện có một đoạn băng hình về tình hình giao thông ở điạ phương.
- Bản đồ tượng trưng con đường từ nhà đến trường. - Bản kê những điều kiện an toàn và không an toàn của con đường.
2. Học sinh: Phiếu giao việc. III. CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH:
Hoạt động 1: Tìm hiểu con đường từ nhà đến trường. a Mục tiêu: Học sinh xác đònh được những vò trí không an toàn trên đường đi học và có cách
phòng tránh TNGT ở những vò trí đó. - Gây ý thức cho học sinhluôn quan tâm phòng tránhtai nạn khi đi trên đường phố.
b Cách tiến hành: Giáo viên hỏi: - Em đến trường phương tiện gì? đi bộ hay đi xe đạp?
- Em hãy kể về các con đường mà em phải đi qua, theo em con đường đó an toàn hay không an toàn?
+ Trên đường đi có mấy chỗ giao nhau? Đường bộ với đường bộ hay đường bộ với đường sắt? Đường lớn hay đường nhỏ?
+ Tại ngã ba, ngã tư có đèn tín hiệu giao thông không? Có mấy vạch kẻ đường cho người đi bộ sang đường không?Mấy nơi có, mấy nơi không có?
+ Trên đường có biển báo hiệu giao thông không? Em có biết đó là biển báo gì không? + Đường, phố em đi qua là đường một chiều hay đường hai chiều? Đường quốc lộ hay đường tỉnh,
huyện?. Nếu là đường hai chiềucó vạch kẻ đườnghay có giải phân cáchchia hai phần đường không?
+ Là đường nhựa, bêtông, mặt đường nhẵn hay đường đá, đường đất lồi lõm khó đi? + Trên đường có nhiều loại xe đi lại không? Hai bên đường có nhiều xe ôtô đỗ không?
+ Đường phố có vỉa hè không? Rộng hay hẹp?Vỉa hè có nhiều vật cản không? Cản hết hay chỉ từng đoạn?
+ Theo em có mấy chỗ em cho là không an toàn cho người đi bộ? Không an toàn cho người đi xe đạp? Vì sao? Gặp những chỗ nguy hiểm đó, em có cách xử lý như thế nào không? Em hãy nêu ví
dụ cụ thể - GV ghi tóm tắt các đặc điểm học sinh kể và ý kiến học sinh về mặt an toàn hay chưa an toàn và
cách phòng tránh những chỗ chưa an toàn. c Kết luận ghi nhớ:Trên đường đi học, chúng ta phải đi qua những đoạn đường phố khác nhau, em cần xác đònh
những con đường hoặc những vò trí không an toàn để tránhvà lựa chọn con đường an toàn để đi. Nếu có hai hay nhiều ngả đường khác nhau, ta nên đi con đường an toàn dù có phải đi vòng xa hơn.
Hoạt động 2: Xác đònh con đường an toàn đi đến trường. a Mục tiêu: Học sinh phân biệt được những điều kiện an toàn và kém an toàn của con đường khi
đi bộ và đi xe đạp. Biết được những vò trí và con đường kém an toàn để biết cách phòng tránh.Biết chọn con đường an toàn cho bản thân khi đi học, đi chơi.
An toàn giao thông 5
6
b Cách tiến hành:Giáo viên chia nhóm nhóm học sinh đi xe đạp và nhóm học đi bộ Giao cho các nhóm thảo luận đánh giá mức độ an toàn và không an toàn của đường phố theo bảng kê tiêu chí 19 tiêu
chí. HS trong nhóm sẽ ghi tên những phố 3 – 4 phố hoặc con đường khi đi học các em phải đi qua. Yêu cầu các nhóm, ghi chữ A hoặc chữ K, vào cột tên phố từ số 1 đến số 19. Đường phố có điều kiện của chữ A từ 1 đến 9 hay
là điều kiện của chữ K từ 11 đến 19. Ta sẽ có những đường phố có đặc điểm nhiều chữ A hay chữ K. Nếu con đường phố đó không có đặc điểm hay điều kiện của các tiêu chí đã nêu thì không ghi chữ. ví dụ nếu đường không có đường
sắt cắt ngang thì không ghi A hay K ở ô 8 và ô 17.. Cộng lại xem mỗi con đường hoặc phố có mấy chữ a, mấy chữ K. Nếu nhiều chữ A là đường an toàn, nhiều chữ K là đường kém an toàn.
Bảng đánh giá con đường an toàn và kém an toàn cho người đi bộ và xe đạp. Tên phố
Đặc điểm đường Phố A
Phố B Phố C
Phố D
1. Đường phẳng, trải nhựa hoặc bê tông.
A
2. Đường rộng có giải phân cách chia hai chiều
A
3. Đường một chiều có phân chialàn xe chạy.
A
4. Đường có vỉa hè rộng không bò lấn chiếm.
A
5. Ngã tư có đèn tín hiệu giao thông, có vạch bộ qua đường.
A
6. Đường có biển báo GT, vạch kẻ đường
A
7. Đường có đèn chiếu sáng, có vỉa hè rộng.
A
8. Có đường sắt cắt ngang có rào chắn
A
9. Đường quốc lộ có phần dành cho xe thô sơ và đường cho người đi bộ
10. Đường 2 chiều, hẹp các xe đi lại nhiều
K
11. Đường quốc lộ đường tỉnh không có làn đường dành cho xe thô sơ.
K
12. Đường dốc, nhiuề khúc quanh, hẹp.
K
13. Hai bên đường có nhiều ô tô đỗ.
K
14. Nhà sát đường không có vỉa hè
K
15. Đường có vỉa hè nhưng có nhiều vật cản
K
16. Đường có nhiều đường nhỏ ngõ cắt ngang.
K
17. Có đường sắt cắt ngang, không có rào chắn
K
18. Đi qua cầu hẹp, không có làn đường cho người đi bộ.
K
19. Đi qua vòng xuyến có nhiều ngả đường
K
Tổng cộng số chữ A Tổng cộng số chữ K
Ghi chú: A là đường an toàn, K là đường không an toàn. c Kết luận:Đi học hay đi chơi các em cần lựa chọn những con đường đủ điều kiện an toàn để đi.
Hoạt động 3: Phân tích các tình huống nguy hiểm và cách phòng tránh TNGT. a Mục tiêu:HS biết phân tích các tình huống nguy hiểm trên đường, biết cách phòng tránh
những nguy hiểm đó. - Có ý thức tham gia và biết tuyên truyền vận động mọi người chấp hành Luật GTĐB.
b Cách tiến hành :GV nêu một số tình huống nguy hiểm có thể gây TNGT trong các phiếu, chia cho các nhóm thảo luận phân tích tình huống nguy hiểm không an toàn đó là gì? Có thể
phòng tránh như thế nào? Em có thể giải thích cho người vi phạm như thế nào?
An toàn giao thông 5
7
Tình huống 1:“Có một anh thanh niên đi xe máy phóng nhanh qua trước cổng trường em, cách trường mấy trăm mét đã có biển báo hiệu có trẻ em . Một bạn học sinh nhỏ chạy qua đường vội quá, chạy vấp ngã, suýt nữa thì
bò xe máy đâm vào. Mọi người bắt anh thanh niên đi xe máy dừng lại xem bạn học sinh có bò làm sao không? Rất may bạn đó không việc gì, nhưng cần phải cho anh thanh niên kia một bài học”.
Em hãy phân tích tình huống nguy hiểm ở đây là gì? Hậu quả xảy ra như thế nào? Vì sao có tình huống nguy hiểm này? Em sẽ nói gì với anh thanh niên đi xe máy?
Mời đại diện một nhóm lên phân tích tình huống này. GV viết lên bảng tóm tắt các ý trả lời của học sinh.
Tình huống 2: “Trên đường đi chơi ngày chủ nhật, qua đường quốc lộ, em nhìn thấy một người đi xe đạp đi
vào phần đường dành cho xe cơ giới. Ô tô, xe máy rất đông. Người đi xe đạp có vẻ luống cuống.” Tình huống nguy hiểm ở đây là gì? Có thể có hậu quả gì xảy ra? Vì sao có tình huống này?
Nếu gặp được người đi xe đạp lúc đó, em sẽ nói như thế nào? Thực hiện như trên
Tình huống 3: “Trên đường đi học về, vào giờ cao điểm, người đi làm, đi học về rất đông. Mấy người bạn ở lớp khác cùng trường em cứ đi bộ dưới lòng đường nơi xe cộ đi lại rất nhiều. Còi xe bóp inh ỏi, nhưng các bạn ấy vẫn cười
nói thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra” Tình huống nguy hiểm ở đây là gi? Có thể có hậu quả gì xảy ra?Vì sao có tình huống này? Em
có gọi các bạn để nhắc phải đi lên vỉa hè không? Nếu nói, em sẽ nói như thế nào với các bạn em? GV có thể đưa ra 3 bức tranh vẽ minh hoạ 3 tình huống trên để HS phân tích và đưa ra ý kiến
của mình. c Kết luận ghi nhớ
Các tình huống trên đều nói về hành vi không an toàn của người tham gia giao thông. Các tình huống này đều có thể dẫn đến tai nạn GT rất nguy hiểm. Do đó việc giáo dục mọi người ý thức chấp hành Luật GTĐB là cần thiết để
đảm bảo ATGT.
Hoạt động 4: Luyện tập
Xây dựng phương an lập con đường an toàn đến trường và bào đảm ATGT ở khu vực trường học. a Mục tiêu: Củng cố kiến thức đã học, biết đánh giá con đường an toàn và biện pháp để bảo
đảm an toàn giao thông. - Biết giải thích cho mọi người về những quy đònh bảo đảm ATGT và nhắc nhở ý thức chấp
hành Luật GTĐB. b Cách thực hiện: Đưa giả đònh tình huống: Trường em sắp đón các bạn HS lớp một, là những
“anh, chò hai” của trường, các em hãy giúp các bậc phụ huynh của các bạn HS lớp một lập phương án an toàn đến trường để tránh TNGT và đảm bảo ATGT ở khu vực trường học.
GV chia lớp thành 2 nhóm: Nhóm 1 :lập phương án “Con đường an toàn đi đến trường”.
Nhóm 2 : phương án “ Bảo đảm ATGT ở khu vực gần trường” Nội dung mỗi phương án có 2 phần.
Phần 1: Những con đường, những nơi chưa an toàn. Nói rõ những điều kiện hoặc tình huống
không an toàn có thể gặp phải trên đường đi học. Phần 2: Cách phòng tránh biện pháp.
Với phương án 1: Tuỳ từng đòa phương, giáo viên gợi ý để học sinh đưa ra cách đi an toàn và cáh phải xử lý khi đi qua những chỗ kém an toàn.
Ví dụ: HS ở thành phố, thò xã phải đi qua những phố có nhiều xe đạp, xe máy, ôtô, người đi bộ tạt sang đường ở mọi chỗ. Nhiều chỗ đường hẹp, vỉa hè, để nhiều xe đạp, xe máy hàng quán
bày bán không còn lối đi …
An toàn giao thông 5
8
+ Hs ở vùng ngoại thành, ngoại thò phải đi học trên đường quốc lộ hoặc đường tỉnh, không có vỉa hè, không có đèn tín hiệu GT, ô tô xe tải chạy tấp nập, đi xe đạp và sang đường rất nguy hiểm
… + Hs ở nông thônđi trên đường huyện, đường xã nhiều nơi chưa có đường tốt, phải đi trên
đường đá, đường đất gồ ghề, trời mưa trơn, nhiều hố nước. Đường hẹp mà các loại xe cộ, người đi bộ và gia súc cùng chung rất nguy hiểm …
Yêu cầu Hs nêu ra phương án giải quyết đối với từng nơi. Với phương án 2: Tuỳ theo đòa điểm của trường và tình hình giao thông ở khu vực gần trường
để có phương án phù hợp. Ví dụ: Trường nằm ngay trên trục lộ giao thông chính của thành phố, các loại xe và người đi
rất đông, đặc biệt vào lúc tan học cửa trường không có chỗ đậu xe máy, xe đạp cho cha mẹ đón con …
+ Trường nằm ngay trên đường quốc lộ hoặc nằm trong ngõ, đường nhỏ thông ra đường lớn là trục lộ giao thông chính rất nhiều xe qua lại chạy với tốc độ nhanh, sang đường rất nguy hiểm …
+ Trường nằm ở khu đông dân cư, nhiều xe cộ và người đi lại mà đường giao thông rất hẹp, thường bò ách tắc nhấnt là khi tan học …
Với các tình huống cụ thể đó thì cần có biện pháp cho cha mẹ HS đưa, đón con, cho Hs đi xe đạp, đi bộ ra về đi sang đường như thề nào?
Lưu ý: HS có thể nói đến nhiệm vụ của Chính quyền đòa phương, Công an …, nhưng chủ yếu nên nói về biện pháp đối với HS và cha mẹ học sinh để giáo dục nhắc nhở ý thức bào đảm
ATGT. - Mỗi nhóm cử một học sinh báo cáo phương án của nhóm, cả lớp theo dõi xây dựng phương
án. - Giáo viên lên bảng để trống phần nội dung – chỉ điền vào khi cả lớp đóng góp ý kiến.
c Kết luận ghi nhớ Các em đã vận dụng kiến thức ATGT để đề ra được các biện pháp bảo đảm ATGT. Cô khen
ngợi và mong các em thực hiện tốt. Chúng ta khong những chỉ thực hiện đúng Luật GTĐB để đảm bảo an toàn cho bản thân,
chúng ta còn phải góp phần làm cho mọi người có hiểu biết và có ý thức thực hiện Luật GTĐB, phòng tránh TNGT.
V. CỦNG CỐ: - GV nhận xét giờ học.
- Nhắc học sinh 2 nhóm cử người hoàn thiện phương án chuẩn bò ở lớp để báo cáo thầy Hiệu trưởng.
Ngày soạn: 322005 Ngày dạy: 422005
Bài 4: NGUYÊN NHÂN TAI NẠN GIAO THÔNG I. MỤC TIÊU:
1. Kiến thức:Học sinh hiểu được các nguyên nhân khác nhau gây ra TNGT do điêuù kiện đường xá, phương tiện giao thông, những hành vi, hành động không an toàn của con người.
Nhận xét, đánh giá được các hành vi an toàn và không an toàn của người tham gia giao thông.
An toàn giao thông 5
9
2. Kỹ năng:Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học để phán đoán nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông những trường hợp mà các em biết
3. Thái độ: Có ý thức chấp hành đúng Luật GTĐB để tránh tai nạn giao thông. Vận động các bạn và những người khác thực hiện đúng Luật GTĐB để bảo đảm ATGT.
II. NỘI DUNG AN TOÀN GIAO THÔNG: 1. Những nguyên nhân gây ra TNGT: Người tham gia giao thông không chấp hành Luật
GTĐB: Không đi đúng phần đường quy đònh, không tuan theo tín hiệu đèn giao thông, biển báo hiệu giao thông và hiệu lệnh của cảnh sát giao thông, say rượu , chạy quá tốc độ, vượt sai quy
đònh …
- Các điều kiện giao thông không an toàn: Đường xấu, đường quá chật hẹp, thiếu biển báo hiệu và đèn tín hiệu giao thông, đường ngập nước, thời tiết xấu, chướng ngại vật trên đường …
- Phương tiện giao thông không an toàn: Thiếu hoặc không có thiết bò an toàn Phanh, đèn hiệu, đèn chiêú sáng, đèn phản quang, gương chiếu hậu, máy trục trặc, săm, lốp hỏng hoặc quá
cũ nát, thiếu dụng chống đắm tàu, thuyền, phao cứu sinh …. - Khoảng cách và tốc độ của phương tiện: Xe, tàu đi với tốc độ càng nhanh thì cần một
khoảng cách dài hơn để dừng lại. Xe, tàu to chở nhiều hàng ngay cả khi đi chậm cũng rất nguy hiểm .
Các điều luật liên quan: Điều 8 – Khoản 3, 6, 7, 8; Điều 17.-Khoản 1, 2, 3 ; Điều 18 – Khoản 1, .2 luật GTĐB.
III. CHUẨN BỊ: 1. Giáo viên:Chuẩn bò một câu chuyện về TNGT.
Ví dụ 1: “Buổi sáng ngày 17 tháng 01 năm 2001, trên quốc lộ 1A đòa bàn huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh, xe gắn máy mang biển số 52N – 3813 do Nguyễn Kim Chính 43 tuổi,
ngụ ở huyện Bình Chánh điều khiển đã bò ô tô mang biển số 60N – 8241 lưu thông phía sau đâm phải, người điều khiển xe gắn máy chết tại chỗ”.
Ví dụ 2: “Tối ngày 30042002 trên tuyến sông Lam, thuộc đòa bàn xã Khai Sơn, tỉnh Nghệ An, chò Phạm Thò Huệ 16 tuổi, dùng thuyền gia dụng chở 6 người qua sông Lam, do chở quá tải
thuyền nhỏ mà lại chở nhiều người và do trời tối, khi thuyền ra giữa sông gặp sóng thuyền bò lật chìm chết 3 người. Hậu quả chết người đó là do chò Huệ đã không hiểu quy đònh an toàn về giao
thông đường thuỷ, dùng thuyền nhỏ chở nhiều người qua sông lớn và đi vào ban đêm.
- Chuẩn bò một số bức tranhvẽ các tình huống sang đường sang đường an toàn, sang đường không an toàn người đi bộ và đi xe đạp.
2. Học sinh - Mỗi em học sinh chuẩn bò một câu chuyện về TNGT hoặc do em chứng kiến, hoặc do người khác kể lại hay sưu tầm trên báo chí …
IV. CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH Hoạt động 1: Tìm hiểu nguyên nhân một TNGT.
a Mục tiêu:HS hiểu được các nguyên nhân khác nhau dẫn đến TNGT, trong đó nguyên nhân chính là do sự bất cẩn của người điều khiển phương tiện. Từ đó hình thành ý thức chấp hành
nghiêm chỉnhluật GTĐB. - Biết vận dụng để tìm hiểu nguyên nhân của các TNGT khác.
b Cách tiến hành.- Gv treo các bức tranh vẽ đã chuẩn bò trên tường của lớp học. - Gv đọc mẩu tai nạn giao thông: “Buổi sáng ngày 17 tháng 01 năm 2001, trên quốc lộ 1A
đòa bàn huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh, xe gắn máy mang biển số 52N – 3813 do Nguyễn Kim Chính 43 tuổi, ngụ ở huyện Bình Chánh điều khiển đã bò ô tô mang biển số 60N – 8241 lưu
thông phía sau đâm phải, người điều khiển xe gắn máy chết tại chỗ”. Báo thanh niên số 19 ngày 19012002
Gv có thể tìm một mẩu tin khác về TNGT thuộc đia phương mình cho gần gũi với HS
- Gv phân tích làm mẫu: An toàn giao thông 5
10
+ Hiện tượng: Xe ô tô đâm vào xe máy đi cùng chiều. + Xảy ra ra vào thời gian nào? Sáng ngày 17012001, nếu có thông tin cụ thể vào giờ nào
để có thể biết có vào giờ cao điểm không + Xảy ra ở đâu? TP. Hồ Chí Minh, quận Bình Chánh, QL 1A
+ Hậu quả? Chết người nghiêm trọng + Nguyên nhân: Có thể có những nguyên nhân sau GV ghi lên bảng
- Người đi xe máy rẽ trái không xin đường vi phạm luật - Người đi xe máy có xin đường nhưng có thể đèn hiệu xin đường hỏng do phương tiện
không an toàn. - Do khoảng cách giữa xe máy và ô tô quá gần, xe máy phanh gấp thắng, người lái ô tô
không giữ đúng khoảng cách cần thiết, chạy tốc độ nhanh nên không xử lý kòp do người điều khiển phương tiện.
- Người lái ô tô không làm chủ tốc độ hoặc không chú ý có xe máy đi gần ô tô, khi nhìn thấy, xử lý phanh thì đã không kòp do người điều khiển phương tiện.
- Có thể do bộ phận phanh thắng, hãm của ô tô bò hỏng, trục trặc kỹ thuật do phương tiện.
Hỏi: Qua mẩu chuyện vừa phân tích trên, em cho biết có mấy nguyên nhân dẫn đến tai nạn? Nguyên nhân nào là nguyên nhân chình?
Yêu cầu trả lời: Có 5 nguyên nhân, trong 5 nguyên nhân thì 3 nguyên là do người điều khiển phương tiện gây ra, vì thế đó là nguyên nhân chính
c Kết luận: Hàng ngày đều có các tai nạn giao thông xảy ra. Nếu có tai nạn ở gần trường hoặc nơi ta ở, ta cần biết rõ nguyên nhân chính để biết cách phòng tránh TNGT.
Hoạt động 2: Thử xác đònh nguyên nhân gây TNGT. a Mục tiêu: Nắm được một cách đầy đủ nguyên nhân gây ra TNGT, hiểu được nguyên
nhân chính, chủ yếu là do người tham gia giao thông chưa có ý thức chấp hành Luật GTĐB.Gây ấn tượng sâu sắc sự nguy hại của TNGT; Nâng cao ý thức chấp hành theo Luật GTĐB để tránh tai
nạn giao thông.
b Cách thực hiện:Yêu cầu một số em có thể mỗi tổ cử một em Kể các câu chuyện về TNGT mà em biết. Chọn 2 – 3 em trong số các câu chuyện đã kể Gv cho là tiêu biểu, thiết thực
đối với các em, có đầy đủ các chi tiết va øcó tính giáo dục Gv yêu cầu các em phân tích những nguyên nhân câu chuyện đó.
Cách phân tích như cô đã làm “Mẫu”. c Kết luận:Hiện nay TNGT hàng ngày xảy ra rất nhiều. Nguyên nhân chính là do người
tham gia giao thông không thực hiện đúng quy đònh của luật GTĐB. Những điều ta được học ATGT ở nhà trường để giúp chúng ta có hiểu biết về cách đi trên đường đúng quy đònh, phòng
tránh TNGT. Ta cần ghi nhớ và thực hiện đúng để bảo đảm ATGT.
Hoạt động 3: Thực hành làm chủ tốc độ.Hoạt động này tuỳ Gv, có thể thực hiện hoặc không hay tìm cách giải thích cho học sinh hiểu sự liên quan giữa tốc độ của xe và nguyên nhân
gây TNGT. a Mục tiêu:Cho học sinh thấy sự liên quan trực tiếp giữa tốc độ và TNGT. Hầu hết các
TNGT đều do tốc xe đi quá nhanh, không xử lý kòp. Hs có ý thức khi đi xe đạp, phải đảm bảo tốc độ hợp lý, không được phóng nhanh để xảy ra
tai nạn. b Cách tiến hành:Thử nghiệm về tốc độ:
- Nếu có thể cho Hs chơi trên sân trường, Gv vẽ một đường thẵng trên sân, gọi hai học sinh yêu cầu một em đi bộ, một em chạy. Khi giáo viên hô: “Khởi hành”, một em chạy và một em đi
phía trước. Bất chợt Gv hô: “Dừng lại”. Hai em phải dừng lại ngay. Cả lớp quan sát xem ai dừng lại ngay, ai chưa dừng được ngay.
An toàn giao thông 5
11
- Có thể thử bằng việc đi xe đạp, rồi hô: “Dừng lại”. Cả lớp quan sát khoảng cách từ lúc hô “Dừng lại” Người đi xe bóp phanh đến lúc xe đạp dừng hẳn.
- Qua trò chơi thử nghiệm này, chỉ ra cho các em thấy: Nếu các em chạy nhanh thì không dừng lại ngay được so với người đi bộ. Xe đạp đang đi, khi bóp phanh cũng cần có một khoảng
cách xe mới dừng hẳn. Từ đó suy ra xe đạp, xe máy, ô tô khi đi cũng vậy: xe đi càng nhanh, thì gặp sự cố không thể dừng ngay, phải có một khoảng thời gian và độ dài cần thiết để xe dừng hẳn.
Vì vậy, nếu ta đi nhanh dễ gây ra tai nạn, ngược lại, nếu đi bộ mà các em đột ngột sang đường hoặc đi xe đạp mà đột ngột rẽ trái, rẽ phải thì chắc chắn sẽ bò xe đang đi tới đâm vào. Trong
trường hợp đó lỗi tại ai?
c Kết luận ghi nhớ Khi điều khiển bất cứ một phương tiện nào cần phải bảo đảm tốc độ hợp lý, không được
phóng nhanh để tránh tai nạn. V. CỦNG CỐ:
Giáo viên tổng kết lại rút ra từ các mẩu chuyên kể trên là: Các TNGT đều có thể tranh được, điều đó phụ thuộc vào các điều kiện sau:
1. Ý thức chấp hành Luật GT, kỹ năng điều khiển phương tiện, kỹ năng phòng tránh TNGT của người tham gia giao thông.
2. Chất lượng PTGT thiết bò an toàn: Phanh, đèn, gương chiếu hậu, lốp xe … 3. Điều kiện đường xà rộng, hẹp, bằng phẳng, gồ ghề, thảng hay khúc khuỷu … và các thiết bò
bảo đảm an toàn trên đường. Ngoài ra còn có yếu tố thời tiết, đòa hình, nhưng 3 điều kiện trên là chính, trong đó điều kiện con
người là quyết đinh. Gv có thể viết trên giấy cứng, ghim trên bảng hoặc trên tường lớp học, riêng nguyên nhân thứ
nhất viết chữ màu đỏ để gây chú ý nhiều hơn. Giao việc về nhà từ 1 đến 2 phút
Viết một bài tường thuật độ 200 chữ về một TNGT được chứng kiến hay nghe người khác kể, hoặc vẽ tranh, sưu tầm ảnh về chủ đề ATGT để tiết học sau sẽ trình bày giới thiệu ở lớp.
Ngày soạn: 3 32005 Ngày dạy: 4 32005
Bài 5: EM LÀM GÌ ĐỂ THỰC HIỆN AN TOÀN GIAO THÔNG I. MỤC TIÊU:
1. Kiến thức: Hs hiểu nội dung, ý nghóa các con số thống kê đơn giản về ATGT.
- Hs biết phân tích nguyên nhân của TNGT theo Luật GTĐB. 2. Kó năng:- HS hiểu và giải thích các điều luật đơn giản cho bạn bè và những người khác.
- Đề ra các phương án phòng tánh tai nạn giao thông ở cổng trường hay ở các điểm xảy ra tai nạn.
3. Thái độ- Tham gia các hoạt động của lớp, Đội Thiếu niên tiền phong TNTP về công tác bảo đảm ATGT.
- Hiểu được phòng ngừa TNGT là trách nhiệm của mọi người. - Nhắc nhở những bạn hoặc người chưa thực hiện đúng quy đònh của Luật GTĐB.
II. NỘI DUNG AN TOÀN GIAO THÔNG - Thảo luận về những số liệu thống kê về TNGT hàng năm của cả nước và ở đòa phương
do Uỷ ban ATGTQG cung cấp hoặc do Ban ATGT các tỉnh cung cấp các số liệu này. - Tham gia các hoạt động tuyên truyền để phòng ngừa tai nạn giao thông và tham gia đội
ATGT của trường. - Xây dựng ý thức trong cộng đồng và các biện pháp bắt buộc để đảm bảo cho các em được
an toàn. An toàn giao thông 5
12
III. CHUẨN BỊ 1. Giáo viên
- Chuẩn bò số liệu thống kê về TNGT hàng năm của cả nước và đòa phương. Ví dụ:“Tình hình TNGT cả nước trong tuần qua từ 19 – 2842002: Cả nước xảy ra 614 vụ
TNGT làm chết 225 người, bò thương 663 người, trung bình 1 ngày xảy ra 88 vụ TNGT”. -Theo báo Thanh niên số 119 ngày 2942002“Tính từ 19 đến 3092001, tháng An toàn
giao thông, toàn quốc xảy ra 2225 vụ TNGT đường bộ làm chết 792 người chết, 2630 người bò thương”trích Báo cáo của Uỷ ban ATGTQG – tháng 102001
- Viết các tình huống đóng vai - Viết các tình huống khó các tình huống có thể có 2 câu trả lời.
2. Học sinh - Mỗi em viết 1 bài khoảng 200 chữ, hoặc vẽ tranh từ 1 – 3 bức về chủ đề ATGT.
IV. CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH Có 2 hoạt động chính: tuyên truyền giáo dục ATGT và xây dựng phương án phòng tránh
TNGT cho Hs trong lớp. Qua hoạt động này giúp các em có ý thức tôn trọng Luật GTĐB, có kó năng tuyên truyền, biết vận dụng kiến thức đã học để xây dựng phương án phòng tránh TNGT
cho bản thân và cho các bạn.
Hoạt động 1: tuyên truyền aMục tiêu
Gây cho các em ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc về các TNGT, từ đó có ý thức tự giác phòng
tránh TNGT. b Cách thực hiện
Thông qua 4 hoạt động nhỏ Hoạt động 1A
- Gv chia cho mỗi tổ 1 khoảng tường của lớp để trưng bày sản phẩm, các tổ có thể chuẩn bò
ở nhà để đến lớp chỉ việc treo xem sản phẩm của các bạn trưng bày, nhận xét, chọn các sản phẩm có ý nghóa giáo dục tốt.
Hoạt động 1B Gv đọc số liệu đã sưu tầm, Hs phát biểu cảm tưởng
- Tin 1: “Tính từ ngày 192001 đến 3092001, tháng ATGT toàn quốc xảy ra 2225 vụ
TNGT đường bộ làm chết 792 người chết, 2630 người bò thương”. Trích Báo cáo của Uỷ ban ATGTQG – tháng 102001.
- Tin 2: “Tình hình TNGT cả nước trong tuần qua từ 19 – 2842002: Cả nước xảy ra 614 vụ TNGT làm chết 225 người, bò thương 663 người, trung bình 1 ngày xảy ra 88 vụ TNGT”.
Theo báo Thanh niên số 119 ngày 2942002. Gọi 1 – 2 Hs: Em có nhận xét gì về 2 mẩu tin trên?
Yêu cầu trả lời: Tính chất nghiêm trọng của sự việc và sự việc trên đã gây cho em cảm
giác “ghê sợ” về TNGT. Hoạt động 1C:
- Gọi 1 – 2 học sinh tự giới thiệu sản phẩm của mình Có thể là một mẩu tin sưu tầm, bài viết tranh, ảnh Phân tích nội dung phần ý nghóa của sản phẩm. Cảm tưởng “Sáng tác” hoặc sưu
tầm? - Hs nhận xét về sản phẩm của bạn?
Hoạt động 1 D: Trò chơi sắm vai: Mục đích: rèn kỹ năng tuyên truyền thuyết phục quần chúng.
- Gv nêu một tình huống nguy hiểm: “Bạn An đi sinh hoạt CLB, vì quá ham mê nên về
muộn. Trời đã tối, An phải đi xe đạp về nhà nhưng xe đạp của An không có đèn chiếu sáng, đèn phản quang, em lại mặc áo màu xanh thẫm. Con đường về nhà em lại không có đèn chiếu sáng.
An toàn giao thông 5
13
Trước tình huống này bạn An nên xử lý như thế nào để bảo đảm an toàn? Em có thể đưa ra giải pháp hợp lý và thuyết phục bạn an thực hiện có thể cho từ 1 – 2 cặp đóng vai.
Ví dụ: Đối thoại giữa A và B - A: Mình phải về nhà, vì nếu không về thì bố mẹ mình sẽ lo lắng.
- B: Nếu cậu về thì không an toàn, đi đường mà không ai nhìn thấy mình là rất nguy hiểm.
Rất có thể sẽ xảy ra tai nạn đối với cậu. - A: Vậy, theo cậu thì nên như thế nào?
- B: Tốt nhất là cậu điện thoại xin phép bố mẹ cậu cho cậu ở lại nhà mình. - A: Có lý Thế mà tớ không nghó ra.
Tình huống khác: Nếu nhà bạn An không có điện thoại thì sao? - A: Nhưng nhà tớ lại chưa có điên thoại.
- B: Vậy thì cậu gọi điện thoại về nhà ai ở gần nhà cậu, nhờ báo tin cho bố mẹ cậu biết. - A: Hàng xóm nhà tớ có điện thoại đâý, nhưng tớ lại không biết số điện thoại nhà họ. Thế
mới chán chứ - B: Thôi thế cậu đi với tớ sang nhà bạn tớ ở cùng phố, tớ mượn cho cậu một chiếc xe đạp
có đủ đén chiếu sang, đèn phản quang để đi về, mai đi học cậu đem đến đây đổi lại xe. Thế được chưa?
- A: i thế thì tuyệt quá Tớ cảm ơn cậu nhiều. Hoạt động 2: Lập phương án thực hiện ATGT.
a Mục tiêu: Nhằm làm cho các vận dụng kiến thức đã học để xây dựng phương án phòng
tránh TNGT cho bản thân và các bạn trong lớp. - Tập hợp cho học sinh ý thức quan tâm đến sự an toàn của bản than và của bạn bè.
b Cách thực hiện.Bước 1: Lập phương án thực hiện ATGT Chia lớp thành 3 nhóm
Nhóm 1 gồm các em tự đi xe đạp đến trường lập phương án “Đi xe đạp an toàn” Nhóm 2 gồm các em được cha mẹ đưa đến lớp bằng xe đạp, xe máy, lập phương án “Ngồi
trên xe máy an toàn” Nhóm 3 gồm các em nhà ở gần trường đi bộ đến trường, lập phương án “Con đường đi đến
trường an toàn” Phương án bao gồm các phần:
- Điều tra khảo sát; - Giải pháp Biện pháp khắc phục;
- Duy trì tổ chức thực hiện Kiểm tra. Bước 2: trình bày phương án tại lớp.
Ví dụ phương án “Đi xe đạp an toàn” Nội dung trình bày.
Khảo sát, điều tra. - Thống kê có bao nhiêu bạn đi xe đạp, bao nhiêu chiếc có chất lượng tốt, bảo đảm an toàn,
bao chiếc chưa bảo đảm an toàn? Cụ thể: Cỡ xe, phanh thắng, săm, lốp, đèn, chuông .. - Có bao nhiêu bạn đi xe thành thạo? Có bao nhiêu bạn mới tập đi?
- Có bao nhiêu bạn chưa nắm vựng điều Luật qui đònh đối với người đi xe đạp? … Kế hoạch, biện pháp thực hiện.
Bao gồm các việc: Xe đạp nào chưa bảo đảm an toàn, phải được sửa chữa Đề nghò bố mẹ
cho tiền sửa chữa; Bạn nào đi xe đạp của bố mẹ xe đạp người lớn phải tìm cách khắc phục. Ví dụ: Hỏi ý kiến bố mẹ xem có thể mua cho bạn chiếc xe đạp phù hợp hay không, hoặc phải hạ cọc
yên xuống thấp nhất.
- Bàn nào đi xe đạp chưa vững phải tổ chức tập đi và kiểm tra lại. An toàn giao thông 5
14
- Bàn nào chưa nắm vững quy đònh đối với người đi xe đạp trên đường phải cử người giúp đỡ học lại Luật GTĐB và kiểm tra lại.
Tổ chức thực hiện.Lên kế hoạch thời gian thực hiện cho từng việc và phân công người thực hiện, người kiểm tra.
Ví dụ: Lập một biểu như sau: Nội dung công việc
Số lượng Phân công
Điều kiện thực hiện Thời gian
1. Sửa chữa xe đạp 2. Điều chỉnh cỡ xe.
2 chiếc 2 chiếc
Bạn A , B Bạn C, D
Xin tiền sửa Gặp bố mẹ bạn đề
xuất ý kiến Ngày, tháng
3. Học Luật đi đường. 4. Kiểm tra Luật GT
3 bạn 3 bạn
Các bạn T, N, Q
Mời cô giáo giúp như trên
Ngày, tháng
5. Tổ chức tập đi xe 6. Kiểm tra đi xe
3 bạn 3 bạn
Các bạn H, I, K
Buổi chiều tan học Mời cô TPT giúp
Ngày, tháng Với các nhóm 2 và 3 cũng thực hiện tương tự như vậy.
Tại lớp có thể chỉ đủ thời gian cho một nhóm trình bày và các bạn bổ sung. Còn hai nhóm khác có thể tổ chức báo cáo vào buổi sinh hoạt lớp hoặc sinh hoạt đội.
V. CỦNG CỐ:Gv nêu nhận xét về các hoạt động của học sinh, đánh giá ý thức học tập của các em. Đặt ra những nhiệm vụ phải làm lâu dài để đảm bảo an toàn giao thông.
Trò chơi xe đạp trên sa bàn: a Mục tiêu: Biết cách điều khiển xe an toàn trên đường giao nhau có hoặc không có vòng
xuyến -Phán đoán và nhận thức được các điều kiện an toàn hay không an toàn khi đi xe đạp có thể
điều khiển tốc độ, vòng tránh xe ô tô và các phương tiện khác, chú ý và tránh các nguy hiểm khác trên đường.
b Cách tiến hành:GV giới thiệu: Hôm nay chúng ta sẽ học các hành vi an toàn để phòng tránh tai nạn khi đi xe đạp. Chúng ta cùng
quan sát mô hình A GV đưa ra mô hình A cho cả lớp quan sát GV giới thiệu mô hình một đường phố, em nào có thể giải thích những vạch kẻ đường, mũi tên
trên mô hình hoặc sa bàn. -GV đặt các loại xe bằng giấy hoặc đồ chơi trên mô hình, gọi một học sinh, gọi một học sinh chỉ
trên sa bàn trình bày cách đi xe đạp từ một điểm này tới một điểm khác. -Gv hỏi về cách đi xe đạp với các tình huống khác nhau chỉ trên mô hình A, yêu cầu từng học
sinh trả lời trên mô hình hoặc sa bàn: 1 để rẽ trái Từ điểm A đến điểm N người đi xe đạp phải đi như thế nào?
+Trả lời: Xe đạp luôn đi bên phải sát lề đường. Nhưng khi muốn rẽ trái, người đi xe đạp không nên đi đến tận đường giao nhau mới rẽ, mà nên giơ tay trái xin đường, chuyển sang làn xe
bên trái khi đến sát đường giao nhau mới rẽ. 2 Người đi xe đạp nên đi như thế nào từ điểm O đến điểm D từ một đường phụ sang đường
chính mà ở ngã tư không có đèn tín hiệu giao thông. +Trả lời: Đến ngã tư, người điều khiển phải đi chậm lại, quan sát cẩn thận các xe đến từ cả
hai phía trên đường chính. Khi không có xe đi qua mới vượt nhanh qua đường để rẽ trái tới điễm D.
3 Người đi xe đạp đi như thế nào từ điểm D đến điểm E hoặc điểm I? +Trả lời: Đến điểm E, người đi xe đạp nên đi sát bên phải, giơ tay xin đường để báo hiệu là
mình chuẩn bò rẽ phải. Khi muốn đổi hướng sang điểm I, người đi xe đạp giơ tay trái xin đường. An toàn giao thông 5
15
4 Khi rẽ ở một đường giao nhau từ điểm A đến điểm N ai được quyền ưu tiên đi trước? người đi xe đạp, các xe đi ngược lại hay là người đi bộ qua đường?
+Trả lời: Xe đạp nên đi chậm lại và nhường đường cho xe đi ngược chiều lại từ M đến ô tô P và người đi bộ ngang qua đường.
5 Người đi xe đạp nên đi qua vòng xuyến từ A đến điểm K như thế nào? +Trả lời: Người đi se đạp phải nhường đường cho các xe đi đến từ bên trái và đi sát vào bên
phải. 6Người đi xe đạp đi như thế nào từ điểm A đến điểm M?
+Trả lời: Người đi xe đạp không được đi xuyên qua vạch kẻ đường liền mà phải đi đến đường giao nhau và vòng theo hình chữ U qua vòng xuyến để đi đến điểm M.
7 Xe đạp nên đi vòng và vượt qua một xe đang đỗ Ôtô P ở phía làn xe bên phải như thế nào? +Trả lời: Người đi xe đạp giơ tay trái báo hiệu để đổi sang làn xe bên trái, đi vượt qua xe đỗ,
giơ tay phải xin trở về làn đường bên phải. 8 Gv hỏi thêm tuỳ thực tế đòa phương: Khi đi xe đạp trên đường quốc lộ có rất nhiều xe chạy,
muốn rẽ trái, người đi xe đạp, người đi xe đạp phải đi như thế nào? +Trả lời: Người đi xe đạp phải đi chậm lại, quan sát phía sau và trước mặt, nêú có nhiều xe ô
tô đang chạy từ phía sau hoặc phía trước, phải dừng lại chờ, khi thấy xe còn ở xa mới vượt nhanh qua đường.
c Kết luận ghi nhớ Các em đã học và nắm được cách đi xe đạp trên đường có những có tình huống khác
nhau. Chúng ta cần nhớ để khi lên lớp trên, đủ tuổi ta có thể đi xe đạp ra ngoài đường mà không sợ đi sai Luật GTĐB.
Hoạt động 2: THực hành trên sân trường. a Mục tiêu:Hs thể hiện được cách điều khiển xe an toàn qua đường giao nhau có hoặc không
có vòng xuyến. b Cách tiến hành:Gv chuẩn bò kẻ sẵn trên sân trường một đoạn ngã tư, trên đường có vạch kẻ
phân làn đường đường hai chiều và chia làn xe chạy 3 làn xe, 2 làn xe ô tô và 1 làn xe thô sơ. Đường cắt ngang chỉ có một vạch chia hai làn đường đường nhỏ hơn. Nếu có đèn tín hiệu giao
thông đặt ở góc ngã tư đường.
Gv hỏi: - Em nào biết đi xe đạp? Cô mời một em đi xe đạp đi đường chính rẽ vào đường phụ theo cả hai phía rẽ trái và rẽ
phải; Một em khác đi từ đường phụ rẽ ra đường chính cũng đi cả hai phía. Một em khác đi gặp đèn đỏ, đèn vàng … hoặc các tình huống như ở trên đã thể hiện trên sa bàn.
Các em quan sát bạn thực hiện và nhận xét. Gv hỏi thêm: Tại sao lại giơ tay xin đường khi muốn rẽ hoặc thay đổi làn đường?
+Trả lời :Nhờ đó những xe ở phía sau có thể biết em đang đi theo hướng nào để tránh.
H: Tại sao xe đạp phải đi vào làn đường sát bên phải? +Trả lời: Những xe có động cơ kích thước lớn và tốc độ cao đề đi ở làn đường bên trái. Khi
muốn vượt xe khác, các xe phải đi về phía trái của xe đi chậm hơn. Do đó xe đạp cần đi ở làn đường bên phải để các xe khác không phải tránh xe đạp
c Kết luận ghi nhớ Điều cần nhớ khi đi xe đạp là:Luôn luôn đi ở phía tay phải, khi đổi hướng muốn rẽ phải, rẽ
trái đều phải đi chậm quan sát và giơ tay xin đường.Không bao giờ được rẽ ngoặt bất ngờ, vượt ẩu lướt qua người đi xe phía trước. Đến ngã ba, ngã tư, nơi có tín hiệu GT phải đi theo hiệu lệnh
của đèn. V: CỦNG CỐ:
a Mục tiêu:Nhắc nhở học sinh nếu đi xe đạp phải đi theo đúng quy đònh của Luật GTĐB.Xây dựng một số phương án đảm bảo an toàn khi đi xe đạp đối với học sinh đi xe đạp đi học.
An toàn giao thông 5
16
b Cách tiến hành:Yêu cầu học sinhnhắc lại những quy đònh cơ bản đối với người đi xe đạp để đảm bảo ATGT. Nhắc học sinh nếu đi xe đạp trên đường phố các em thực hiện đúng những điều
đã học.Yêu cầu những học sinh có xe đạp đi học làm bản “Phương án xử lý các tình huống giao thông khi đi học”
Cụ thể: Trên đường từ nhà đến trường em phải đi qua những đường phố nào, có mấy ngã ba, ngã tư.
Đi trên đường chính hay đường phụ? Có chỗ ngoặc, trái hay phải, có đi qua đoạn đường khó hay vật cản nào không?
Em hãy đề ra cách xử lý khi đi đường đối với từng đoạn đường nguy hiểm.
An toàn giao thông 5
17

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Dặn dò : Ôn lại kiến thức đã học .

Tải bản đầy đủ ngay(17 tr)

×