Tải bản đầy đủ - 17 (trang)
Cách tính tỉ lệ lạm phát 4 Phân loại lạm phát 1. Căn cứ vào định lượng

Cách tính tỉ lệ lạm phát 4 Phân loại lạm phát 1. Căn cứ vào định lượng

Tải bản đầy đủ - 17trang

Theo trường phái lạm phát giá cả họ cho rằng lạm phát là “sự tăng giá”. Thực chất lạm phát chỉ là một trong nhiều nguyên nhân của tăng giá. Có những thời kỳ giá mà
khơng có lạm phát như: thời kỳ “cách mạng giá cả” ở thế kỷ XVI ở châu Âu, thời kỳ hưng thịnh của một chu kỳ sản xuất, những năm mất mùa... tăng giá chỉ là hệ quả là một
tín hiệu dễ thấy của lạm phát nhưng có lúc tăng giá lại trở thành nguyên nhân của lạm phát. Lạm phát xảy ra là do tăng nhiều yếu tố chứ không phải chỉ đơn thuần do tăng giá.
Vì vậy quan điểm của trường phái này đã lẫn lộn giữa hiện tượng và bản chất, làm cho người ta dễ ngộ nhận giữa tăng giá và lạm phát.
 Trường phái Karl Marx
K.Marx đã cho rằng: lạm phát là “sự tràn đầy các kênh, các luồng lưu thông những tờ giấy bạc thừa làm cho giá cả mức giá tăng vọt và việc phân phối lại sản
phẩm xã hội giữa các giai cấp trong dân cư có lợi cho giai cấp tư sản”. Ở đây Marx đã đứng trên góc độ giai cấp để nhìn nhận lạm phát, từ đó dẫn tới việc người ta có thể hiểu
lạm phát là do giai cấp tư bản chủ động tạo ra để bóc lột một lần nữa giai cấp vơ sản. Trường phái này có nhược điểm là cho rằng lạm phát chỉ là phạm trù kinh tế của nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa và chưa nêu được ảnh hưởng của lạm phát trên phạm vi quốc tế. Trên đây là các quan điểm của các trường phái kinh tế học chính. Nói chung các
quan điểm đều chưa hoàn chỉnh, nhưng đã nêu được một số mặt của hai thuộc tính cơ bản của lạm phát.
Ở nước ta cũng như nhiều nước khác, quan niệm của trường phái giá cả được chấp nhận tương đối phổ biến. Sở dĩ như vậy là vì thế kỷ XX là thế kỷ lạm phát, lạm
phát hầu như diễn ra ở tuyệt đại bộ phận các nước mà sự tăng giá lại là tín hiệu nhạy bén, dễ thấy của lạm phát. Nói chung, lạm phát chính là một hiện tượng của các nền kinh
tế thị trường, và chúng ta sẽ hiểu đơn giản lạm phát là “sự tăng giá kéo dài, là sự thừa các đồng tiền trong lưu thông, là việc nhà nước phát hành thêm tiền nhằm bù đắp bội chi
ngân sách”.

1.1.2. Cách tính tỉ lệ lạm phát 4


Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát mà nó là suất tăng của mức giá tổng quát theo thời gian. Vấn đề đặt ra trước tiên là mức giá tổng qt được tính tốn như thế
nào? Hai thước đo thơng dụng phản ánh mức gía tổng quát là chỉ số giá tiêu dùng CPI và chỉ số điều chỉnh GDP GDP deflator.

Chỉ số giá tiêu dùng CPI là một tỷ số phản ánh giá của rổ hàng hoá trong
nhiều năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hố đó trong năm gốc 1. Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hoá tiêu dùng.
Về mặt tính tốn, CPI được tính như sau: Trong đó:
i
q
: rỗ hàng hoá,
i
p
: giá của các mặt hàng t : năm hiện hành
0 : năm gốc

Chỉ số điều chỉnh GDP là loại chỉ số có mức bao phủ rộng nhất. Nó bao gồm
tất cả các hàng hố và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế và trọng số tính tốn được điều chỉnh tuỳ thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của các loại hàng hố và dịch vụ
vào giá trị gia tăng. Về mặt khái niệm, đây là chỉ số đại diện tốt hơn cho việc tính tốn tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế. Tuy nhiên, chỉ số giá này không phản ánh trực tiếp sự biến
động trong giá hàng nhập khẩu cũng như sự biến động của tỷ giá hối đoái. Về mặt tính tốn, chỉ số điều chỉnh GDP được tính như sau:
Trong đó:
i
q
: rỗ hàng hố,
i
p
: giá của các mặt hàng t : năm hiện hành
0 : năm gốc
1.1.3. Phân loại lạm phát 1.1.3.1. Căn cứ vào định lượng
Chỉ số điều chỉnh GDP =
i i
t i
t i
t
p q
p q
. .
∑ ∑
CPI =
i i
i t
i
p q
p q
. .
∑ ∑

Lạm phát vừa phải: là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10 một
năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối. Trong thời kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thường, đời sống của người lao động ổn định. Sự ổn định đó
được biểu hiện: giá cả tăng chậm, lãi suất tiền gửi khơng cao, khơng xảy ra tình trạng mua bán và tích trữ hàng hố với số lượng lớn…Có thể nói đây là mức lạm phát mà nền
kinh tế chấp nhận được, những tác động của nó là không đáng kể.

Lạm phát phi mã: là lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ
2 con số 1 năm. Ở mức 2 con số thấp: 11,12 thì nói chung các tác động tiêu cực khơng đáng kể và nền kinh tế vẫn có thể chấp nhận được. Nhưng khi tăng đến hai chữ số cao
thì lạm phát sẽ làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá. Lúc này người dân tích trữ hàng hố, vàng bạc, bất động
sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường. Như vậy lạm phát sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất và thu nhập. Bên cạnh đó lạm phát phi mã còn là mối đe
doạ đối với sự ổn định của nền kinh tế.

Siêu lạm phát: là lạm phát 3 con số một năm, xảy ra khi lạm phát đột biến
tăng lên với tốc độ rất nhanh, tỷ lệ lạm phát cao. Tốc độ và tỷ lệ siêu lạm phát vượt xa lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh
khủng, giá cả tăng nhanh và không ổn định, tiền lương thực tế của người lao động bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thơng tin khơng còn chính xác, các yếu tố thị
trường biến dạng và hoạt động sản xuất kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn, mất phương hướng. Tóm lại, siêu lạm phát làm cho đời sống và nền kinh tế suy sụp một cách
nhanh chóng. Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít xảy ra.

1.1.3.2. Căn cứ vào định tính



Lạm phát cân bằng và lạm phát khơng cân bằng:
• Lạm phát cân bằng: Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao
động, tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó khơng gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và đến nền kinh tế nói
chung. •
Lạm phát khơng cân bằng: Tăng khơng tương ứng với thu nhập của người lao động. Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra.
 Lạm phát dự đốn trước được và lạm phát bất thường:

Lạm phát dự đoán trước: là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn. Về mặt tâm lý, người dân đã quen với
tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước. Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống, đến kinh tế.

Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất hiện. Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống người dân vì họ chưa kịp thích nghi.
Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và niềm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút.
1.2. Nguyên nhân, tác động của lạm phát 1.2.1. Nguyên nhân

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cách tính tỉ lệ lạm phát 4 Phân loại lạm phát 1. Căn cứ vào định lượng

Tải bản đầy đủ ngay(17 tr)

×