Tải bản đầy đủ - 76 (trang)
Hợp tác kinh tế :

Hợp tác kinh tế :

Tải bản đầy đủ - 76trang

mới của ASEAN, vào ASEM. Điều này đã góp phần duy trì sự thống nhất và hòa thuận trong ASEAN.
Việc Việt Nam tham gia vào ASEAN đã và đang tạo môi trường thuận lợi hơn cho đất nước giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế và hội nhập
có hiệu qủa vào hệ thống tồn cầu. Quan trọng hơn, Việt Nam trong hơn 10 năm gia nhập ASEAN, đã từ nền kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc hội nhập này, Việt Nam đã từng bước điều chỉnh bộ máy hành chính
phù hợp với nền kinh tế thị trường; đồng thời thông qua hợp tác và cạnh tranh, các nguồn tiềm năng nội địa được khơi dậy. Đây là thành tựu có ý nghĩa lớn
nhất đối với Việt Nam trong q trình hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập ASEAN nói riêng trong thời gian qua.
2 . Hợp tác chính trị, ngoại giao, an ninh :
Việt Nam là một trong 18 thành viên tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN ASEAN Regional Forum - ARF ngay từ đầu.
Với tư cách là Chủ tịch ARF nhiệm kỳ 2000-2001, Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các nước khác trong ASEAN duy trì những nguyên tắc cơ bản,
bước đi vững chắc của ASEAN tiếp tục tập trung thực hiện các biện pháp xây dựng và củng cố lòng tin, tăng cường hiểu biết lẫn nhau trên con đường tiến tới
“ngoại giao phòng ngừa.
Ngồi sáng kiến xây dựng Chương trình hành động Hà Nội năm 1998”, Việt Nam đã đưa ra sáng kiến, cùng với các nước ASEAN kiên trì thương lượng
với Trung Quốc để có một “Tun bố về nguyên tắc ứng xử biển Đông” vào năm 2002.
Gần đây, Việt Nam đã tích cực và chủ động trong việc đóng góp nội dung cho “Tuyên bố Bali II và Dự thảo Cộng đồng ASEAN” nhằm hình thành
Tuyên bố và Kế hoạch hành động của Cộng đồng An ninh ASEAN. Việt Nam cũng đã góp phần to lớn vào việc mở rộng quan hệ ngoại giao
và hợp tác quốc tế của ASEAN, giúp ASEAN mở rộng thêm nhiều đối tác như Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, tổ chức nhiều Diễn đàn hợp tác lớn như ASEM,
APEC-2006, giúp các nước lớn còn lại của thế giới tham gia dễ dàng hơn vào ASEAN, ASEM. Ngồi ra, Việt Nam còn tích cực trong hoạt động chính trị, an
ninh như tham gia các hoạt động của Nghị viện ASEAN, hợp tác trong các vấn đề an ninh phi truyền thống.

3. Hợp tác kinh tế :


Sau 14 năm kể từ ngày 28 tháng 7 năm 1995, ngày Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam á ASEAN, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam
Đề tài : Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á – ASEAN - 66 -
với các nước thành viên khác trong Hiệp hội không ngừng phát triển sâu rộng, góp phần thúc đẩy tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam .
Từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã thực hiện lộ trình AFTA, tích cực chủ động tham gia mọi chương trình hợp tác kinh tế của ASEAN, phù hợp với quyền
lợi của đất nước. Từ năm 1995 đến năm 2000, Việt Nam đã đưa vào danh sách CEPT 4.233 mặt hàng, chiếm 67 trong tổng số 6.332 mặt hàng trong biểu thuế
nhập khẩu ưu đãi MFN.
Tháng 22001, Chính phủ Việt Nam đã cơng bố lịch trình tổng thể cắt giảm thuế theo Hiệp định CEPT cho đến 112006 là thời điểm hội nhập đầy đủ vào
AFTA. Việt Nam cũng tham gia ký kết Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN AIA ngày 7101998, với mục tiêu tạo ra một khu vực đầu tư tự do
trong nội bộ các nước ASEAN vào năm 2010 và cho các nước khác ngoài ASEAN và năm 2020.
Việt Nam tham gia ký và thực hiện khá tốt Hiệp định khung về Khu vực tự do hóa mậu dịch ASEAN AFAS, về “Chương trình hợp tác công nghiệp
ASEAN AICO, về Sáng kiến hội nhập IAI, đã chủ động đưa ra và tích cực thực hiện Chương trình hợp tác phát triển Tiểu vùng sơng Mê Cơng mở rộng
GMS, trong đó có dự án xây dựng các hành lang kinh tế, nhất là hành lang kinh tế Đơng-Tây, hành lang lưu thơng Cơn Minh-Hà Nội-Hải Phòng..
Một số thành tựu về FDI, Thương mại :
i. Đầu tư trực tiếp của ASEAN vào Việt Nam :
Ngay từ trước khi gia nhập khối ASEAN, Việt Nam đã có quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài ĐTTTNN với nhiều nước ASEAN khác. Tuy
nhiên, chỉ sau khi trở thành thành viên của ASEAN, đặc biệt là sự hồi phục của kinh tế khu vực sau khủng hoảng tài chính 1997-1998, ĐTTTNN từ các nước
ASEAN chảy vào Việt Nam mới thật sự trở nên mạnh mẽ. Nếu chỉ tính các dự án FDI còn hoạt động , thì đến ngày 2292007 còn 8058 dự
án đầu tư FDI với tổng số vốn đăng kí là 72,869 tỷ USD. Có 83 nước đầu tư vào Việt Nam trong đó có các nước ASEAN.
Nước đầu tư Số dự án
Vốn đăng ký Vốn pháp định
1. Singapore 525
9,653,969,313 3,484,068,443
2. Malaysia 230
1,819,421,518 849,355,234
3. Thái Lan 160
1,561,556,926 605,116,448
4. Philippines 32
247,378,899 125,157,336
5. Indonesia 16
141,892,000 75,905,600
6. Brunei 39
128,881,421 53,161,421
7. Lào 8
23,353,528 15,613,527
8. Campuchia 5
5,200,000 3,390,000
Đề tài : Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á – ASEAN - 67 -
TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC NƯỚC ASEAN VÀO VIỆT NAM 1988- 2007
ĐVT: USD Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư
Như vậy, ngoại trừ Mianma, đất nước còn gặp khó khăn về chính trị, kinh tế xã hội lại bị cấm vận của Hoa Kì thì 8 nước ASEAN còn lại đều có dự án
đầu tư tại Việt Nam. Nếu như đến tháng 6 năm 2004, số dự án là 611, tổng vốn đầu tư là trên 10,8 tỷ USD, vốn thực hiện là 4,888 tỷ USD, thì đến 2292007
tổng số dự án đã lên tới 1015 dự án, với tổng số vốn đăng kí hơn 13 tỷ USD. Trong đó, Singapore là nước dẫn đầu khu vực với 525 dự án và hơn 9 tỷ USD
vốn đăng ký, Malaysia đứng thứ hai với 230 dự án, tiếp theo là Thái Lan với 160 dự án. Đây đồng thời là ba nước liên tục nằm trong số 10 quốc gia và vùng lãnh
thổ dẫn đầu về ĐTTTNN tại Việt Nam trong những năm gần đây.Đặc biệt, Singapore đứng thứ 2 sau Hàn Quốc đầu tư nhiều và thành cơng tại Việt Nam.
Hiện có khoảng 900 dự án của các nước ASEAN đã đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút hàng vạn lao động, trong đó những dự án phát triển nơng
nghiệp và cơng nghiệp thực phẩm thu được lợi nhuận đáng kể.
Các nước ASEAN có vốn đầu tư trong mọi lĩnh vực, nhưng tập trung vào công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu. Trong công nghiệp, các ngành được quan
tâm là công nghiệp dầu khí, cơng nghiệp nhẹ, cơng nghiệp nặng, cơng nghiệp thực phẩm và xây dựng; trong nông, lâm, ngư nghiệp là nông-lâm nghiệp, thủy
sản; trong dịch vụ là giao thơng vận tải-bưu điện, khách sạn du lịch, tài chính- ngân hàng, văn hóa-y tế-giáo dục, xây dựng khu đơ thị mới, văn phòng-căn hộ,
hạ tầng khu cơng nghiệp-khu chế xuất,... Trong đó, nổi bật là Sigapo với xây dựng, kinh doanh khách sạn-du lịch, xây dựng văn phòng căn hộ, khu đô thị mới
và công nghiệp thực phẩm; Malaixia với thăm dò-khai thác dầu khí; Thái Lan tập trung vào nơng nghiệp; Inđơnêxia với tài chính-ngân hàng; Philippin với sản
xuất ô tô.
ii. Đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào ASEAN :
Song song với việc tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư từ các nước thành viên ASEAN, mấy năm gần đây, nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đã
có một số dự án đầu tư tại một số nước thành viên, như tại Lào, Singapo, Campuchia, Thái Lan. Tuy quy mô đầu tư của những dự án chưa lớn, nhưng đã
góp phần thúc đẩy hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam với các nước. Đến ngày 2262007 Việt Nam đã có 217 dự án đầu tư vào 33 nước và khu vực lãnh thổ
của thế giới , với số vốn đăng kí là 1,179 tỷ USD và vốn thực hiện là 64,869,416 USD.
TÊN NƯỚC SỐ DỰ ÁN
VỐN ĐĂNG KÝ VỐN THỰC
HIỆN
Đề tài : Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á – ASEAN - 68 -
1. Lào 76
555,473,766 7,511,733
2. Campuchia 22
80,788,619 1,394,014
3. Singapore 15
27,008,807 2,450,000
4. Malaysia 4
18,746,615 6,576,840
5. Indonesia 2
9,400,000 3,240,000
6. Thái Lan 2
305,200 -
TỔNG CỘNG 121
691,722,807 21,172,587
TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM VÀO CÁC NƯỚC ASEAN 1989-062007. ĐVT : USD
Nguồn: cục đầu tư nước ngoài Như vậy, ASEAN là thị trường đầu tư lớn nhất của Việt Nam, chiếm đến
55,76 số dự án ; 58,67 tổng vốn đăng kí và 32,64 vốn thực hiện. Nhiều dự án của các nhà đầu tư vào các nước ASEAN đang phát triển khả quan , đặc biệt
các dự án tại Lào và Campuchia . Các dự án góp phần củng cố vai trò và sự ảnh hưởng của Việt Nam đến nền kinh tế của khu vực.
iii. Hoạt động thương mại giữa Việt Nam và ASEAN: Đi đôi với quan hệ hợp tác đầu tư, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và
các nước ASEAN cũng không ngừng phát triển. Thị trường ASEAN hiện chiếm khoảng 20 kim ngạch xuất khẩu và khoảng 25 kim ngạch nhập khẩu của
Việt Nam, trong đó Singapore, Philipin, Thái Lan và Inđônêxia là những khách hàng lớn. Thị trường ASEAN là nơi tiêu thụ khối lượng lớn nông sản, nhất là
gạo của Việt Nam, đồng thời là nơi cung cấp nhiều máy móc thiết bị và nguyên liệu, đặc biệt là xăng dầu cho Việt Nam. So với năm 1994, năm trước khi Việt
Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN, kim ngạch bn bán giữa Việt Nam và các nước ASEAN hiện nay đã gấp hàng chục lần.
Đề tài : Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á – ASEAN - 69 -
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ASEAN 1995-2007 ĐVT: USD
Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN còn thể hiện trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, mà nổi bật là thị trường lao động
Malaixia đã mở cửa đón một số lượng lớn lao động Việt Nam. Ngồi ra còn
nhiều hoạt động khác như hợp tác về khoa học và công nghệ, về bảo vệ môi trường, về y tế giáo dục, văn hóa nghệ thuật và thể thao..

4. Hợp tác văn hóa, xã hội giáo dục:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hợp tác kinh tế :

Tải bản đầy đủ ngay(76 tr)

×