Tải bản đầy đủ - 68 (trang)
Bộ máy quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp FDI

Bộ máy quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp FDI

Tải bản đầy đủ - 68trang

47
hộ quá mức hoặc hỗ trợ khác của Chính phủ. Nhìn vào khả năng thực tế, chúng ta cũng phải thâý một điều rằng, cho dù chúng ta có thơng minh, chăn
chỉ đến đâu, nhưng vẫn chưa thể sản xuất hàng thay thế nhập khẩu tự cung tự cấp được. Để làm được điều này, các nước có nền cơng nghiệp hố cao
hơn cũng phải có thời gian và đặc biệt có thể phải chịu tốn kém, rủi ro trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay.
- Các giới hạn về kinh doanh hàng hoá tại Việt Nam và các giới
hạn cụ thể đối với nhà sản xuất trong việc nhập khẩu các sản phẩm của mình để
tiếp thị hoặc để thoả mãn nhu cầu mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng đượ
c, đã làm giảm tính cạnh tranh và không nhất quán với nền kinh tế thị trường.
- Phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong nước với các
doanh nghiệp FDI vẫn còn tồn tại. Điều này gây ảnh hưởng khơng chỉ cho tính vận hành có hiệu quả của nền kinh tế thị trường mà còn ảnh hưởng đến
mơi trường thu hút vốn đầu tư đang sa sút nghiêm trọng như hiện nay. Ví dụ như chi phí vận chuyển, chi phí cho các tiện nghi sản xuất của các doanh
nghiệp FDI cao hơn nhiều so với doanh nghiệp trong nước .

7. Bộ máy quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp FDI


Căn cứ vào đặc điểm của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ỏ Việt Nam, hiện nay bộ máy quản lý các doanh nghiệp FDI được tổ chức như sau :
Việc cấp giấy phép đầu tư do Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan được phân cấp hoặc uỷ quyền theo quy định của pháp luật UBNN các tỉnh, thành
phố, các ban quản lý khu công nghiệp và chế xuất . Vấn đề quản lý sau giấy phép do các Bộ ngành và các địa phương thực hiện trên cơ sở chức năng
nhiệm vụ của mình và Bộ Kế hoạch và Đầu tư vẫn là đầu mối chủ yếu. Tuy việc phân công quản lý tương đối rõ ràng nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều
đ iều gây trở ngại cho doanh nghiệp. Tồn tại lớn nhất là sau khi cấp giấy phép
48
có quá nhiều các thư tục khác nhau liên quan đến việc thành lập công ty, đă
ng ký hoạt động, thủ tục về đất đai, giấy phép xây dựng, giấy phép xuất nhập khẩu và các thủ tục khác... Theo thống kê của một cơ quan tư vấn đầu
tư FIAS có tới 130 việc phê duyệt và cấp giấy phép hình thành trong tồn bộ q trình sau giấy phép, trong đó có khoảng 80 - 90 giấy phép phải phê
duyệt trên cơ sở từng năm.Do quá tải và các loại giấy phép khác nhau như vậy đã khiến các nhà đầu tư tốn rất nhiều thời gian để hoàn thành.
Bộ máy quản lý cấp giấy phép và quản lý sau giấy phép đầu tư từ Trung ương đến địa phươnghiện nay khá cồng kềnh và không mấy hiệu
quả. ở trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sau khi cấp giấy phép gần như đã hồn thành trách nhiệm, có chăng những u cầu, đề nghị của doanh nghiệp
trong quá trình triển khai giấy phép thì được giải quyết bằng các cuộc họp hoặc các Cơng văn hành chính. Những việc sự vụ này có phần thuộc chức
năng của Bộ,nhưng phần lớn thuộc các Bộ, ngành khác và tình trạng đan xen chức năng, nhiệm vụ của nhau diễn ra thường xuyên. Điều này gây khơng ít
khó khăn cho doanh nghiệp, vì những yêu cầu, đề nghị của họ thường không đượ
c giải quyết triệt để hoặc có giải quyết nhưng lại khơng chỉ ra cơ chế thực hiện. Tuy vậy, có những vấn đề rất lớn thể hiện vai trò quản lý của Nhà
nước, nhưng lại khơng có Bộ, ngành nào chịu trách nhiệm quản lý. Ví dụ như việc kiểm tra, giám sát việc sử dụng máy móc thiết bị, phương tiện vận
chuyển, vật tư, nguyên liệu miễn thuế nhập khẩu để xây dựng cơ bản hình thành doanh nghiệp có đúng mục đích khơng. Hiện nay, chưa có cơquan nào
đứ ng ra chịu trách nhiệm. Người ta chỉ biết được việc sử dụng khơng đúng
mục đích này bán, chuyển nhượng... ở một số doanh nghiệp thông qua cơ quan bảo vvẹ pháp luật Công an, quản lý thị trường... “ tình cờ ”phát hiện.
Theo nguồn tin khơng chính thức cho biết : có rất nhiều ôtô du lịch 4 chỗ miễn thuế được bán trao tay không qua các thủ tục sang tên, nộp thuế chước
49
bạ, nên rất khó phát hiện. Còn xi măng, sắt thép, gạch ốp lát, các trang thiết bị nội thất... được bán ra trên thị trường không phải là chuyện hiếm.
Việc quản lý hoạt động thương mại của các doanh nghiệp FDI về cơ bản do Bộ Thương mại nắm giữ, nhưng quyền lực thực chất đã giao cho các
Sở Thương mại ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các ban quản lý khu công nghiệp trực tiếp thực hiện. Các nhà đầu tư nước ngoài đã thừa
nhận và đánh gia cao việc bàn giao đó của Bộ Thương mại đã giúp họ tiết kiệm được thời gian và chi phí đi lại, nhưng họ lại phải đối mặt với sự trở
ngại do sự non nớt về trình độ chun mơn, thiếu kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ quản lý ở các Sở Thương mại, Ban quản lý các khu công nghiệp tạo
ra. Có những vấn đề họ phải trả lời hoặc lý giải các câu hỏi khá vô lý của các Bộ quản lý, nhưng cũng có những vấn đề khá hóc búa như : miễn thuế đối
với phụ tùng thay thế, nhập khẩu hàng hoá như đường thuộc danh mục hàng nhập khẩu có điều kiện lại “ thốt hiểm ”một cách dễ dàng.Đên nay,
chưa có một cơ quan nào thống kê được những vụ việc sai sọt, nhầm lẫn trong quá trình xét duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu cũng như quản lý hoạt
độ ng thương mại của các doanh nghiệp FDI kể từ khi Bộ Thương mại uỷ
quyền cho các địa phương thực hiện. Có nhiều Bộ, ngành cũng tham gia quản lý doanh nghiệp nên dẫn đến
tình trạng có nhiều cuộc kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp và doanh nghiệp phải làm nhiều loại báo cáo khác nhau để đáp ứng yêu cầu của các cơ
quan quản lý. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, không phải bất cứ cơ quan quản lý nào cũng được gửi báo cáo đầy đủ mà thực tế chỉ có các cơ quan nào có
đ iều kiện ràng buộc doanh nghiệp như Hải quan hoặc cơ quan cấp giấy
phép đầu tư mới được đáp ứng đầy đủ. Còn các cơ quan khác như Bộ Thương mại với chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động thương mại nói
chung và hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI nói riêng lại
50
không dễ dàng tiếp cận với báo cáo định kỳ của các doanh nghiệp này. Chúng tơi được biết dể có được số liệu làm báo cáo đột xuất về hoạt động
xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI, Bộ Thương mại phải chạy chọt khắp nơi, thậm chí phải mua thơng tin vì khơng có được các báo cáo kịp thời
từ các doanh nghiệp FDI. Ngun nhân của tình trạng này cũng khơng khó khăn lắm để xác định được là do việc uỷ quyền gần như là 100 của Bộ
Thương mại cho các Sở Thương mại, Ban quản lý các khu công nghiệp quản lý hoạt động thương mại của các doanh nghiệp FDI. Rõ ràng, Bộ Thương
mại đã “ đẩy ” hết trách nhiệm cho các địa phương trong khi các địa phương lại chưa có sự chuẩn bị đầy đủ để sẵn sàng “ tiếp nhận ”. Đây cũng là một
thực tế đáng quan tâm trong q trình cải cách thủ tục hành chính ở nước ta nói chung và hồn thiện cơng tác quản lý Nhà nước về xuất nhập khẩu đối
với các doanh nghiệp FDI nói riêng.
Chương III: Một số giải pháp nhằm cải thiện mơi trường đầu tư trực tiếp nước ngồi

I. Sự cần thiết phải cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngồi


Mơi trường đầu tư trực tiếp nước ngồi bao gồm tổng các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hố, xã hội... Có liên quan đến lợi ích của các nhà đầu tư
nước ngoài, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người tiêu dùng. Thơng thường, để xem xét một mơi trường đầu tư có thuận lợi hay
không, người ta dựa trên các góc độ : sự ổn định về chính trị - xã hội, quan hệ đối ngoại, sự ổn định về kinh tế và môi trường pháp lý. Một môi trường
đầ u tư được coi là thuận lợi không chỉ cần có các yếu tố cấu thành mà giữa
các yếu tố đó phải có quan hệ hữu cơ với nhau, cùng vận động trong một chỉnh thể thống nhất và đồng bộ, theo một hướng xác định.Trong tình hình
hiện nay, tồn tại một sự chênh lệch lớn giữa cung và cầu vốn đầu tư. Do vậy nước nào có môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn sẽ dành được sự quan tâm
của các nhà đầu tư nước ngoài.
51
Để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc nêu trên và phù hợp với xu
hướng chung của các nước trên thế giới và khu vực đều cố gắng cải thiện môi trường đầu tư theo hướng thơng thống hơn, mềm dẻo hơn. Theo
UNCTAC, trong năm 1997, 89 trong 151 điểm thay đổi thể lệ về FDI ở 76 nước là theo hướng tạo điều kiện hơn cho đầu tư nước ngồi. Xét về góc độ
khu vực có thể thấy, các nước trong khu vực có cách tiếp cận nguồn FDI gần giống nhau, chủ yếu vào khai thác tài nguyên và phát triển các ngành sử
dụng nhiều lao động. Tuy nhiên hiệu quả thu được của từng nước lại không giống nhau. Hiện nay trong khi hai nước Thái Lan và Hàn Quốc đã thoát
khỏi suy thối, tình hình nguồn vốn FDI đã khởi sắc, thì ở Indonesia vẫn tiếp tục suy giảm. Như vậy, khả năng thu hút FDI phụ thuộc rất nhiều vào chính
sách và môi trường đầu tư của mỗi nước. Việc Việt Nam trở thành viên c0hính thức của ASEAN 25-7-1995;
tham gia khu vực mậu dịch tự do AFTA 1-1-1996; tham gia ASEM 3- 1996; gia nhập APEC - Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu á- Thái Bình Dương
- 11-1998; đang trong quá trình đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO; ký kết hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ đã đánh dấu
những bước nhảy vọt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh khá thuận lợi cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, hội
nhập kinh tế cũng đặt ra cho Việt Nam những khó khăn và thách thức to lớn trong nhiều lĩnh vực, đòi hỏi phải có những cải biến sấu sắc, đồng bộ về hệ
thống chính sách pháp luật về thương mại đầu tư cũng như sự cố gắng của các doanh nghiệp FDI.

II. Một số giải pháp cải thiện mơi trường đầu tư trực tiếp nước ngồi


1. Cơ sở của giải pháp Trong những năm tới, nhu cầu vốn đầu tư nhằm thực hiện những mục
tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội đặt ra rất lớn. Theo tính sơ bộ, tổng vốn đầu tư phát triển toàn bộ xã hội thời kỳ 2001-2005 lên tới 65-70 tỷ USD,
52
trong đó nguồn vốn nước ngồi cần tới 22-25 tỷ USD, chiếm 30-35 tổng vốn đầu tư tồn xã hội. Trong khi đó, nguồn vốn đầu tư gián tiếp ODA có
chiều hướng giảm kể cả về quy mô và mức độ ưu đãi, nguồn vốn vay thương mại để tự đầu tư không nhiều phải chịu lãi suất cao, điều kiện cho vay khắt
khe, chịu rủi ro của biến động tỷ giá...Do vậy, cùng với việc phát huy tối đa nội lực, chúng ta phải thực hiện một hệ thống giải pháp đồng bộ để nhằm thu
hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với yêu cầu phải gắn đầu tư trực tiếp nước ngoài với kế hoạch 5 năm phát triển kinh
tế xã hội 2001-2005 và mục tiêu chiến lược đến 2010; phải gắn với quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu đầu tư phục vụ cho sự nghiệp cơng nghiệp hố,
hiện đại hóa; phải gắn với chiến lược kinh doanh XNK giai đoạn 2001-2005 và mục tiêu chiến lược đến 2010
2. Về cơ chế chính sách 2.1 Ti

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bộ máy quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp FDI

Tải bản đầy đủ ngay(68 tr)

×