Tải bản đầy đủ - 68 (trang)
Quản lý ngoại hối.

Quản lý ngoại hối.

Tải bản đầy đủ - 68trang

45
tạm xuất và hàng hoá tái nhập sau gia công. Tuy nhiên, theo Công văn số 1331TCCSTC ngày 2142000 của Bộ tài chính quy định “các doanh
nghiệp nội địa đặt gia cơng ở nước ngồi ”. Ngồi ra, cũng tại văn bản này
việc dẫn luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định “ trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng
một vấn đề thì áp dụng văn bản pháp lý có hiệu lực cao hơn ”, nhưng lại không chỉ ra được Luật thương mại và Luật thuế xuất nhập khẩu, Luật nào
“cao” hơn luật nào. Đây thực chất là sự xung đột pháp luật khơng đáng có, là sự mâu thuẫn chồng chéo trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nói riêng, thể hiện
sự “cục bộ” bản vị trong hoạt động xây dựng pháp luật của các ngành, địa phương, gây cản trở trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam.

5. Quản lý ngoại hối.


Như chúng ta đã biết, quản lý ngoại hối quản lý về tỷ giá hối đoái, những
quy định về chuyển đổi và tiếp cận ngoại tệ là một phần quan trọng trong
cơ chế đầu tư nước ngoài ở tất cả các quốc gia. Một cơ chế hay việc trao đổi ngoại tệ hợp pháp của các nhà đầu tư có thể làm hạn chế đến các lợi thế khác
và làm cho đất nước trở nên kém hấp dẫn đối với đầu tư nước ngồi. Ví dụ như Trung Quốc, tuy đã thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư, nhưng lại
không giải quyết tốt vấn đề quản lý ngoại hối nên đồng vốn đầu tư vào khu vực này thấp hơn mức có thể và chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất với
công nghệ thấp và lĩnh vực dịch vụ, nơi mà các nhà đầu tư đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ theo luật pháp Trung Quốc, doanh nghiệp FDI được gửi 100
ngoại tệ mà họ thu được . ở Việt Nam, sự không chắc chắn về khả năng chuyển đổi từ đồng nội tệ sang đồng ngoại tệ đang là một trở ngại lớn trong
quá trình thực hiện dự án đầu tư nước ngoài. Điều này tạo ra sức ép buộc các doanh nghiệp phải đẩy mạnh xuất khẩu để tự đảm bảo cân đối ngoại tệ,
nhưng lại khơng khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ
46
tầng hoặc sản xuất, dịch vụ khơng có được điều kiện thu được ngoại tệ.Ngay cả khi pháp luật cho phép các doanh nghiệp được chuyể đổi đồng Việt Nam
sang ngoại tệ, nhưng lại khơng có quy chế nào quy định việc thực hiện các quyền đó hoặc khơng có khả năng có đủ ngoại tệ chuyển đổi để thực hiện
các quyền đó. Do khả năng chuyển đổi ngoại tệ ở Việt Nam có nhiều hạn chế nên nhiều doanh nghiệp FDI phải tự giải quyết bằng cách tích trữ các khoản
thu nhập ngoại tệ từ xuất khẩu tại các ngân hàng nước ngoài để khỏi bị chuyển đổi. Điều này tất nhiên sẽ gây bất lợi cho doanh nghiệp trong việc
quay vòng vốn cũng như khả năng mở rộng đầu tư hoặc tái đầu tư.
6. Một số bất cập về chính sách đối với các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Ngoài các trở ngại thường gặp như đối với bất kỳ dự án nào trong quá trình cấp giấy phép và việc phê duyệt sau giấy phép như thủ tục thành lập
công ty, các thủ tục về đất đai, giấy phép xây dựng, giấy phép XNK..., các doanh nghiệp FDI phải đối diện với một loạt khó khăn được tạo ra bởi các
chính sách không mấy hấp dẫn trong lĩnh vực xuất nhập khẩu như : -
Sự bảo hộ do các cơ chế thương mại đặt ra hàng năm còn rất cao và bao gồm một diện rộng các mặt hàng. Thương mại bị thu hẹp do các mức
thuế quan cao và hay bị thay đổi do các biện pháp phi thuế hạn ngạch, giấy phép còn khá phức tạp, cộng với tệ hành chính quan liêu giấy tờ diễn ra
thường xuyên ở các cơ quan quản lý. -
Chính sách thay thế hàng nhập khẩu và cạnh tranh xuất khẩu không đạt hiệu quả : Điển hình như các ngành ôtô, sắt thép, đường, xi
măng... đều đang gặp khó khăn về thị trường, do giá thành quá cao, khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu tương tự rất thấp. Đây là vấn đề tương đối
nan giải không chỉ đối với nhà đầu tư mà là tín hiệu báo động đối với các nhà hoạch định chính sách, cần có sự thay đổi trong cơ cấu ngoại thương và cơng
nghiệp hố để đem lại hiệu quả trong đầu tư và để tranhs những yêu cầu bảo
47
hộ quá mức hoặc hỗ trợ khác của Chính phủ. Nhìn vào khả năng thực tế, chúng ta cũng phải thâý một điều rằng, cho dù chúng ta có thơng minh, chăn
chỉ đến đâu, nhưng vẫn chưa thể sản xuất hàng thay thế nhập khẩu tự cung tự cấp được. Để làm được điều này, các nước có nền cơng nghiệp hố cao
hơn cũng phải có thời gian và đặc biệt có thể phải chịu tốn kém, rủi ro trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay.
- Các giới hạn về kinh doanh hàng hoá tại Việt Nam và các giới
hạn cụ thể đối với nhà sản xuất trong việc nhập khẩu các sản phẩm của mình để
tiếp thị hoặc để thoả mãn nhu cầu mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng đượ
c, đã làm giảm tính cạnh tranh và khơng nhất quán với nền kinh tế thị trường.
- Phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong nước với các
doanh nghiệp FDI vẫn còn tồn tại. Điều này gây ảnh hưởng khơng chỉ cho tính vận hành có hiệu quả của nền kinh tế thị trường mà còn ảnh hưởng đến
môi trường thu hút vốn đầu tư đang sa sút nghiêm trọng như hiện nay. Ví dụ như chi phí vận chuyển, chi phí cho các tiện nghi sản xuất của các doanh
nghiệp FDI cao hơn nhiều so với doanh nghiệp trong nước .

7. Bộ máy quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp FDI


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quản lý ngoại hối.

Tải bản đầy đủ ngay(68 tr)

×