Tải bản đầy đủ - 68 (trang)
Cơng nghiệp 203 Dầu khí 23 Du lịch – Dịch vụ - KS Xây dựng 221 GTVT - Bưu điện Về quan hệ giũa các doanh nghiệp khu chế xuất và các doanh nghiệp nội địa

Cơng nghiệp 203 Dầu khí 23 Du lịch – Dịch vụ - KS Xây dựng 221 GTVT - Bưu điện Về quan hệ giũa các doanh nghiệp khu chế xuất và các doanh nghiệp nội địa

Tải bản đầy đủ - 68trang

28
Bảng 4 : Cơ cấu đầu tư và xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI
Lĩnh vực kinh tế
Số Dự án
Trị giá vốn đầu tư
Tỷ lệ
vốn đầu tư
Doanh thu 1000 USD
Trị giá XK 1000 USD
Tổng cộng 2.339
35.786.144 17.197.429 11.248.000
1. Công nghiệp 1.203
12.642.542 35,2 11.659.257
5.021.565
Công nghiệp nặng
500 6.474.370
5.715. 376 1.997.524
Công nghiệp nhẹ
577 3.774.759
3.389.864 2.656.922
Công nghiệp thực phẩm
126 2.393.383
2.554.017 367.119

2. Dầu khí 23


2.558.268 7,2
1.391.764 3. Nơng lâm
thuỷ sản 294
3.030.477 5,7
371.529
Nông lâm nghiệp
245 1.874.827
1.227.743 309.714
Thuỷ sản 49
155.560 164.021
61.815

4. Du lịch – Dịch vụ - KS


315 9.059.044 25,3
1.221.007
KS – DL - VP - Căn hộ
156 8.099.955
841.405
Văn hóa -Ytế - Giáo dục
76 433.107
208.450
Dịch vụ 119
525.982 121.152

5. Xây dựng 221


4.204.727 11,7 679.906
29
Xây dựng 208
3.401.187 601.322
XD hạ tầng KCX - KCN
13 803.450
58.284

6. GTVT - Bưu điện


97 2.804.627
7,8 1.822.965

7. Tài chính - Ngân hàng


48 542.250
1,5 261.409
Ngu ồn : Vụ đầu tư - Bộ Thương
m ại
Căn cứ vào số liệu trên Bảng 4, ta thấy cơ cấu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể 32 trong tổng số vốn đầu tư . Doanh
thu, doanh số của các doanh nghiệp thuợc lĩnh vực cũng chiếm phần lớn. Tuy nhiên cũng có những lĩnh vực chiếm giá trị lớn như : du lịch, khách sạn lại
khơng có khả năng xuất khẩu và đạt doanh thu không cao.
- Về cơ cấu hàng xuất khẩu :
Cơ cấu hàng xuất khẩu trước tiên phụ thuộc vào cơ cấu đầu tư. Do vậy, tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực cơng nghiệp
càng cao thì tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghiệp càng lớn chiếm khoảng 44,6 điều này càng khẳng định chủ tương thu hút vốn đầu tư nước ngoài
vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp của Đảng và Nhà nước ta là một chủ trương đúng đắn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng
nghiệp hố, hiện đại hố. -
Về cơ cấu thị trường xuất khẩu :
Thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phần lớn do các nhà đầu tư nước
ngồi uyết định. Trong số các nước có quan hệ hợp tác đầu tư với Việt Nam thì các nước châu á đầu tư lớn nhất, như : Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Singapore. Và cũng chính các nước này nhập khẩu hàng hoá nhiều nhất từ các doanh nghiệp FDI Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải
30
quan, năm 1988, chỉ riêng thị trường Nhật Bảm và các nước ASEAN, trị giá kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt 886,9 triệu USD chiếm
44,7. Các nước, các khu vực còn lại như EU đạt 456 triệu USD chiếm 30 Hoa Kỳ đạt 107,4 triệu USD chiếm 5,4; Nga đạt 4 triệu USD, các nước
khác đạt 28,4 triệu USD chiếm 26. -
Tỷ trọng xuất khẩu chung của cả nước thời kỳ 1991-1998 cho thấy Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, Nhật Bản chỉ
giữ vai trò trong các năm 1991-1995 chiếm bình qn trên 30 tổng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI. Sau đó giảm dần, năm 1998 chỉ
còn chiếm 15,8 kim ngạch xuất khẩu nhưng các nước ASEAN khơng có sự thay đổi lớn trong suốt thời kỳ 1991-1998 chiếm tỷ trọng bình quân là
21,5 kim ngạch xuất khẩu . -
Tỷ trọng xuất khẩu vào EU tăng khá đều trong các năm qua. Năm 1991, EU mới chỉ chiếm 5,7 kim ngạch xuất khẩu của ta, nhưng tới
năm 1998 đã chiếm 22,5. Riêng trong khối FDI, tỷ lệ xuất khẩu vào EU cũng 30 kim ngạch của khối.
Phân tích cơ cấu xuất khẩu một số mặt hàng chính vào các thị trường
chính trong các năm 1998, 1999 ta thấy :
-
Xuất khẩu vào thị trường ASEAN : Bảng 5: Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI vào thị trường
ASEAN năm 1998
Thị trường Gạo
Hải sản
Cà phê
Cao su
Giầy dép
Dệt may
điện tử Hàng
khác Tổng
trị giá Bruney
- -
- -
- -
- 183
183 Campuchi
a -
- -
- -
9 -
8.086 8.095
31
Indonesia 7.890
- 97
- 707
3 164
7.897 16.757
Lào -
- -
- -
- 225
1.419 1.644
Malaixia 250
- -
262 342
288 601
29.232 30.975
Mianma -
- -
- 8
- -
1.026 1.034
Philippin -
- -
- 638
71 -
231.814 232.567 Singapore
2.828 1.499 259 82
1.881 7.670 3.827
57.494 75.540
Thái lan -
168 138
- 1.131 2.615
67 188.492 192.361
Cộng 10.968 1.667 494
344 4.752 10.655
4.884 525.642 559.405
Ngu ồn : Vụ đầu tư - Bộ Thương mại
-
Xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản, Hoa Kỳ và Nga Bảng 6:
Th ị trường
Gạo Hải
sản Cà
phê Cao
su Giầy dép Dệt may
Điện tử
Hàng khác
Tổng trị giá
Nhật Bản
3.553 19.660 4 -
16.049 90.809
3.452 193.942 327.468
Hoa Kỳ 411
553 703 -
82.956 16.204
479 6.071 107.378
Nga
- -
- 1.106
549 -
2.388
4.109 Cộng
3.963 20.213 707 66
100.111 107.563 3.931 202.401
438.956
Ngu ồn : Vụ đầu tư - Bộ Thương mại
-
Xuất khẩu vào thị trường EU Bảng 7 :
Thị trường
Hải sản
Cà phê
Cao su
Giầy dép
Dệt may
Điện tử
Hàng khác
Tổng trị giá
Anh -
6.515 136
27.571 7.272
1.623 16.210
59.326 áo
- -
- 390
122 38
915 1.464
32
Bỉ 107
- -
77.989 6.468
25 28.421
113.009 Bồ Đào
Nha -
- -
206 41
28 803
1.007 Đan Mạch
- -
- 986
865 1.159
3.296 6.305
Đức 41
569 -
21.176 32.144 9.264
33.032 96.239
Hà Lan 199
- 27
13.302 8.196
4.143 11.008
36.875 Hy Lạp
1.289 -
- 1.188
183 -
1.085 2.585
Italia 459
- -
18.637 5.312
1.746 10.470
36.637 Phần Lan
- -
- 2.067
833 212
1.788 4.909
Tây Ban Nha
20 -
- 4.505
2.674 681
8.580 16.459
Thuỵ Điển 45
- -
2.456 1.889
2.490 4.149
11.028 Thuỵ Sĩ
- 202
- 1.253
999 -
2.907 5.361
Cộng 999
7.285 176
183.393 88.263 21.765 154.021 455.915
Ngu ồn : Vụ đầu tư - Bộ Thương
m ại
-
Thị trường khác đạ
t 528.363.854 USD. Như vậy, xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI sang Nhật Bản các
nước ASEAN kim ngạch tuy có tăng 10 so với năm 1997 975 so với 886 triệu USD và chiếm phần lớn kim ngạch của khối 37,6 nhưng thị phần
lại giảm từ 44,7 xuống 37,6 . Xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản vẫn không thay đổi về thị phần. Kim ngạch xuất khẩu sang EU tăng cao gần
50. Xuất khẩu sang thị trường Nga và Mỹ có tăng hơn năm trước nhưng chậm.
+ Năm 1999 :
-
Xuất khẩu vào thị trường Mỹ, Nhật và Nga
33
Bảng 8 : Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI vào thị trường Mỹ, Nhật, Nga năm 1999
Đơn vị : 1.000 USD Th
ị trường Gạo Hải sản
Cà phê
Cao su
Giầy dép Dệt
may Điện tử
Hàng khác
Tổng trị giá
Nhật Bản
4.864 12.407 -
- 21.996 97.408
13.543 287.064 428.282
Hoa Kỳ
- 850
- -
96.465 8.078
178 22.321
127.892
Nga
- -
- 433 202
516 -
5.961 7.112
Cộng 4.864
13.257 -
433 118.663 106.002
13.721 306.346
563.286
Ngu ồn : Vụ đầu tư - Bộ Thương mại
-
xuất khẩu sang thị trường ASEAN Bảng 9 : Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI vào thị trường ASEAN
năm1999 Thị trường
Gạo Hải
sản Cà
phê Cao
su Giầy
dép Dệt
may điện
tử Hàng
khác Tổng
trị giá Bruney
- -
- -
- -
- 116
116 Campuchia
- 93
1 -
44 9
- 5.546
5684 Indonesia
519 -
- -
951 -
164 9.903 11.726
Lào -
- -
- -
101 225
245 346
Malaixia 7.751
651 -
- 357 3.019
601 25.430 72.807 Mianma
- -
- -
- 61
- 620
681 Philippin
145 -
- -
403 262
- 9.767 229.94
Singapore 785 1.623 681
748 6.970 10.57
8 3.827 38.672 68.265
Thái lan 128-
201 -
- 356 2.615 10.130 17.410 157.07
5
34
Cộng 9.328 2.568 682
748 9.081 15.15
1 401.37
3 107.70
9 546.64
Ngu ồn : Vụ đầu tư - Bộ Thương mại
- Xuất khẩu vào thị trường EU :
Bảng 10 : Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI vào thị trường EU năm 1999
Thị trường
Hải sản
Cà phê
Cao su
Giầy dép
Dệt may
Điện tử
Hàng khác
Tổng trị giá
Anh -
7.165 43
56.802 3.659
4.887 42.410 114.966
áo -
- -
375 2.045
136 3.056
5.610 Bỉ
151 -
- 98.773
1.599 474
43.846 144.843 Bồ Đào Nha
- -
- 353
29 0,2
1.279 161.077 Đan Mạch
0,4 -
- 2.160
1.389 299
5.531 9.379
Đức 59
1.235 142
33.866 28.983 3.028
63.026 130.338 Hà Lan
- -
- 36.543
6.469 1.325
25.202 69.534
Hy Lạp 49
- 12
2.767 270
- 1.281
4.379 Italia
219 -
- 21.252
3.035 2.861
11.450 38.817

Phần Lan -


- -
2.332 368
51 2.929
5.680 Tây Ban Nha
- -
- 43.486
1.476 1.047
10.520 56.529
Thuỵ Điển -
- -
4.222 607
298 3.753
8.880 Thuỵ Sĩ
74 186
- 1.837
1.689 1.437
3.751 8.938
Cộng 552 8.586
197 392.720 67.780 19.091 285.499 684.425
Nguồn : Vụ đầu tư - Bộ Thương mại
-
Thị trường khác đạt 791 triệu USD
Theo số liệu nêu trong các Bảng trên, cơ cấu thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp cũng khơng có sự thay đổi lớn so với năm 1998, thị trường
35
xuất khẩu chủ yếu vẫn là các nước châu á và chiếm lớn nhất vẫn là thị trường Nhật Bản và thị trường các nước ASEAN :
+ Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI vào thị trường Nhật Bản và thị trường các nước ASEAN : 975 triệu USD chiếm 37,6 kim ngạch của
khối khơng kể dầu thơ trong đó : Nhật Bản: 428 triệu USD, chiếm 16,5
ASEAN: 457 triệu, chiếm 21,1 Cả nước EU: 648 triệu USD, chiếm 26,4
Liên bang Nga: 7triệu USD, chiếm 0,5 Mỹ: 127 triệu USD, chiếm 5
Các nước khác: 791 triệu USD, chiếm 30,5 Nhìn chung hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI có xu
hướng phát triển cả về quy mô, tốc độ, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu và ngày càng đóng vai trò to lớn đối với hoạt động xuất nhập khẩu chung của cả
nước, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế và bình ổn cán cân thương mại.
4. Hoạt động của các khu chế xuất Từ năm 1991, Nhà nước đã có chủ trương xây dựng khu chế xuất và
tiếp đó là khu cơng nghệ ở nước ta. Ngày 18-11-1991, Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ đã ban hành Nghị định 322HĐBT kèm theo quy chế về
khu chế xuất tại Việt Nam. Ngày 28-12-1994, Chính phủ ban hành Nghị định 192 về quy chế khu công nghiệp tại Việt Nam. Thay thế hai Nghị định đó,
ngày 24-4-1197, Chính phủ ban hành Nghị định 36CP về quy chế khu công nghiệp KCN, khu chế xuất KCX, khu cơng nghệ cao.
Cho đến nay, đã có trên 60 KCN, 3 KCX và một khu công nghệ cao đã đượ
c phép thành lập phân bố rộng khắp trên các vùng kinh tế trọng điểm với
36
diện tích giai đoạn đầu trên 10.000 ha chưa kể 14.000 ha của khu công nghệ phức hợp Dung Quất - Quảng Ngãi . Trong đó có 41 khu đã có các doanh
nghiệp hoạt động sử dụng 32 tổng diện tích phục vụ cho sản xuất công nghiệp, gồm 8 khu đã hoàn thiện về căn bản các cơ sở hạ tầng và 34 khu
đ ang tiến hành kế hoạch xây dựng hoàn thiện.
Các KCN - KCX được phân bố như sau : Miền Bắc chiếm 31, Miền Trung chiếm 12, Miền Nam chiếm 57. Mạng lưới KCN - KCX được trải
khắp trên 26 tỉnh thành phố trong cả nước, nhiều nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh có 12 khu, Đồnh Nai 9, Bình Dương 7, Hà Nội có 5 và tiếp đến là Bà
Rịa Vũng Tàu có 4. Việc tăng quá cao tốc độ phát triển tập trung ở một số vùng sẽ làm tăng lên độ chênh lệch về hiện trạng và tiềm năng phát triển
kinh tế - xã hội với các vùng khác gây ra sự cạnh tranh gay gắt trong việc phân bổ đầu tư nói chung và thu hút FDI nói riêng giữa các vùng này và các
đị a phương kém hấp dẫn hơn. Điều này dẫn tới sự phát triển không đồng đều
giữa các vùng gây khó khăn cho việc phát huy tiềm năng và thế mạnh đối với các vùng chậm phát triển, các tỉnh nghèo, thậm chí tốc độ phát triển ở đây
còn bị kìm hãm. Trong năm 1998-1999, hoạt động đầu tư nước ngoài trên phạm vi cả
nước có lắng xuống, song vẫn còn nhiều dự án đầu tư mới, hoặc vốn ở các KCN. Số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi xin bổ sung vốn năm 1998
tăng gần gấp đôi năm 1997 8951 doanh nghiệp do hoạt động vẫn đạt kết quả tốt. Riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, quí I năm 1999, các KCN - KCX
đ ã thu hút 41 dự án FDI với tổng số vốn 247 triệu USD. Có thêm 2 dự án
đ iều chỉnh tăng vốn 22,4 triệu USD vào KCN Tân Thuận và Linh Trung,
nâng tổng dự án đang hoạt động lên 130 dự án với 607 triệu USD vốn đầu tư tại khu vực này. Trong 7 tháng đầu năm, các KCN đã thu hút được 79 dự án
với tổng số vốn đăng ký khoảng 237,4 triệu USD tăng 98 về số dự án và
37
gấp 2,37 lần về số vốn cùng kỳ năm 1999. Điều này chứng tỏ sức hấp dẫn
của các KCN đối với các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng được nâng cao.

I. Một số khó khăn và vướng mắc trong quá trình triển khai dự án đầu tư


1.Hệ thống pháp luật điều chỉnh đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Ngoài hệ thống pháp luật trong nước điều chỉnh đầu tư nước ngoài, quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngồi còn chịu sự điều chỉnh của các Hiệp định
song phương, đa phương về đầu tư mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc gia nhập, ví dụ: tính đến nay, Việt Nam đã ký trên 30 Hiệp định về khuyến khích
và bảo hộ đầu tư với các nước có quan hệ đầu tư và gia nhập Công ước MIGA về tổ chức bảo đảm đầu tư đa biên, Hiệp định khung về đầu tư khu
vực ASEAN AIA... Từ những tiền đề có tính ngun tắc trên, hoạt động xuất nhập khẩu
của các doanh nghiệp FDI chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư và các luật có liên quan. Đối với những nước phát triển với hệ thống pháp luật hồn chỉnh
thì mặc dù có nhiều quy phạm pháp luật tham gia điều chỉnh nhưng vẫn bảo đả
m tính minh bạch và thống nhất, nhưng đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì việc có nhiều quy pham pháp luật tham gia điều
chỉnh cùng một quan hệ pháp luật không tránh khỏi những mâu thuẫn, chồng chéo, thậm trí trái ngược nhau. Điều nay khơng chỉ gây khó khăn cho các
doanh nghiệp FDI trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam. Theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài và Nghị định 12CP
ngày1821997, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi được quyền trực tiếp xuẩt nhập khẩu hàng hoá phù hợp với quy định của giấy phép đầu tư và luận
chứng kinh tế-kỹ thuật của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa rằng doanh nghiệp được quyền XNK bất kỳ hàng hố gì miễn là phù hợp với mục tiêu
38
vủa giấy phép đầu tư và không phân biệt là hàng hoá thuộc danh mục XNK. Tuy nhiên, trong thực tế thực hiện vấn đề này không phải đơn giản. Trước
hết về xuất khẩu, doanh nghiệp không thể tự do xuất khẩu mà phải chịu sự ràng buộc của các quy định về cơ chế điều hành XNK hàng năm của Chính
phủ. nếu mặt hàng doanh nghiệp xuất khẩu thuộc danh mục hàng xuất khẩu có điều kiện giấy phép hoặc quota thì doanh nghiệp phải làm thủ tục xin
phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trước khi xuất khẩu. Trong thực tế, việc xin phép này không mấy thuận lợi và thậm chí khơng thể có vì hạn
ngạch xuất khẩu gạo, dệt may thông thường chỉ được ưu tiên cho các doanh nghiệp trong nước.
Cũng tương tự về nhập khẩu, các doanh nghiệp cũng bị ràng buộc vào quy định hạn chế nhập khẩu hoặc phải ưu tiên mua sắm trong nước thay vì
nhập khẩu nếu hàng hố này có cùng điều kiện thương mại như nhau. Điều này xét về hình thức là hồn tồn hợp lý bởi vì pháp luật về XNK phải tạo ra
một “ sân chơi ” bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp. Nhưng xét về khía cạnh pháp lý thì có nhiều vấn đề cần bàn :
-
Thứ nhất
, Luật đầu tư một đạo luật do quốc hội ban hành có giá trị pháp lý cao hơn so với quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành
quy định quyền của doanh nghiệp FDI được trực tiếp XNK hàng hoá phù hợp với giấy phép đầu tư, nhưng Quyết định điều hành XNK hàng năm của
Chính phủ lại hạn chế XNK như những doanh nghiệp kinh doanh trong nước. Đ
iều đó dẫn đến tình trạng nhiều mặt hàng nhất là vật tư, nguyên liệu phục vụ xây dựng cơ bản hình thành doanh nghiệp lẽ ra nhập khẩu để đảm bảo
chất lượng cơng trình như sắt, thép, gạch men hoặc hàng hoá phục vụ cho nội thất nhưng do bị giới hạn bởi quy định: trong điều kiện thương mại như
nhau phải ưu tiên mua sắm tại Việt Nam, nên các doanh nghiệp FDI phải mua sắm ở trong nước với giá cả, chất lượng chưa thật bảo đảm theo yêu cầu
39
của dự án đầu tư. Thêm vào đó các doanh nghiệp còn gặp phải rắc rối khi các quy định này hàng năm có sự thay đổi, nếu năm nay được phép nhập khẩu
mà do các yếu tố khách quan chưa thể thực hiện được thì sang năm doanh nghiệp có thể gặp rủi ro vì những mặt hàng đó khơng được phép nhập khẩu.
Xin đơn cử một ví dụ : Cơng ty liên doanh khách sạn OPERA được Bộ Thương mại duyệt kế hoạch nhập khẩu 500 tấn thép xây dựng, do hàng
chưa về kịp trong nămvà do sơ suất khơng phát hiện thời hạn có hiệu lực của giấy phép đã hết, thêm vào đó, mặt hàng sắt thép xây dựng theo quy định
mới lại nằm trong danh mục hàng hoá tạm ngừng nhập khẩu, do đó các cơ quan chức năng Hải quan, Cơng an đã vào cuộc và sau nhiều cuộc họp mới
giải toả được số sắt thép mà theo ý của các cơ quan này lẽ ra phải tịch thu. -
Thứ hai,
do sự không rõ ràng của pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư
không thể dự kiến được kế hoạch chi tiết về nhập khẩu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như không thể xây dựng chiến lược lâu dài về
nhập khẩu để phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu. -
Thứ ba,
ý kiến cho rằng chỉ ưu tiên vào các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thì sẽ là khơng cơng bằng đối với các nhà đầu
tư trong nước Để giải quyết vấn đề này, theo chúng tôi cần trở lại mục tiêu thu hút vốn đầu tư nước ngoài đề ra ngay từ khi bắt đầu hình thành Luật đầu
tư và cũng cần xem lại các cam kết quy định trong Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ các
nước có quan hệ đầu tư.
2. Vấn đề xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI theo quy định của giấy phép đầu tư.
Đ ây là vấn đề nan giải không chỉ đối với doanh nghiệp mà các nhà
quản lý cũng gặp nhiều khó khăn khi tìm kiếm biện pháp xử lý. Thông thường, khi lập dự án khơng ít các nhà đầu tư thường đẩy cao tỷ lệ xuất khẩu
40
80 hoặc thậm chí100 để cơ quan cấp giấy phép đầu tư nhanh chóng phê duyệt. Tuy nhiên, khi triển khai dự án, các doanh nghiệp thường không
đả m bảo được tỷ lệ xuất khẩu theo quy định của giấy phép. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng có một số ngun nhân phải kể đến là : -
Phần lớn các doanh nghiệp FDI đều muốn tiêu thụ sản phẩm của mình ở nước tiếp nhận đầu tư.
- Tỷ lệ xuất khẩu của doanh nghiệp FDI là do các công ty mẹ ở
nước ngoài điều tiết, nên bản thân các doanh nghiệp này cũng không quyết đị
nh được xuất khẩu đi đâu. -
Khả năng cạnh tranh của mặt hàng do các doanh nghiệp FDI Việt Nam sản xuất trên thị trường khu vực cũng như trên thế giới thấp ví dụ
như đường, xi măng, ôtô sắt thép, giấy... do đầu tư không phải là công nghệ tiên tiến, chất lượng, mẫu mã sản phẩm chưa thật hấp dẫn, giá cả còn quá cao
do khấu hao đầu tư quá lớn. -
ả nh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á dãn
tới một số doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, tạm ngừng sản xuất bộ phận hoặc đình chỉ sản xuất cả nhà máy nhr doanh nghiệp sản xuất bút
PILOT, bật lửa TOKAI, giầy thể thao JOAN VIET Tp.HCM -
Theo quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, mọi hàng hoá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp FDI phải tuân thủ theo trình
tự, thủ tục nhất định- đó là thủ tục duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu và thủ tục Hải quan. Cụ thể:
1.1
Về thủ tục duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu tại Bộ Thương mại
ho ặc cơ quan do Bộ Thương mại uỷ quyền
Sở Thương mại các tỉnh, thành ph
ố, ban quản lý các khu công nghiệp... .
41
Vướng mắc lớn nhất là danh mục hàng hoá thực tế xin nhập khẩu thường mâu thuẫn với danh mục hàng hoá quy định trong luận chứng
kinh tế -kỹ thuật đã được các cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn, cấp giấy phép và chất lượng máy móc thiết bị nhập khẩu khác với chất lượng máy
móc thiết bị được quy định trong giấy phép đầu tư. Đố
i với hàng hoá thực tế xin nhập khẩu đặc biệt là những hàng hoá đượ
c miễn thuế nhập khẩu theo quy định của luật thường mâu thuẫn thừa, thiếu hoặc khác chủng loại với danh mục hàng hoá nhập khẩu ghi trong
luận chứng kinh tế - kỹ thuật là do quá trình lập dự án, nhà đầu tư chưa tính tốn thật chi tiết, đầy đủ kế hoạch nhập khẩu hoặc do có sự thay đổi thiết kế,
thay đổi tính tốn so với ban đầu. Trong khi đó, luật lại quy định một trong những cơ sở pháp lý để xem xét miễn thuế nhập khẩu là danh mục hàng hoá
ghi trong luận chứng kinh tế - kỹ thuật phải phù hợp với danh mục hàng hoá xin nhập khẩu. Vì nguyên nhân này mà giữa cơ quan quản lý và doanh
nghiệp thường phát sinh các cuộc “chất vấn” và “giải trình” khá phức tạp để tiến tới việc giải quyết hay không giải quyết mức thuế nhập khẩu máy móc
thiết bị, vật tư, nguyên liệu... để xây dựng cơ bản hình thành doanh nghiệp. Đố
i với hàng hoá thực tế xin nhập khẩu không đảm bảo các yêu cầu về chất lượng so với quy định của giấy phép đầu tư ví dụ : giấy phép đầu tư
quy định hàng hoá nhập khẩu phải mới 100, công nghệ tiên tiến, nhưng doanh nghiệp lại xin nhập khẩu hàng đã qua sử dụng hoặc tân trang... thực
chất là việc giảm giá trị góp vốn hoặc thơng qua việc góp vốn tiêu thụ được máy móc thiết bị cũ, cơng nghệ lạc hậu. Để giải quyết vấn đề này cần có sự
bổ sung, sửa đổi các quy định của luật mà trong thực tế việc sửa đổi này không phải đơn giản và nhanh chóng. Do vậy, thường phát sinh giữa cơ quan
quản lý Bộ Thương mại hoặc các cơ quan do Bộ Thương mại uỷ quyền với doanh nghiệp hoặc giữa các cơ quan quản lý với nhau Bộ Thương mại,
42
Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc giải quyết việc nhập khẩu máy móc thiết bị khơng phù hợp với quy định của giấy phép đầu tư.
1.2 Về thủ tục Hải quan
Mặc dù ngành Hải quan đã có nhiều cải cách nhằm đơn giản hoá thủ tục và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp FDI như thành lập các kho
bảo thuế, thành lập công ty khai thuế Hải quan, áp dụng một loại mẫu tờ khai cho tất cả các loại hình xuất nhập khẩu mậu dịch, đơn giản hoá việc khai
báo... Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn quá nhiều trở ngại cho doanh nghiệp như việc áp sai mã thuế; xử lý hàng giao thừa, giao khác chủng loại còn
nhiều cứng nhắc gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Thêm vào đó trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ của nhân viên hải quan còn hạn chế cộng với tinh thần
thái độ cửa quyền, hách dịch, vòi vĩnh của họ đã tạo ra ảnh hưởng tiêu cực khơng đáng có cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
Một vấn đề đáng ngại làm nản lòng khơng ít các nhà đầu tư nữa là các quy định rườm rà, phức tạp và trùng lặp về thủ tục nhập khẩu cũng như các
thủ tục giấy tờ không cần thiết tại các cửa khaảu hải quan đã trở thành các rào cản phi thuế quan đáng quan tâm.
Việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước không được thực hiện tốt cũng gây nhiều trở ngại cho các doanh nghiệp FDI trong hoạt động
xuất nhập khẩu giữa Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan hay Bộ Thương mại và Bộ tài chính....
3. Về thuế xuất nhập khẩu Trở ngại lớn nhất trong lĩnh vực này là các quy định về thuế xuất nhập
khẩu và các mức thuế không nhất quán gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các dự án, không khuyến khích đầu tư mới do thiếu tính ổn định của chính sách
thuế. Đáng lưu ý là do có những vấn đề tưởng như rõ ràng theo quy định của luật về miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị, phương tiện vận
43
chuyển, vật tư, nguyên liệu dùng để xây dựng cơ bản hình thành doanh nghiệp nhưng khi mỗi lần làm thủ tục nhập khẩu, doanh nghiệp phải giải
trình khá vất vả với cơ quan duyệt kế hoạch nhập khẩu và cơ quan Hải quan mới được giải quyết. Đặc biệt là phương pháp áp dụng thuế giá trị gia tăng
VAT trực tiếp đã tạo ra hai chế độ trả thuế VAT, trái ngược với tính hợp lý của hệ thống thuế VAT. Ví dụ, các công ty sử dụng phương pháp khấu trừ
thuế và mua hàng từ các nhà cung cấp sử dụng phương pháp áp dụng thuế VAT trực tiếp không thể khấu trừ thuế VAT đã đóng và được trả bởi các nhà
cung cấp. Vì vậy, làm tăng thêm gánh nặng về thuế VAT.

4. Về quan hệ giũa các doanh nghiệp khu chế xuất và các doanh nghiệp nội địa


Đế n bây giờ, trong nhận thức của một số người vẫn cho rằng doanh
nghiệp chế xuất là “doanh nghiệp nước ngoài”. Cơ sở của nhận thức này xuất phát từ quy định của Nghị định 36CP ngày 2441997, của Chính phủ Điều
40 xác định rằng quan hệ mua bán trao đổi hàng hoá giữa các doanh nghiệp chế xuất và doanh nghiệp trong nước là quan hệ xuất nhập khẩu và áp dụng
theo pháp luật về xuất nhập khẩu. ở đây cần có sự phân biệt rõ ràng về tư cách pháp lý của doanh nghiệp chế xuất cũng như của khu chế xuất. Cũng
theo quy định của Nghị định 36CP, khu chế xuất là một khu vực sản xuất công nghiệp gồm các doanh nghiệp chế xuất do người nước ngồi đầu tư, có
tư cách pháp nhân Việt Nam, hoạt động theo chế độ quản lý đặc thù chế độ bảo thuế, ngoại quan . Việc quy định quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá
giữa các doanh nghiệp chế xuất với nội địa là quan hệ xuất nhập khẩu, nhằm ngăn chặn sự lạm dụng cơ chế ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu cũng như thủ
tục Hải quan để trốn thuế hoặc buôn lậu. Tuy nhiên, trong thực tế thi hành luật lại bắt đầu phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc cho hoạt động xuất
nhập khẩu của các doanh nghiệp. Cụ thể :
44
- V
ề hoạt động mua bán hàng hoá Theo quy định của pháp luật về hoạt động xuất nhập khẩu, các doanh
nghiệp được mua bán hàng hố với nước ngồi tất cả các loại hàng hố trừ hàng hoá cấm xuất nhập khẩu và hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện.
Tương tự như vậy, các doanh nghiệp nội địa được mua bán hàng hoá với các doanh nghiệp chế xuất theo đúng như quy định hiện hành về xuất nhập khẩu
Nhưng theo Khoản 2 điều 8-Quyết định số 531999QĐ-TTg ngày 2631999 của Thủ tướng Chính phủ quy định các doanh nghiệp chế xuất chỉ được bán
vào thị trường nội địa nguyên liệu, bán thành phẩm do các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hàng xuất khẩu; hàng hoá thuộc danh mục hàng hoá thay thế
hàng nhập khẩu thiết yếu mà trong nước có nhu cầu nhập khẩu phế liệu, phế phẩm còn giá trị thương mại. Vẫn biết rằng hạn chế các doanh nghiệp
chế xuất bán hàng vào thị trường nội địa là để hướng mạnh vào xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Nhưng trong điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngồi
tại Việt Nam đang có nhiều khó khăn, quy định như vậy sẽ tạo ra những trở ngại đáng kể đối với các nhà đầu tư. Hơn nữa, xét về lợi ích kinh tế thì mua
hàng từ các doanh nghiệp chế xuất sẽ tiết kiệm được chi phí vận tải quốc tế, phí bảo hiểm, ngân hàng và đặc biệt là có nhiều thuận lợi đối với các doanh
nghiệp khó khăn về vốn để mua hàng vốn nhỏ, quay vòng nhanh so với việc phải có vốn lớn để nhập khẩu từ nước ngoài.
- V
ề hoạt động gia công Theo quy định tại Thông tư 261999TT-BTM và Thông tư số
012000TT-BTM của Bộ Thương mại hướng dẫn thi hành Nghị định 571998NĐ-CP ngày 3171998 của Chính phủ về xuất nhập khẩu, gia công,
đạ i lý mua bán hàng hoá với nước ngoài quy định các doanh nghiệp Việt
Nam được đặt gia cơng ở nước ngồi kể cả các doanh nghiệp chế xuất đượ
c miễn thuế xuất nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu
45
tạm xuất và hàng hoá tái nhập sau gia công. Tuy nhiên, theo Công văn số 1331TCCSTC ngày 2142000 của Bộ tài chính quy định “các doanh
nghiệp nội địa đặt gia cơng ở nước ngồi ”. Ngồi ra, cũng tại văn bản này
việc dẫn luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định “ trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng
một vấn đề thì áp dụng văn bản pháp lý có hiệu lực cao hơn ”, nhưng lại không chỉ ra được Luật thương mại và Luật thuế xuất nhập khẩu, Luật nào
“cao” hơn luật nào. Đây thực chất là sự xung đột pháp luật khơng đáng có, là sự mâu thuẫn chồng chéo trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nói riêng, thể hiện
sự “cục bộ” bản vị trong hoạt động xây dựng pháp luật của các ngành, địa phương, gây cản trở trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam.

5. Quản lý ngoại hối.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơng nghiệp 203 Dầu khí 23 Du lịch – Dịch vụ - KS Xây dựng 221 GTVT - Bưu điện Về quan hệ giũa các doanh nghiệp khu chế xuất và các doanh nghiệp nội địa

Tải bản đầy đủ ngay(68 tr)

×