Tải bản đầy đủ - 68 (trang)
Một số khó khăn và vướng mắc trong q trình triển khai dự án đầu tư

Một số khó khăn và vướng mắc trong q trình triển khai dự án đầu tư

Tải bản đầy đủ - 68trang

37
gấp 2,37 lần về số vốn cùng kỳ năm 1999. Điều này chứng tỏ sức hấp dẫn
của các KCN đối với các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng được nâng cao.

I. Một số khó khăn và vướng mắc trong quá trình triển khai dự án đầu tư


1.Hệ thống pháp luật điều chỉnh đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Ngoài hệ thống pháp luật trong nước điều chỉnh đầu tư nước ngoài, quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngồi còn chịu sự điều chỉnh của các Hiệp định
song phương, đa phương về đầu tư mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc gia nhập, ví dụ: tính đến nay, Việt Nam đã ký trên 30 Hiệp định về khuyến khích
và bảo hộ đầu tư với các nước có quan hệ đầu tư và gia nhập Công ước MIGA về tổ chức bảo đảm đầu tư đa biên, Hiệp định khung về đầu tư khu
vực ASEAN AIA... Từ những tiền đề có tính ngun tắc trên, hoạt động xuất nhập khẩu
của các doanh nghiệp FDI chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư và các luật có liên quan. Đối với những nước phát triển với hệ thống pháp luật hồn chỉnh
thì mặc dù có nhiều quy phạm pháp luật tham gia điều chỉnh nhưng vẫn bảo đả
m tính minh bạch và thống nhất, nhưng đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì việc có nhiều quy pham pháp luật tham gia điều
chỉnh cùng một quan hệ pháp luật không tránh khỏi những mâu thuẫn, chồng chéo, thậm trí trái ngược nhau. Điều nay khơng chỉ gây khó khăn cho các
doanh nghiệp FDI trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam. Theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài và Nghị định 12CP
ngày1821997, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi được quyền trực tiếp xuẩt nhập khẩu hàng hoá phù hợp với quy định của giấy phép đầu tư và luận
chứng kinh tế-kỹ thuật của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa rằng doanh nghiệp được quyền XNK bất kỳ hàng hố gì miễn là phù hợp với mục tiêu
38
vủa giấy phép đầu tư và không phân biệt là hàng hoá thuộc danh mục XNK. Tuy nhiên, trong thực tế thực hiện vấn đề này không phải đơn giản. Trước
hết về xuất khẩu, doanh nghiệp không thể tự do xuất khẩu mà phải chịu sự ràng buộc của các quy định về cơ chế điều hành XNK hàng năm của Chính
phủ. nếu mặt hàng doanh nghiệp xuất khẩu thuộc danh mục hàng xuất khẩu có điều kiện giấy phép hoặc quota thì doanh nghiệp phải làm thủ tục xin
phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trước khi xuất khẩu. Trong thực tế, việc xin phép này không mấy thuận lợi và thậm chí khơng thể có vì hạn
ngạch xuất khẩu gạo, dệt may thông thường chỉ được ưu tiên cho các doanh nghiệp trong nước.
Cũng tương tự về nhập khẩu, các doanh nghiệp cũng bị ràng buộc vào quy định hạn chế nhập khẩu hoặc phải ưu tiên mua sắm trong nước thay vì
nhập khẩu nếu hàng hố này có cùng điều kiện thương mại như nhau. Điều này xét về hình thức là hồn tồn hợp lý bởi vì pháp luật về XNK phải tạo ra
một “ sân chơi ” bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp. Nhưng xét về khía cạnh pháp lý thì có nhiều vấn đề cần bàn :
-
Thứ nhất
, Luật đầu tư một đạo luật do quốc hội ban hành có giá trị pháp lý cao hơn so với quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành
quy định quyền của doanh nghiệp FDI được trực tiếp XNK hàng hoá phù hợp với giấy phép đầu tư, nhưng Quyết định điều hành XNK hàng năm của
Chính phủ lại hạn chế XNK như những doanh nghiệp kinh doanh trong nước. Đ
iều đó dẫn đến tình trạng nhiều mặt hàng nhất là vật tư, nguyên liệu phục vụ xây dựng cơ bản hình thành doanh nghiệp lẽ ra nhập khẩu để đảm bảo
chất lượng cơng trình như sắt, thép, gạch men hoặc hàng hoá phục vụ cho nội thất nhưng do bị giới hạn bởi quy định: trong điều kiện thương mại như
nhau phải ưu tiên mua sắm tại Việt Nam, nên các doanh nghiệp FDI phải mua sắm ở trong nước với giá cả, chất lượng chưa thật bảo đảm theo yêu cầu
39
của dự án đầu tư. Thêm vào đó các doanh nghiệp còn gặp phải rắc rối khi các quy định này hàng năm có sự thay đổi, nếu năm nay được phép nhập khẩu
mà do các yếu tố khách quan chưa thể thực hiện được thì sang năm doanh nghiệp có thể gặp rủi ro vì những mặt hàng đó khơng được phép nhập khẩu.
Xin đơn cử một ví dụ : Cơng ty liên doanh khách sạn OPERA được Bộ Thương mại duyệt kế hoạch nhập khẩu 500 tấn thép xây dựng, do hàng
chưa về kịp trong nămvà do sơ suất khơng phát hiện thời hạn có hiệu lực của giấy phép đã hết, thêm vào đó, mặt hàng sắt thép xây dựng theo quy định
mới lại nằm trong danh mục hàng hoá tạm ngừng nhập khẩu, do đó các cơ quan chức năng Hải quan, Cơng an đã vào cuộc và sau nhiều cuộc họp mới
giải toả được số sắt thép mà theo ý của các cơ quan này lẽ ra phải tịch thu. -
Thứ hai,
do sự không rõ ràng của pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư
không thể dự kiến được kế hoạch chi tiết về nhập khẩu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như không thể xây dựng chiến lược lâu dài về
nhập khẩu để phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu. -
Thứ ba,
ý kiến cho rằng chỉ ưu tiên vào các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thì sẽ là khơng cơng bằng đối với các nhà đầu
tư trong nước Để giải quyết vấn đề này, theo chúng tôi cần trở lại mục tiêu thu hút vốn đầu tư nước ngoài đề ra ngay từ khi bắt đầu hình thành Luật đầu
tư và cũng cần xem lại các cam kết quy định trong Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ các
nước có quan hệ đầu tư.
2. Vấn đề xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI theo quy định của giấy phép đầu tư.
Đ ây là vấn đề nan giải không chỉ đối với doanh nghiệp mà các nhà
quản lý cũng gặp nhiều khó khăn khi tìm kiếm biện pháp xử lý. Thông thường, khi lập dự án khơng ít các nhà đầu tư thường đẩy cao tỷ lệ xuất khẩu
40
80 hoặc thậm chí100 để cơ quan cấp giấy phép đầu tư nhanh chóng phê duyệt. Tuy nhiên, khi triển khai dự án, các doanh nghiệp thường không
đả m bảo được tỷ lệ xuất khẩu theo quy định của giấy phép. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng có một số ngun nhân phải kể đến là : -
Phần lớn các doanh nghiệp FDI đều muốn tiêu thụ sản phẩm của mình ở nước tiếp nhận đầu tư.
- Tỷ lệ xuất khẩu của doanh nghiệp FDI là do các công ty mẹ ở
nước ngoài điều tiết, nên bản thân các doanh nghiệp này cũng không quyết đị
nh được xuất khẩu đi đâu. -
Khả năng cạnh tranh của mặt hàng do các doanh nghiệp FDI Việt Nam sản xuất trên thị trường khu vực cũng như trên thế giới thấp ví dụ
như đường, xi măng, ôtô sắt thép, giấy... do đầu tư không phải là công nghệ tiên tiến, chất lượng, mẫu mã sản phẩm chưa thật hấp dẫn, giá cả còn quá cao
do khấu hao đầu tư quá lớn. -
ả nh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á dãn
tới một số doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, tạm ngừng sản xuất bộ phận hoặc đình chỉ sản xuất cả nhà máy nhr doanh nghiệp sản xuất bút
PILOT, bật lửa TOKAI, giầy thể thao JOAN VIET Tp.HCM -
Theo quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, mọi hàng hoá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp FDI phải tuân thủ theo trình
tự, thủ tục nhất định- đó là thủ tục duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu và thủ tục Hải quan. Cụ thể:
1.1
Về thủ tục duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu tại Bộ Thương mại
ho ặc cơ quan do Bộ Thương mại uỷ quyền
Sở Thương mại các tỉnh, thành ph
ố, ban quản lý các khu công nghiệp... .
41
Vướng mắc lớn nhất là danh mục hàng hoá thực tế xin nhập khẩu thường mâu thuẫn với danh mục hàng hoá quy định trong luận chứng
kinh tế -kỹ thuật đã được các cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn, cấp giấy phép và chất lượng máy móc thiết bị nhập khẩu khác với chất lượng máy
móc thiết bị được quy định trong giấy phép đầu tư. Đố
i với hàng hoá thực tế xin nhập khẩu đặc biệt là những hàng hoá đượ
c miễn thuế nhập khẩu theo quy định của luật thường mâu thuẫn thừa, thiếu hoặc khác chủng loại với danh mục hàng hoá nhập khẩu ghi trong
luận chứng kinh tế - kỹ thuật là do quá trình lập dự án, nhà đầu tư chưa tính tốn thật chi tiết, đầy đủ kế hoạch nhập khẩu hoặc do có sự thay đổi thiết kế,
thay đổi tính tốn so với ban đầu. Trong khi đó, luật lại quy định một trong những cơ sở pháp lý để xem xét miễn thuế nhập khẩu là danh mục hàng hoá
ghi trong luận chứng kinh tế - kỹ thuật phải phù hợp với danh mục hàng hoá xin nhập khẩu. Vì nguyên nhân này mà giữa cơ quan quản lý và doanh
nghiệp thường phát sinh các cuộc “chất vấn” và “giải trình” khá phức tạp để tiến tới việc giải quyết hay không giải quyết mức thuế nhập khẩu máy móc
thiết bị, vật tư, nguyên liệu... để xây dựng cơ bản hình thành doanh nghiệp. Đố
i với hàng hoá thực tế xin nhập khẩu không đảm bảo các yêu cầu về chất lượng so với quy định của giấy phép đầu tư ví dụ : giấy phép đầu tư
quy định hàng hoá nhập khẩu phải mới 100, công nghệ tiên tiến, nhưng doanh nghiệp lại xin nhập khẩu hàng đã qua sử dụng hoặc tân trang... thực
chất là việc giảm giá trị góp vốn hoặc thơng qua việc góp vốn tiêu thụ được máy móc thiết bị cũ, cơng nghệ lạc hậu. Để giải quyết vấn đề này cần có sự
bổ sung, sửa đổi các quy định của luật mà trong thực tế việc sửa đổi này không phải đơn giản và nhanh chóng. Do vậy, thường phát sinh giữa cơ quan
quản lý Bộ Thương mại hoặc các cơ quan do Bộ Thương mại uỷ quyền với doanh nghiệp hoặc giữa các cơ quan quản lý với nhau Bộ Thương mại,
42
Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc giải quyết việc nhập khẩu máy móc thiết bị khơng phù hợp với quy định của giấy phép đầu tư.
1.2 Về thủ tục Hải quan
Mặc dù ngành Hải quan đã có nhiều cải cách nhằm đơn giản hoá thủ tục và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp FDI như thành lập các kho
bảo thuế, thành lập công ty khai thuế Hải quan, áp dụng một loại mẫu tờ khai cho tất cả các loại hình xuất nhập khẩu mậu dịch, đơn giản hoá việc khai
báo... Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn quá nhiều trở ngại cho doanh nghiệp như việc áp sai mã thuế; xử lý hàng giao thừa, giao khác chủng loại còn
nhiều cứng nhắc gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Thêm vào đó trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ của nhân viên hải quan còn hạn chế cộng với tinh thần
thái độ cửa quyền, hách dịch, vòi vĩnh của họ đã tạo ra ảnh hưởng tiêu cực khơng đáng có cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
Một vấn đề đáng ngại làm nản lòng khơng ít các nhà đầu tư nữa là các quy định rườm rà, phức tạp và trùng lặp về thủ tục nhập khẩu cũng như các
thủ tục giấy tờ không cần thiết tại các cửa khaảu hải quan đã trở thành các rào cản phi thuế quan đáng quan tâm.
Việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước không được thực hiện tốt cũng gây nhiều trở ngại cho các doanh nghiệp FDI trong hoạt động
xuất nhập khẩu giữa Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan hay Bộ Thương mại và Bộ tài chính....
3. Về thuế xuất nhập khẩu Trở ngại lớn nhất trong lĩnh vực này là các quy định về thuế xuất nhập
khẩu và các mức thuế không nhất quán gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các dự án, không khuyến khích đầu tư mới do thiếu tính ổn định của chính sách
thuế. Đáng lưu ý là do có những vấn đề tưởng như rõ ràng theo quy định của luật về miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị, phương tiện vận
43
chuyển, vật tư, nguyên liệu dùng để xây dựng cơ bản hình thành doanh nghiệp nhưng khi mỗi lần làm thủ tục nhập khẩu, doanh nghiệp phải giải
trình khá vất vả với cơ quan duyệt kế hoạch nhập khẩu và cơ quan Hải quan mới được giải quyết. Đặc biệt là phương pháp áp dụng thuế giá trị gia tăng
VAT trực tiếp đã tạo ra hai chế độ trả thuế VAT, trái ngược với tính hợp lý của hệ thống thuế VAT. Ví dụ, các công ty sử dụng phương pháp khấu trừ
thuế và mua hàng từ các nhà cung cấp sử dụng phương pháp áp dụng thuế VAT trực tiếp không thể khấu trừ thuế VAT đã đóng và được trả bởi các nhà
cung cấp. Vì vậy, làm tăng thêm gánh nặng về thuế VAT.

4. Về quan hệ giũa các doanh nghiệp khu chế xuất và các doanh nghiệp nội địa


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số khó khăn và vướng mắc trong q trình triển khai dự án đầu tư

Tải bản đầy đủ ngay(68 tr)

×