Tải bản đầy đủ - 68 (trang)
Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Tải bản đầy đủ - 68trang

3

Chương I: Những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài


I. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.


Đế n nay vấn đề đầu tư nước ngồi khơng còn là vấn đề mới mẻ đối với
các nước trên thế giới. Song các quốc gia vẫn không thống nhất được khái niệm về đầu tư nước ngồi. Vì thế có thể nói đây là vấn đề khá phức tạp,
khơng dễ dàng gì có được sự thống nhất về mặt quan điểm giữa các quốc gia khi mà mỗi quốc gia về cơ bản đều theo đuổi những mục đích riêng của mình
hoặc do ảnh hưởng của hồn cảnh kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.
Tại Hội thảo của Đại hội Hiệp hội Pháp luật quốc tế Henxky 1966, người ta đã cố gắng đưa ra một khái niệm chung nhất về đầu tư trực tiếp
nước ngoài nhằm phân biệt với các khoản kinh tế khác nhận được từ bên ngoài. Theo đó, “Đầu tư nước ngồi là vận động tư bản từ nước người đầu tư
sang nước người sử dụng đầu tư mà khơng có hạch tốn nhanh chóng”. Sau đ
ó, qua thảo luận Hiệp hội đã đưa ra một khái niệm dưới dạng tổng quát như sau: “Đầu tư nước ngoài là sự vận động tư bản từ nước người đầu tư sang
nước người sử dụng đầu tư với mục đích thành lập ở đây một xí nghiệp sản xuất hay dịch vụ nào đó”. Với khái niệm này, việc đầu tư vào một nước nhất
thiết phải gắn liền với việc thành lập một xí nghiệp hay một cơ sở sản xuất, dịch vụ tại nước nhận đầu tư, do đó đã loại trừ một số hình thức đầu tư khác
khơng thành lập ra xí nghiệp hay cơ sở sản xuất như cho vay tiền của ngân hàng, tài trợ cho chương trình hay cho dự án…. Đây chính là điểm hạn chế
của khái niệm này so với yêu cầu hợp tác kinh tế trong thời đại hiện nay. Khái niệm về đầu tư nước ngoài được các nước hiểu và vận dụng khác
nhau. Tại các nước tư bản phát triển, đầu tư nước ngồi là việc giao vật có giá trị kinh tế của nước này sang nước khác nhằm thu đuợc lợi nhuận, bao
4
gồm cả quyền cầm cố và quyền thu hoa lợi, quyền tham gia các hội cổ phần,quyền đối với nhãn hiệu thương phẩm và tên xí nghiệp. Như vậy, quan
niệm về đầu tư nước ngoài ở đây rất rộng rãi, chỉ là quá trình chuyển tiền vốn từ nước này sang nước khác với mục đích thu lợi nhuận, theo nguyên tắc lợi
nhuận thu được phải cao hơn lợi nhuận thu được trong nước và cao hơn lãi suất gửi ngân hàng, nếu kinh tế của các nước tư bản phát triển là tương đối
ổ n định, thị trường đã được khai thác tối đa và có hiện tượng tương đối thừa
tư bản, do đó việc đầu tư ra nước ngoài là cực kỳ cần thiết để lợi dụng nhân công rẻ, nguồn nguyên liệu dồi dào và chiếm lĩnh thị trường xuất nhập khẩu.
Do đó quan niệm rộng rãi về đầu tư nước ngoài tồn tại như một tất yếu. Các nước đang phát triển lại sử dụng khái niệm đầu tư nước ngoài với
nội dung là đầu tư trực tiếp như việc đưa bất động sản, vốn, thiết bị vào xây dựng, mở rộng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Như vậy, đầu tư nước ngoài tại
các nước đang phát triển chỉ được cơng nhận dưới hình thức đầu tư trực tiếp, loại trừ hình thức đầu tư gián tiếp. Bởi vì đầu tư trực tiếp đem lại nguồn vốn,
kỹ thuật hiện đại thay thế cho kỹ thuật lạc hậu hiện có, tạo cơng ăn việc làm cho lực lượng lao động, nâng cao mức sống, tăng tích luỹ thu nhập quốc dân.
Còn đầu tư gián tiếp cũng đưa vốn vào, nhưng khơng có kế hoạch sử dụng vốn, cùng với khả năng quản lý non kém và trình độ sản xuất kinh doanh lạc
hậu của các nước đang phát triển đã không đủ khả năng sử dụng vốn vay có hiệu quả, dẫn đến tình trạng khơng trả được nợ. Với lý do đó, việc tăng
cường sử dụng hình thức đầu tư trực tiếp là phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của các nước đang phát triển. Chính sách này đã và đang là hình thức
phổ biến trong chính sách “mở cửa nền kinh tế” của nhiều nước, đặc biệt là các nước trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam.
Đị nh nghĩa về đầu tư nước ngoài theo Hội thảo Henxinki như trên là
quá ngắn gọn nên không nêu được bản chất của đầu tư nước ngồi, tuy nhiên
5
đ ã có một khuynh hướng đúng đắn cho rằng không nên coi bất kỳ tiền, vốn
nào đưa ra nước ngoài đều là đầu tư ví dụ như hình thức tín dụng quốc tế, viện trợ quốc tế …
Chuyên gia luật quốc tế Iumarxep trong cuốn sự điều chỉnh pháp luật của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại EC-Matxcơva, 1988 cho rằng, đầu tư
nước ngoài khác với những hành vi đầu tư thơng thường như đầu tư chứng khốn, nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc tăng thu nhập dưới các hình thức
hoa hồng, hoa lợi… Đị
nh nghĩa về đầu tư nước ngồi còn gặp ở nhiều văn kiện pháp luật về đầu tư hoặc các Hiệp định quốc tế về bảo hộ và thúc đẩy đầu tư. Chính sự
đị nh nghĩa này đã tạo ra cơ sở pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài trong
hoạt động của mình. Tuy nhiên, sự phức tạp của quan hệ đầu tư và do vấn đề ngữ pháp hoặc cách sử dụng từ mà thuật ngữ “đầu tư nước ngoài” trong các
văn kiện pháp luật của mỗi nước có khác nhau. Ví dụ : Luật về đầu tư nước ngồi của Liên bang Nga ngày 471991
quy định : Đầu tư nước ngồi là tất cả những hình thức giá trị tài sản hay giá trị tinh thần của nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng của hoạt
độ ng kinh doanh và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận. Định
nghĩa tương đối đầy đủ, vạch rõ bản chất của vấn đề đầu tư là lợi nhuận, tuy nhiên nếu đầu tư nước ngoài được xem xét chỉ là “tài sản” được sử dụng với
mục đích đem lại lợi nhuận thì khái niệm này bị giới hạn. Trong Luật của Ucraina về đầu tư nước ngoài ngày 1331992, thuật ngữ “đầu tư nước ngoài”
đượ c đề cập đến với phạm vi rộng hơn : “Đầu tư nước ngồi là tất cả các
hình thức giá trị do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng của hoạt độ
ng kinh doanh và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận hoặc các hiệu quả xã hội”. Chính hình thức “hiệu quả xã hội” đã mở rộng phạm vi
6
hoạt động của luật đầu tư đối với các kiểu, các hình thức khác của luật đầu tư nước ngồi.
Như trên đã nói, định nghĩa đầu tư nước ngồi còn được nêu ra tại các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương, đa phương giữa các
quốc gia. Ví dụ : Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Cộng hồ ả Rập về khuyến khích và bảo hộ đầu tư đã đưa ra định nghĩa về đầu tư nước ngoài
như sau : Thuật ngữ “đầu tư” nghĩa là bất kỳ loại tài sản nào được đầu tư bởi nhà đầu tư của một bên ký trên lãnh thổ của bên ký kết kia phù hợp với luật
và quy định của bên ký kết đó. Với tính chất chung như trên, thuật ngữ “đầu tư” bao gồm, cụ thể,
nhưng không chỉ là : a
Động sản, bất động sản và các quyền sở hữu tài sản khác như quyền thế chấp, cầm cố, thế nợ, quyền và nghĩa vụ đối với các khoản vay và
cho vay các quyền tương tự ; b
Phần góp vốn, vốn và phiếu ghi nợ của các cơng ty và bất kỳ hình thức tham gia và cơng ty hoặc bất kỳ doanh nghiệp nào khác ;
c Quyền đối với một khoản tiền hay quyền đối với bất kỳ hoạt
độ ng nào có giá trị kinh tế liên quan đến đầu tư ;
d Quyền sở hữu trí tuệ và cơng nghiệp như quyền tác giả, nhãn
hiệu thương mại, bằng phát sáng chế,kiểu dáng cơng nnghiệp, quy trình kỹ thuật, bí quyết kỹ thuật, bí mật thương mại, tên thương mại và uy tín kinh
doanh; e
Bất kỳ quyền nào theo hoặc theo hợp đồng liên quan đến đầu tư và bất kỳ giấy phép và sự cho phép nào phù hợp với pháp luật,bao gồm tơ
nhượng về thăm dò, nuôi trồng,tinh chế hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên.
7
Các nước Brunei, Indonesia, Philipin, Singapore, Thai lan đều thống nhất về khái niệm đầu tư mà các nước hay công ty của một nước thành viên
ASEAN đóng góp vào cơng trình khác nhau trên lãnh thổ của nước ASEAN khác trong Hiệp định hợp tác đầu tư các nước ASEAN ngày 1521987 như
sau : Thuật ngữ đầu tư có nghĩa là tất cả các loại tài sản và trên nhưng lhông phải là tất cả :
• Độ
ng sản, bất động sản và bất kỳ các quyền sở hữu tài sản nào khác như quyền thế chấp, cầm cố;
• Phần góp vốn, vốn và phiếu ghi nợ của các công ty hay lãi từ tài
sản của các cơng ty đó ; •
Quyền đối với một khoản tiền hay quyền đối với bất kỳ sự thực hiện nào có giá trị về mặt tài chính;
• Quyền sở hữu trí tuệ và đặc quyền kế nghiệp;
• Sự tơ nhượng kinh doanh theo luật hoặc theo hợp đồng, bao
gồm tơ nhượng về thăm dò, ni trồng, tinh chế và khai thác tài nguyên thiên nhiên”.
Từ khái niệm về đầu tư nước ngoài như trên, dựa vào mục đích và tính chất đầu tư ta có thể phân loại đầu tư nước ngoài như sau:
a Đầu tư công cộng và đầu tư tư nhân:
Đầ u tư cơng cộng có thể hiểu là sự tài trợ quốc tế công cộng dành cho
một số quốc gia nhằm đáp ưngs một số nhu cầu lợi ích cơng cộng của họ thông qua sự quản lý của một số tổ chức liên chính phủ như Ngân hàng thế
giới WB, các ngân hàng phát triển các khu vực…
8
Đầ u tư tư nhân là hoạt động của tư nhân thể nhân, pháp nhân thuộc
một quốc gia mang tư bản sang kinh doanh trên lãnh thổ một quốc gia khác nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận riêng.
b đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:
Đầ u tư trực tiếp của nước ngồi là một q trình kinh tế, trong đó một
hay nhiều tổ chức kinh tế của nước này đầu tư vốn vào nước khác nhằm xây dựng các cơng trình mới hoặc hiện đại hố, mở rộng các xí nghiệp hiện có
hoặc bằng các hình thức đầu tư trực tiếp khác. Đầ
u tư gián tiếp là khoản đầu tư thực hiện thông qua các hoạt động cho vay và viện trợ mà nguồn chủ yếu là của các Chính phủ, các tổ chức
quốc tế và vốn tư nhân. Đầu tư gián tiếp còn được thực hiện thơng qua việc mua các chứng khốn có giá trị như trái phiếu, cổ phiếu… để nhận lợi tức.
Như đã trình bày ở trên, mỗi hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp đều có vai trò và tầm quan trọng riêng đối với nền kinh tế của nước sử
dụng đầu tư. Đối với đầu tư gián tiếp, người cho vay chỉ biết lấy lại vốn và thu lãi trong khi đầu tư trực tiếp là trực tiếp cùng chịu trách nhiệm, không chỉ
quan tâm tới thu lãi phần trăm vay vốn mà còn phải đầu tư trí tuệ để tìm ra lợi nhuận chung. Các ngân hàng khi cho vay vốn cũnh đòi hỏi phải có dự
ánđể xem xét bảo đảm khả năng trả nợ nhưng đó khơng phải là dự án đầu tư trực tiếp.
Giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp có mối liên hệ nhất định. Đầu tư gián tiếp cung cấp vốn cho nước chủ nhà thực hiện những cơng trình đòi
hỏi vốn lớn như xây dựng cơ sở hạ tầng mà tư nhân khơng có điều kiện đầu tư, qua đó tạo mơi trường thuận lợi hơn, thúc đẩy đầu tư trực tiếp.
Khái ni ệm về đầu tư nước ngoài trong pháp luật Viêt Nam:
9
Theo Điều lệ đầu tư năm 1977, ban hành kèm theo Nghị định 115CP ngày 18041977 thì khái niệm đầu tư nước ngoài ở Việt Nam được hiểu là
“việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn sau đây nhằm xây dựng những cở sở mới hoặc đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, mở rộng các cơ
sở hiện có: -
Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ. -
Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh phương pháp cộng nghệ, bí quyết kỹ thuật.
- Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ.
- Vốn bằng ngoại tệ để chi trả lương cho nhân viên và công nhân
làm việc tại các cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định ở những đ
iều của Điều lệ này Điều 2 Điều lệ đầu tư 1977 Như vậy, theo Điều lệ này thì đầu tư nước ngồi ở Việt Nam khơng
phải là sự vận động của bất cứ vốn tư bản nào từ nước ngồi vào Việt Nam với mục đích thành lập một xí nghiệp sản xuất hay dịch vụ như khái niệm mà
Hiệp hội Pháp luật quốc tế Henxinki đưa ra. Căn cứ vào nội dung của Điều lệ đầ
u tư 1977 thì sự vận động của vốn và tài sản chỉ được coi là đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nếu có đủ hai điều kiện sau:
1. Đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn được quy
đị nh tại điều 2 của Điều lệ.
2. Nhằm mục đích xây dựng cơ sở mới hoặc đổi mới trang bị kỹ
thuật, các cơ sở hiện có. Qua đó ta thấy về cơ bản, ta loại trừ đầu tư gián tiếp, chỉ quy định đầu
tư trực tiếp và chấp thuận hai loại đầu tư là đầu tư kỹ thuật và đầu tư tài chính, nhưng đầu tư tài chính phải lồng vào đầu tư kỹ thuật và chỉ chấp nhận
đầ u tư vốn đơn thuần trong những trường hợp và điều kiện cụ thể.
10
Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 đưa ra khái niệm đầu tư nước ngoài là “việc các tổ chức, các cá nhân nước trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng
tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp
liên doanh hoặc xí nghiệp 100 vốn nước ngồi theo quy định của luật này”. Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 đưa ra khái niệm đầu tư nước ngoài
là “việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt ddộng đầu tư theo quy định của
luật này”. Như vậy, theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, khái niệm đầu tư
nước ngồi được hiểu như sau: -
Là hình thức đầu tư trực tiếp. -
Là việc bên ngoài nước đầu tư trực tiếp đưa vốn và tài sản khác vào đầu tư tại Việt Nam. Bên nứoc ngồi có thể là một tổ
chức tổ chức nhà nước, tổ chức tư nhân, hay một tổ chức quốc tế hoặc tự nhiên nhân nước ngoài. Như vậy là pháp luật đầu tư của ta
không loại trừ bất cứ một đối tượng nào, kể cả các tổ chức tư bản độc quyền, người Việt Nam có quốc tịch nước ngồi.
Đầ u tư khơng chỉ là vốn đầu tư mà còn bao hàm cả bằng sáng chế, bí
quyết kỹ thuật, quy trình cơng nghệ, dịch vụ công nghệ… Quy định này của luật nước ta nhằm mục đích tranh thủ được vốn, kỹ thuật hiện đại, kinh
nghiệm và phương pháp quản lý tiên tiến, đào tạo đội ngũ công nhân có kỹ thuật cao, đội ngũ quản lý giỏi ; thay đổi cán cân kinh tế đối ngoại, góp phần
nâng cao đời sống nhân dân, hoà nhập với cộng đồng thế giới. Hoạt động đầu tư trực tiếp ở một số nước thường dẫn đến việc thành
lạp ở nước nhận đầu tư một cơ sở sản xuất hay một xí nghiệp nào đó. Nhưng
11
theo luật đầu tư của Việt Nam thì khơng nhất thiết phải lập nên một pháp nhân mới mà có thể hoạt động hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp
tác kinh doanh, hay hợp đồng xây dựng- kinh doanh –chuyển giaoBOT và các hợp đồng tương tự.
Khái niệm về đầu tư nước ngoài theo luật đầu tư nước ngoài năm 1987 sau đó là luật năm 1996 đã phát triển hơn nhiều so với phạm vi nội dung khái
niệm đầu tư nước ngoài được quy định ở điều lệ đầu tư 1977 khi cho phép các nhà đầu tư nước ngoài “được đầu tư trong các lĩnh vực của nền kinh tế
quốc dân”Điều 3 luật đầu tư nước ngoài 1987, 1996. Như vậy so với Luật đầu tư nước ngoài của UCRAINA, mà trong đó
đị nh nghĩa đầu tư nước ngoài bao gồm “tất cả các loại giá trị”, thuật ngữ “tài
sản” trong luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam bao gồm các loại giá trị vật chất nhà xưởng, thiết bị, máy móc, phương tiện.. và các giá trị tinh thần
công nghệ, bằng sánh chế, know-how. Tại đây chúng ta thấy thuật ngữ “tất cả các loại giá trị “ được sử dụng trong luật thành công hơn so với thuật ngữ
“ tài sản”. Trong pháp luật về đầu tư nước ngoài của Việt Nam khơng giải thích
các khái niệm như “thu lợi luận” hoặc đạt được “ hiệu quả xã hội”.Mặc dù vậy,việc quy định các hình thức đầu tư hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
đồ ng, doanh nghiệp có 100 vốn đầu tư nước ngoài… cũng đã bao hàm cả
các khái niệm “thu lợi nhuận”. Hơn nữa, ngay việc đưa tiêu chí này vào luật đ
ã làm rõ hơn khái niệm về đầu tư nước ngồi. Còn khái niệm “hiệu quả xã hội” thì nói chung luật pháp Việt Nam khơng điều chỉnh những đầu tư nước
ngồi mà nhà đầu tư chỉ nhằm vào một mục tiêu như vậy. Khái niệm đầu tư nước ngồi trong pháp luật nói chung được hình
thành phụ thuộc vào cục diện kinh tế, mà trước hết là tình hình chính trị của đấ
t nước vào thời điểm thông qua văn bản pháp luật về đầu tư nước ngồi.
12
Nói cách khác, khơng chỉ những quy định riêng rẽ của pháp luật về đầu tư nước ngồi mà chính sách kinh iế của quốc gia đối với đầu tư nước ngoài
đ óng vai trò rất quan trọng.
Tóm lại, khái niệm đầutư nước ngoài đã trải qua một quá trình phát triển biện chứng hết sức chặt chẽ. Từ quy định đầu tư nước ngoài là việc đưa
vốn và tài sản nhất định vào Việt Nam đến quy định về đối tượng được đầu tư và quy định về hình thức đầu tư, thể hiện chủ trương của Nhà nước Việt
Nam là mở rộng và thu hút vốn đầu tư của nhiều nước trên thế giới, làm đòn bẩy mạnh mẽ để đưa nước ta phát triển ngang tầm với sự phát triển chung
của tồn thế giơí.

II. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Tải bản đầy đủ ngay(68 tr)

×