Tải bản đầy đủ - 91 (trang)
Tình hình sử dụng nguồn nhân lực hiện có.

Tình hình sử dụng nguồn nhân lực hiện có.

Tải bản đầy đủ - 91trang

2.2 Tình hình sử dụng nguồn nhân lực hiện có.


Hiện nay chúng ta có khoảng 1.000 tiến sỹ khoa học, hơn 10.000 tiến sỹ chuyên ngành, khoảng 100.000 người có trình độ đại học và 1.000.000
lao động có kỹ thuật được đào tạo. Số lượng này không lớn so với nguồn lao động hiện có ở nước ta hiện nay, nhưng trong thời gian qua nó đã góp
phần đáng kể vào công cuộc đổi mới kinh tế của đất nước. Trên nhiều lĩnh vực, nguồn nhân lực có trình độ chun mơn kỹ thuật này đã tiếp cận được
trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ trên thế giới.
Trong những năm qua, tiềm lực trí tuệ trong khoa học tự nhiên và cơng nghệ quốc gia đã đóng góp đáng kể vào việc giải quyết các vấn đề
thực tiễn, xây dựng cơ sở khoa học trọng điểm. Từng bước đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại tin
học, sinh học, vật liệu học, tự động hoá.
Cùng với khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho những quyết sách và
đường lối trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Đây là những đóng góp hết sức quan trọng của nguồn trí tuệ Việt Nam.
Tuy vậy, việc sử dụng nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật, được đào tạo một cách cơ bản ở các trường đại học và dạy nghề còn nhiều
bất cập. Ngồi việc phân bổ và sử dụng không hợp lý giữa các vùng, các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, tình trạng lãng phí chất xám dưới
nhiều hình thức đang tồn tại khá phổ biến ở nước ta hiện nay. Bởi vì, do chính sách tiền lương quá thấp, cộng vào đó là việc ăn, ở, đi lại khơng còn
chế độ bao cấp như trước nữa, nên nhiều người được đào tạo ở ngành này, nhưng lại chạy sang ngành khác có thu nhập cao hơn. Cách sử dụng như
vậy vừa lãng phí cơng sức đào tạo mà hiệu quả lại không cao.
Trong những năm qua, tình trạng đào tạo ồ ạt dưới nhiều hình thức: dân lập, công lập, tại chức, đào tạo từ xa. Theo kết quả điêu tra sinh viên
tốt nghiêp ra trường năm 1999 của 49 trường đại học trong cả nước, số sinh viên ra trường tìm kiếm được việc làm là 72,47, chưa kiếm được việc làm
là 27,53. Kết quả khảo sát của đề tài KX07 thì chỉ có 48,8 nhân lực đã
47
qua đào tạo được sử dụng đúng với ngành nghề được đào tạo. Một số lĩnh vực như y tế, giáo dục được làm đúng nghề đào tạo chiếm tỷ lệ cao nhưng
một số lĩnh vực khác thì tỷ lệ này rất thấp.Việc thu hút và sử dụng lao động có trình độ chun mơn cao còn nhiều điều chưa phù hợp. Ngay trong
thang bậc lương của chúng ta hiện nay chủ yếu là khuyến khích và đãi ngộ những người có chức vụ, chứ chưa chú ý đến người có học vấn cao. Chỉ
cần được lên chức hay trúng vào cấp uỷ, tức thì nhảy liền mấy bậc lương. Do đó, khơng ít các nhà khoa học thành đạt đã xa rời con đường khoa học
để đi vào con đường phấn đấu chức vụ hành chính. Trong công tác tổ chức cán bộ, việc tuyển dụng vẫn dựa vào tình cảm cá nhân, quen biết, chưa chú
trọng những người có chun mơn giỏi. Tình trạng nhiều người có bằng cấp chính quy khơng được sử dụng mà lại sử dụng những bằng cấp đào tạo
chắp vá, nhưng do thân quen hoặc con cái của những vị có chức, có quyền.
Tình trạng chuyển dịch lao động từ khu vực kinh tế Nhà nước sang làm cho các cơng ty, xí nghiệp liên doanh hoặc văn phòng đại diện nước
ngoài tại Việt Nam ngày một tăng. Điều đáng nói ở đây là, những người này đa số làm việc cho các cơng ty nước ngồi là những người có tay nghề
cao, thơng thạo ngoại ngữ và vi tính. Trong khi đó, chúng ta đã dày cơng đào tạo họ và phải chi phí một phần kinh phí khá lớn cho công tác đào tạo
và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ qua các năm. Đây là một lãng phí rất lớn khơng những về vật chất mà còn lãng phí về con người khơng thể tính
hết được. Bên cạnh sự di chuyển đó, gần đây lại xuất hiện tình trạng cán bộ giỏi được cử đi đào tạo, học tập ở nước ngồi khơng trở về nước làm việc,
cũng làm cho hiện tượng mất chất xám tăng lên.
3.CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC
3.1. Giải pháp cho vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp .
Không phải cho đến bây giờ, vai trò của nguồn nhân lực mới được coi trọng mà ngay từ khi nền kinh tế còn trong thời kỳ hoang sơ người ta đã
nhận ra vai trò đặc biệt quan trọng của nó. Cho đến ngày nay thì vai trò của
48
nguồn nhân lực ngày càng được khẳng định là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển. Do đó, việc tạo lập được một nguồn nhân lực có chất
lượng cao ln là mục tiêu của mọi tổ chức và mọi quốc gia. Các doanh nghiệp ở Việt Nam cần phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực để phát triển sản xuất kinh doanh của mình góp phần đưa kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế thị trường định
hướng Xã hội Chủ nghĩa.
Hiện tại, dường như các doanh nghiệp đã quan tâm đến vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhưng làm thế nào để đào tạo, phát triển
thành cơng thì đòi hỏi ở các doanh nghiệp phải có sự tính tốn cụ thể, kỹ lưỡng. Nếu khơng thì mọi cố gắng của doanh nghiệp chỉ là vơ nghĩa. Một số
giải pháp để hồn thiện hơn cơng tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp ở nước ta là.
Thứ nhất, các doanh nghiệp cần phải cùng với xã hội thực hiện xã hội hố cơng tác giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Hiện vẫn
tồn tại khoảng cách giữa các doanh nghiệp với vấn đề giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực. Các doanh nghiệp dường như chưa dành sự quan tâm thích
đáng cho cơng việc cần thiết nhưng khó khăn này. Xã hội hố cơng tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội
cùng tham gia đào tạo, hướng nghiệp cho người lao động. Mục đích của việc làm này là giảm tối thiểu những chi phí cho cơng tác đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực. Đồng thời, góp phần làm giảm tình trạng thất nghiệp trong xã hội. Xã hội hố cơng tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đòi
hỏi ở các doanh nghiệp một tinh thần hợp tác và xây dựng. Xã hội hoá công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực mang lại rất nhiều lợi ích cho
doanh nghiệp như giảm bớt một phần chi phí đào tạo của doanh nghiệp đồng thời tạo cho nguồn nhân lực thói quen cũng như tác phong làm việc
của tổ chức. Do đó, đến khi vào làm việc thật sự, người lao động không còn cảm thấy bỡ ngỡ. Đó là một lợi thế vơ cùng lớn để các doanh nghiệp có thể
đẩy nhanh hoạt động của mình, khơng phải mất thời gian vào làm những công việc tốn khá nhiều thời gian này. Tuy nhiên, thực hiện xã hội hóa
49
cơng tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải chi phí một phần nguồn lực tài chính, điều mà mọi tổ chức khi tham
gia hoạt động kinh tế khơng bao giờ muốn. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có được nhận thức đúng đắn về vấn đề này.
Thứ hai, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoạt động hợp tác phát triển với các công ty nước ngồi bởi vì đây chính là cơ hội để các doanh
nghiệp có thể học hỏi để đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ yêu cầu phát triển. Tại sao các doanh nghiệp nước ngoài lại có
được đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng cao như vậy? Phải chăng tự nhiên họ có được đội ngũ chuyên gia giỏi? Đó là một điều mà các doanh
nghiệp của ta phải học hỏi. Đầu tư cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là hợp lý nhưng phải đầu tư đúng nơi, đúng chỗ. Hơn nữa, xu thế ngày nay
là hợp đồng, hợp tác phát triển trên nguyên tắc các bên cùng có lợi. Do đó, việc các doanh nghiệp cùng tham gia hợp tác với nước ngoài trên lĩnh vực
đào tạo là một điều nên làm vì lợi ích thu được là q lớn.
Thứ ba, các doanh nghiệp cần tạo điều kiện cho người lao động bao gồm cả công nhân lao động và cán bộ quản lý ở mọi cấp được tham gia
học tập, đào tạo và đào tạo lại bởi vì trong xã hội thông tin, việc không ngừng nâng cao cập nhật kiến thức là một nhu cầu tất yếu, đặc biệt là trong
giai đoạn hiện nay khi mà sự phát triển của mọi quốc gia đều hướng tới nền kinh tế tri thức - một xã hội của tinh thần không ngừng học hỏi, rèn luyện
và nâng cao kiến thức. Các doanh nghiệp cần phải có sự phân định rõ ràng sự cần thiết trong việc đào tạo nguồn nhân lực ở hai cấp độ là đào tạo
chung chung và đào tạo chuyên sâu. Đào tạo chung chung để đáp ứng việc phổ cập những kiến thức cơ bản tuỳ theo trình độ, phù hợp với nhu cầu
phát triển trên diện rộng. Đào tạo chuyên sâu chính là việc đào tạo với mục đích hình thành nên đội ngũ cán bộ giỏi, cán bộ đầu đàn trong các lĩnh vực
khác nhau để họ có đủ năng lực kiến thức và khả năng tư duy, suy nghĩ độc lập, sáng tạo, đủ sức đảm đương những công việc đạt tới những đỉnh cao
của khoa học công nghệ mới. Một khi có nhà lãnh đạo giỏi, họ là người am hiểu, nắm bắt được thực chất của vấn đề thì họ sẽ có những bứoc đi đúng
50
đắn để giải quyết vấn đề đó và ngược lại. Do đó, đào tạo chuyên sâu là một việc là vô cùng cần thiết đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh
tế nói chung và các doanh nghiệp ở nước ta nói riêng.

3.2. Giải pháp cho công tác tuyển chọn nguồn nhân lực.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tình hình sử dụng nguồn nhân lực hiện có.

Tải bản đầy đủ ngay(91 tr)

×