Tải bản đầy đủ - 64 (trang)
Quy định nhằm đảm bảo an toàn trong cho vay đối với khách hàng

Quy định nhằm đảm bảo an toàn trong cho vay đối với khách hàng

Tải bản đầy đủ - 64trang

kinh tế thế giới. Các TCTD là bộ phận chủ yếu trong các trung gian tài chính, nên đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của các TCTD sẽ là một nội
dung quan trọng để giữ cho nền tài chính quốc gia được ổn định. Nếu các TCTD thật sự phát triển, ổn định và nâng cao hiệu quả hoạt động thì sẽ đóng
vai trò then chốt và quan trọng cho việc cung ứng vốn, góp phần tăng trưởng cho nền kinh tế. Chính vì vậy, u cầu pháp luật cần phải quy định những
biện pháp bảo đảm cần thiết duy trì ổn định cho hoạt động kinh doanh của của các TCTD, góp phần khắc phục hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra.
Đồng thời thông qua các quy định của pháp luật về các biện pháp bảo đảm an toàn thể hiện sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động của các TCTD nói
riêng và nền kinh tế nói chung. Và xây dựng được hệ thống các quy định của pháp luật bảo đảm an toàn
trong hoạt động cho vay của các TCTD trở thành hàng rào pháp lý vững chắc sẽ góp phần giúp cho hệ thống ngân hàng ổn định, kinh doanh có hiệu quả tạo
ra nền tảng tốt để thực thi các chính sách của phát triển đất nước, huy động và sử dụng tốt hơn các nguồn lực để tham gia vào hợp tác, cạnh tranh quốc tế,
góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia. Với những lý do nêu trên pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động
kinh doanh của các TCTD nói chung và hoạt động cho vay nói riêng ln là u cầu cấp bách và bức thiết. Đồng thời với sự phát triển của ngành công
nghiệp ngân hàng ngày càng đa dạng, các quy định của pháp luật về bảo đảm an toàn ln cần được Đảng và Nhà nước rà sốt, xem xét và sửa đổi, bổ sung
để đảm bảo tính phù hợp và đựơc vận dụng một cách có hiệu quả các biện pháp pháp lý này.
2.3.Pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của các TCTD

2.3.1. Quy định nhằm đảm bảo an toàn trong cho vay đối với khách hàng


2.3.1.1.Khách hàng phải thỏa mãn điều kiện vay vốn
Theo luật Việt Nam, trong Quy chế cho vay 16272001QĐ-NHNN, quy 35
định tại điều 7 về điều kiện vay vốn,TCTD xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện: có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành
vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật, mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh,
dịch vụ khả thi và có hiệu quả hoặc dự án đầu tư, phương án sản xuất phục vụ đời sống khả thi kèm theo phương án trả nợ khả thi, thực hiện các quy định về
bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Quy chế cho vay 1627 đã có bổ sung thêm một loại
khách hàng mới so với các quy chế trước kia; đó là các pháp nhân và cá nhân nước ngồi có đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo
quy định của pháp luật. Đây là một quy định mới theo hướng mở rộng khách hàng vay phù hợp với thực tế và thơng lệ quốc tế.
Ngồi ra, Điều 19 Quy chế cho vay 1627 xác định rõ những trường hợp mà TCTD khơng được cho vay đó là: thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm
soát, Tổng giám đốc Giám đốc, Phó tổng giám đốc Phó giám đốc của TCTD, cán bộ nhân viên của chính TCTD đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định,
quyết định cho vay, bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, ban kiểm sốt, Tổng giám đốc Giám đốc, Phó tổng giám đốc Phó giám
đốc.Và các trường hợp hạn chế cho vay tại điều 20 của quy chế này “ Tổ chức tín dụng khơng được cho vay khơng có bảo đảm, cho vay với những điều
kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với những đối tượng sau đây:Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm tốn tại tổ chức tín dụng
cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho vay; Kế tốn trưởng của tổ chức tín dụng cho vay; Các cổ đơng lớn của tổ
chức tín dụng;Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10 vốn điều lệ của
doanh nghiệp đó”. Các quy định này một mặt nhằm ngăn ngừa những hiện tượng lợi dụng
chức vụ quyền hạn, ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra; mặt khác các hạn 36
chế góp phần bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của các TCTD,giúp các TCTD hoạt động hiệu quả.Những điều kiện đối với khách hàng là một
đảm bảo an toàn đối với hoạt động cho vay.Tuy nhiên,điều đó chỉ có ý nghĩa với khách hàng vay,còn việc cho vay hay khơng,quyền quyết định thuộc về
các TCTD.
2.3.1.2.Tuân thủ các nguyên tắc vay vốn
Nguyên tắc vay vốn phải được quán triệt trong suốt quá trình cho vay
“Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo:Sử dụng vốn vay
đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng; Hồn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.”Điều 6,Qquyết
đinh 16272001QĐ-NHNN.Và TCTD tự chịu trách nhiệm về quyết định trong cho vay của mình. Khơng một tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái
pháp luật vào quyền tự chủ trong quá trình cho vay và thu hồi nợ của TCTD.
2.3.1.3 Cho vay trong phạm vi luật định Theo quy định tại khoản 1 ,2 điều 18 Quyết định 16272001QĐ-
NHNN:tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15 vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho
vay từ các nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân. Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt q 15 vốn tự có của tổ
chức tín dụng hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồn thì các tổ chức tín dụng cho vay hợp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam. “Trong trường hợp đặc biệt, tổ chức tín dụng chỉ được cho vay vượt quá mức giới hạn cho vay quy định tại Khoản 1 Điều này khi được Thủ tướng
Chính phủ cho phép đối với từng trường hợp cụ thể”. Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế - quốc tế, các doanh nghiệp
trong nước cần phải đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh theo chiều rộng và chiều sâu, để giải quyết nhu cầu vốn đầu tư lớn này cho các doanh
nghiệp đồng thời vẫn đảm bảo được giới hạn cho vay tối đa của ngân hàng 37
đối với khách hàng, các ngân hàng đã tiến hành cho vay hợp vốn. Đối với các đối tượng hạn chế cho vay quy định tại Điều 20 Quyết định16272001QĐ-
NHNN, tổng dư nợ cho vay không được vượt q 5 vốn tự có của ngân hàng. Ngồi ra, để đảm bảo an toàn tiền vay, nâng cao khả năng giám sát đối
với các hoạt động tín dụng, pháp luật buộc các ngân hàng phải thực hiện báo cáo Ngân hàng nhà nước thơng qua trung tâm tín dụng của ngân hàng nhà
nước các khách hàng có tổng dư nợ tiền vay từ 5 trở lên so với vốn tự có của ngân hàng. “Tổng dư nợ cho vay đối với các đối tượng quy định tại Điều
20 Quy chế này không được vượt quá 5 vốn tự có của tổ chức tín dụng”. 2.3.1.4. Chấm dứt cho vay và thu hồi nợ
Đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay ,pháp luật quy định quyền chấm dứt việc cho vay ,xử lý tài sản đảm bảo ,thu hối nợ của TCTD trước
thời hạn trong hợp đồng khi khách hàng vi phạm những cam kết trong hợp đồng tín dụng .
Khi khách hàng vay ,bên bảo lãnh khơng thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết ,cụ thể hoàn trả gốc lẫn lãi vay đúng thời hạn ,các TCTD được xử lý các
tài sản bải đảm tiền vay đẻ thu hồi nợ .Việc xử lý này tuân theo những nguyên tắc nhất định:” Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện một
nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của các bên; nếu khơng có thoả thuận thì tài sản được bán đấu gia theo quy định của pháp
luật. …Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ
thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm; nếu khơng có thoả thuận hoặc khơng thoả thuận
được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật. .. Việc xử lý tài sản bảo đảm phải được thực hiện một cách khách quan, công
khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia 38
giao dịch bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan và phù hợp với các quy định tại Nghị định này.
3
2.3.1.5. Phải duy trì tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định tại điều 81,82,Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung năm 2004,về tỷ lệ bảo đảm
an tồn và dự phòng rủi ro.Theo quy định tại khoản 1 điều 81 thì khả năng chi trả của các TCTD được xác định bằng tỷ lệ giữa tài sản “Có “ có thể thanh
tốn ngay so với các loại tài sản “NỢ “ phải thanh toán tại một thời điểm nhất định của TCTD. Để hồn thiện mơi trường pháp lý về quy chế hoạt động tín
dụng và rủi ro tín dụng, ngày 19 tháng 4 năm 2005, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Quyết định số 4572005QĐ-NHNN gọi tắt là Quyết
định 457 về các tỷ lệ bảo đảm an toàn mà các TCTD phải duy trì. Theo đó, các TCTD phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 25 giữa giá trị các tài sản “Có “có thể
thanh tốn ngay và các tài sản” Nợ “sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo, tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản” Có “có thể thanh tốn
ngay trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản Nợ phải thanh toán trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo.
2.3.2.Thực hiện các giao dịch bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay là việc các TCTD áp dụng các biện pháp phòng ngừa ,khắc phục rủi ro,tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho khách
hàng vay.Nghị định 1632006NĐ-CP ngày 2912 2006 về Giao dịch đảm
bảo. 2.3.2.1Đối với biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản :
Theo nghị định 1632006NĐ-CP : “Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong
tương lai và được phép giao dịch ”.
3
Nghị định 1632006NĐ-CPvề giao dịch đảm bảo.
Các giao dịch bảo đảm tiền vay bằng tài sản đóng vai trò to lớn trong việc cấp tín dụng, vừa giảm nguy cơ thiệt hại cho chủ nợ có bảo đảm, vừa góp
phần làm cho các quan hệ vay vốn ngày càng minh bạch, có hiệu quả. Để các giao dịch bảo đảm tiền vay bằng tài sản an toàn đối với các khoản vay, tài sản
bảo đảm phải thoả mãn các điều kiện: tài sản phải thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý của khách hàng vay bên bảo lãnh, tài sản được phép
giao dịch, tức là tài sản mà pháp luật cho phép hoặc không cấm mua bán, tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, và các giao dịch khác, tài
sản không có tranh chấp về quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu tại thời điểm ký kết hợp đồng đảm bảo. Đối với những tài sản mà pháp lụât quy định phải
mua bảo hiểm thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh phải mua bảo hiểm tài sản trong thời hạn bảo đảm tiền vay.Giao dịch bảo đảm tiền vay giữa khách
hàng và TCTD là sự cam kết nghĩa vụ trả nợ tiền vay của khách hàng cho TCTD, hình thức thể hiện là hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản
của người vay hoặc tài sản của người bảo lãnh, đây vừa là một giao dịch dân sự, vừa là hợp đồng phụ đi kèm với hợp đồng chính là HĐTD.
Pháp luật Việt Nam mà cụ thể là khoản 7 điều 3 và khoản 1 điều 4 nghị định 1632006NĐ-CP về giao dịch bảo đảm đưa ra một định nghĩa khá hợp
lý về tài sản bảo đảm: “Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm… …Tài sản bảo đảm do các bên thỏa thuận và thuộc sở hữu của bên có
nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có
quyền. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch”.
Quy định về tài sản bảo đảm còn có thể thấy ở điều 320 của Luật Dân Sự Việt Nam:
“Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch”.
2.3.2.1.1Bảo đảm tài sản bằng tài sản thế chấp Là việc bên vay vốn thế chấp tài sản của mình cho bên cho vay để bảo
đảm khả năng hoàn trả vốn vay.Thế chấp tài sản là việc bên đi vay sử dụng bất động sản thuộc sở hữu của mình hoặc giá trị quyền sử dụng đất hợp pháp
để bảo đảm nghĩa vụ đối với bên cho vay.Vấn đề thế chấp ngoài việc tuân thủ các quy định tại nghị định 1632006 về giao dịch đảm bảo ,còn phải tuân thủ
các quy định của Luật dân sự và Luật đất đai. Thế chấp bất động sản
Bất động sản là những tài sản không di dời được như nhà ở ,cơ sở sản xuất kinh doanh và các tài sản khác gắn liền với nhà ở hoăc cơ sở sản xuất
kinh doanh.Gía trị tài sản thê chấp bao gồm giá trị của tài sản kể cả hoa lợi ,lợi tức và các trái quyền có được từ bất động sản .Khi thế chấp hai bên
,TCTD và khách hàng phải thỏa thuận định giá tài sản thế chấp và ký kết hợp đồng thế chấp có chứng nhận của Phòng cơng chứng.
Thế chấp giá trị quyền sử dụng đất Ở Việt Nam đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dán do Nhà nước
thống nhất quản lý thực hiện việc giao đất hoặc cho thuê đất đối với cá nhân ,hộ gia đình,tổ chức kinh tế ,đơn vị vũ trang,cơ quan nhà nước,tổ chức
chính trị xã hội sử dụng ổn định lâu dài.trong các chủ thể được giao đất hoặc cho thuê đất nói trên chỉ có cá nhân ,hộ gia đình và các tổ chức kinh tế mới có
thể sử dụng quyền sử dụng đất làm tài sản thế chấp vay vốn.Ngoài ra cũng cần phân biệt trường hợp được phép thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và
không được phép thế chấp quyền sử dụng đất mà chỉ được phép thế chấp tài sản hữu gắn liền với quyền sử dung đất.
Theo quy định tại điều 28 của Nghị định 1632006NĐ-CP”Giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản cho
người yêu cầu đăng ký thế chấp Trong trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật cho phép dùng quyền
sử dụng đất hoặc tài sản có đăng ký quyền sở hữu để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự thì bên nhận thế chấp hoặc người thứ ba đang giữ Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản phải giao lại giấy chứng nhận đó cho người yêu cầu đăng ký để thực hiện thủ tục đăng ký
thế chấp, trừ trường hợp các bên cùng nhận bảo đảm có thoả thuận khác về việc thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm.
Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày hoàn thành việc đăng ký giao dịch bảo đảm, người yêu cầu đăng ký có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản cho bên nhận thế chấp hoặc người thứ ba có quyền giữ giấy chứng nhận đó, trừ trường hợp các bên có
thoả thuận khác” 2.3.2.1.2Bảo đảm tín dụng bằng tài sản cầm cố
Cầm cố tài sản là việc bên đi vay giao tài sản là các động sản thuộc sở hữu của mình cho bên cho vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ.Động sản
cầm cố có thể là là loại khơng cần đăng ký quyền sở hữu,có loại cần đăng ký quyền sở hữu xe cộ,phương tiện vận chuyển…
Đối với loại tài sản không đăng ký quyền sở hữu ,khi cầm cố,tài sản phải được giao nộp cho bên cho vay.
Đối với tài sản có đăng ký sở hữu khi cầm cố hai bên có thể thỏa thuân để bên cầm cố giữ tài sản hoặc giao tài sản cầm cố cho bên thứ ba giữ.
Các loại tài sản cầm cố: 42
Tài sản hữu hình như xe cộ,máy móc,máy bay,tàu biển…và các loại tài sản khác.
Tiền trên tài khoản tiền gửi hoặc ngoại tệ. Giấy tờ có giá như cổ phiếu,trái phiếu,tín phiểu,thương phiếu.
Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả ,quyền sở hữu công nghiệp…và các quyền phát sinh từ tài sản khác.
Lợi tức và quyền phát sinh từ tài sản cầm cố. 2.3.2.1.3.Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà mà gái trị tài sản được tạo bởi một phần hoặc toàn bộ khoản cho vay của TCTD.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc mà khách hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ
cho chính khoản vay đó với TCTD. TCTD cho vay trung hạn và dài hạn với các dự án đầu tư sản xuất ,phát triển
kinh doanh ,dịch vu,nếu khách hàng vay và tài sản hình thành vốn vay đáp ứng được các điều kiện khách hàng vay có tín nhiệm ,có khả năng tài chính để
trả nợ ,cón dự án đầu tư khả thi ,có mức vốn tự có tham gia vào dự án và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay tối thiểu bằng 50 vốn đầu tư.
2.3.2.2.Đối với biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản.
Pháp Luật quy định những biện pháp bảo đảm trong trường hợp cho
vay khơng có bảo đảm bằng tài sản là ;TCTD chủ động lựa chọn khách hàng vay để cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản.TCTD Nhà Nước được vay
khơng có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định của Chính phủ .TCTD cho các cá nhân ,hộ gia đình nghèo vay có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đồn
thể chính trị xã hội “Tín chấp là việc tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở bằng 43
uy tín của mình bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ.
….Cá nhân, hộ gia đình nghèo được bảo đảm bằng tín chấp phải là thành viên của một trong các tổ chức chính trị - xã hội quy định tại Điều 50 Nghị định
này. ….Chuẩn nghèo được áp dụng trong từng thời kỳ theo quy định của pháp
luật’.điều 49,nghị định 1632006NĐCP. Bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đồn thể-chính trị xã hội cũng là biện
pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản,theo đó tổ chức chính trị xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo lãnh
cho bên đi vay. Tuy việc cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản giảm nhẹ gánh nặng và
yêu cầu về tài sản cho người vay, nhất là đối với những dự án đòi hỏi vốn đầu tư lớn mà bản thân các chủ đầu tư khó có thể tập trung tồn bộ vốn liếng của
mình cho dự án như vậy. Nhưng mặt khác sẽ làm cho rủi ro trong việc cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản của các TCTD sẽ tăng lên, các TCTD
thường chia sẻ rủi ro thường tìm đến hình thức cho vay hợp vốn. 2.3.2.3.Các quy định về định giá tài sản và thứ tự ưu tiên thanh toán khi
xử lý tài sản bảo đảm. 2.3.2.3.1.Các quy định về dịnh gía tàì sản.
Việc các định giá trị của tài sản đảm bảo được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm là cơ sở để xác định mức cho vay chứ không áp dụng khi
xử lý tài sản để thu hồi nợ . Đối với tài sản bảo đảm tiền vay không phải là quyền sử dụng đất thì việc xác
định giá trị tài sản là do các bên thỏa thuận ,hoăc thuê tổ chức tư vấn tổ chức chuyên môn ,xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm xác định ,có
tham khảo đến các loại giá khác. 44
Việc xác định giá trị tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất có quy định riêng do đặc thù của quyền sử dụng đất .Theo quy định của pháp luật đất đai đất
được chia thành nhiều loại khác nhau ,căn cứ vào hình thức giao đất hay tính chất của mỗi loại đất .Vì vậy.cách thức xác định gía trị của mỗi loại đất cũng
khác nhau. Trường hợp bên bảo đảm dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều
nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 324 Bộ luật Dân sự thì các bên có thể thoả thuận dùng tài sản có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn tổng
giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
.
Về xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận giữa TCTD và bên bảo đảm, Nghị định 1632006NĐ-CP đã quy định nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm thực
hiện theo thỏa thuận của các bên, nếu khơng có thỏa thuận thì tài sản được bán đấu giá. Tuy nhiên, trong thực tế, việc TCTD tự xử lý tài sản bảo đảm
theo thỏa thuận gặp nhiều khó khăn do các trình tự, thủ tục xử lý còn phụ thuộc vào thái độ hợp tác của bên bảo đảm, bên giữ tài sản, TCTD chưa được
toàn quyền xử lý tài sản bảo đảm trong khuôn khổ pháp luật.
2.3.2.3.2.Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm.
Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo quy định tại Điều 325 Bộ luật Dân sự;Các bên cùng nhận bảo đảm bằng một
tài sản có quyền thoả thuận về việc thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong
phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền;Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh tốn cho các bên nhận
bảo đảm có cùng thứ tự ưu tiên thanh tốn thì số tiền đó được thanh tốn cho các bên theo tỷ lệ tương ứng với giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
“Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai
…Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được giao kết để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ trong tương lai có thứ tự ưu tiên
thanh tốn theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm đó, không phụ thuộc vào thời điểm xác lập giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa vụ trong tương lai”.
Điều 69 Nghị định 1632006NĐ-CP. 46
Kết luận chương II
Pháp luật bảo đảm an tồn trong hoạt động cho vay có ý nghĩa rất lớn đối với an toàn và hiệu quả của hoạt động ngân hàng, điều đó được chứng minh qua
những giá trị mà nó mang lại. Tuy nhiên, khơng phải bất kỳ những quy định nào được đặt ra đều là hợp lý vì pháp luật thì có tính ổn định tương đối mà
những hiện tượng trong xã hội thường xuyên thay đổi. Các quy định của pháp luật thường bị lạc hậu, không hiệu quả và không phản ánh được hết những
diễn biến phát sinh. Mặt khác cũng không thể khẳng định chắc chắn những quy định đặt ra có thể đem lại hiệu quả hay khơng bởi nó cần phải có thời
gian áp dụng trên thực tế. Cho nên, yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay là cần phải đạt được những chuẩn mực
nhất định, qua đó khẳng định và phát huy hơn nữa vai trò và hiệu quả của pháp luật.
Chương III:Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật trong hoạt động cho vay của các Tổ chức tín
dụng và pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay.
3.1.Một số đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
3.1.1.Những mặt tích cực và một số bất cập trong hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng
Trong những năm vừa qua,các quy định của pháp luật đối với hoạt động vay vốn tín dụng tại các tổ chức tín dụng,khơng ngừng được hồn thiện .Tuy
nhiên,những vấn đề pháp lý nảy sinh trong quá thực hiện các quy định của pháp luật trong thực tế đã gây ra khơng ít khó khăn cho các TCTD nói
riêng ,cũng như các cơ quan liên quan . 3.1.1.1.Những mặt tích cực trong hoạt động cho vay của các TCTD
Một là ,nội dung của pháp luật đối với hoạt động cho vay của các TCTD,về cơ bản dã được quy định rõ ràng như quy định về nguyên tắc cho
vay vốn ,loại cho vay;những điều khoản căn bản của một HĐTD cũng được ghi nhận tại điều 49 đến 64 của Luật các Tổ chức tín dụng,cũng như tại Quyết
định 16272001QĐ-NHNN,Quyết định 7832005QĐ-NHNN ngày 31052005…
Hai là, những đối tượng không được giao kết HĐTD, các tỷ lệ giới hạn an toàn trong cho vay của TCTD; tỷ lệ vốn tự có trên tài sản có rủi ro quy
đổi cũng được Ngân hàng Nhà nước quy định rõ theo điều 79, Điều 81 Luật các TCTD đã sửa đổi, bổ sung năm 2004.
Trong những năm qua, chất lượng hoạt động cho vay của các TCTD tăng đã đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội. Tăng trưởng tín dụng
qua các thời kỳ nhìn chung rất mạnh mẽ. Trong thời kỳ 1996-2000, dự nợ cho vay tăng 24-27năm. Trong thời kỳ 2001-2005, vốn huy động qua hệ thống
ngân hàng tăng 23,5 năm 2001 tăng 23,5; năm 2002 tăng 22,5; năm 2003 tăng 24,7; năm 2004 tăng 22,8; năm 2005 ước tính tăng 24. Dư
nợ cho vay của toàn nền kinh tế trong giai đoạn này cũng ở mức cao, bình quân đạt 26năm năm 2001 tăng 23,1; năm 2002 tăng 30,4; năm 2003
tăng 27,3; năm 2004 tăng 26,9. Hiện nay lượng vốn cho vay hàng năm của hệ thống ngân hàng khoảng trên 100 nghìn tỷ đồng., bằng khoảng 12-
14 GDP mỗi năm. Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng đến nay đạt gần 500 nghìn tỷ đồng. Tổng lượng vốn vay qua hệ thống ngân hàng chiếm
khoảng 30-35 tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Những con số trên cho thấy hoạt động vay vốn tín dụng từ các TCTD
trong thời gian vừa qua đã thực sự góp phần thúc đầy sự phát triển kinh tế đất nước.
3.1.1.2. Một số bất cập điển hình của pháp luật HĐTD Một là, một số quy định cho vay chưa phù hợp với thực tiến của hoạt
động tín dụng ngân hàng. Thứ nhất, Điều 19 quyết định 16272001QĐ-NHNN quy định những
đối tượng không được giao kết HĐTD với TCTD còn cứng nhắc. Trong nhiều trường hợp, cán bộ ngân hàng, thành viên và người nhà thành viên Hội
đồng quản trị, Ban kiểm toán, tổng giám đốc … Nếu có tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp và muốn dùng những tài sản này để cầm cố,
thế chấp tại chính ngân hàng mà họ đang trực tiếp quản lý và cơng tác thì việc cho vay đối với những đối tượng này khơng có gì mất an tồn, miễn là
họ không sử dụng vốn vay một cách phạm pháp. Hiện nay pháp luật lại cấm TCTD giao kết HĐTD với những đối tượng này trong khi họ hồn tồn có
khả năng trả nợ là điều bất hợp lý và không công bằng. Quy định này đã loại 49
bỏ một bộ phận không nhỏ những khách hàng tiềm năng của các TCTD vấn đề này đã được đề cập tại tiểu mục 2.2.4 .các trường hợp hạn chế cho vay
Thứ hai, bất cập trong việc quy định giới hạn cho vay đối với một khách hàng. Điều 20 luật các TCTD quy định TCTD không được phép cho một
khách hàng vay quá 15 vốn điều lệ của TCTD, nếu vượt quá phải xin phép Chính phủ; Luật cũng quy định tổng dư nợ cho vay đối với 10 khách hàng
vay lớn nhất không vượt quá 30 tổng dư nợ của TCTD. Quy định này quá khắt khe và không thực tế, làm hạn chế khả năng giao kết HĐTD. Với giới
hạn cho vay thấp như vậy trong khi có dự án có nhu cầu vay tới hàng nghìn tỷ đồng, đã gây khơng ít khó khăn cho các TCTD khi muốn tài trợ cho những
dự án lớn..
Một vi dụ điển hình trong thời gian qua ,đang gây khơng ít khó khăn cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp DN xuất khẩu lại lâm vào khó
khăn mới sau khi các ngân hàng NH thực hiện qui định mới của NH Nhà nước về hạn chế cho vay ngoại tệ. Trước đây, DN xuất khẩu có
thể chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu để vay ngoại tệ và bán lại cho NH lấy VND để kinh doanh nhưng nay nhiều NH không thực hiện
nghiệp vụ này nữa.
Trong khi đó NH vẫn hạn chế cho vay VND khiến DN rơi vào thiếu vốn. Theo các DN, việc NH khóa cả tín dụng VND lẫn ngoại tệ
chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu.Nhiều NH cổ phần lớn tại TP.HCM cho biết hai ngày gần đây lượng tiền gửi
giảm nhiều, nhất là của các DN. Trong khi đó, NH Xuất nhập khẩu VN Eximbank cho biết lượng tiền gửi huy động bằng ngoại tệ của
NH lại có dấu hiệu phục hồi, chỉ trong hai ngày nơi này đã huy động trên 6 triệu USD, trong đó chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm từ dân
cư.Trong ngày 23-4, các NH cho biết lại diễn ra tình trạng khó mua 50
ngoại tệ. Những ngày qua, tỉ giá VNDUSD đã được NH Nhà nước neo cứng ở mức 16.120 đồngUSD.Theo pháp luật hiện này, nếu
TCTD cho vay đối với một dự án vượt quá giới hạn luật định thì phải xin phép Chính phủ.Trên thực tế, khoảng thời gian cần thiết từ
khi TCTD đề nghị qua Ngân hàng Nhà nước, lên tới Chính phủ, đến khi có được quyết định được phép cho vay thường kéo dài vài
tháng, làm lỡ nhiều cơ hội kinh doanh của TCTD và không phù hợp với xu hướng cải cách hành chính hiện nay.
4
Hai là,việc chấp hành chưa đầy đủ các quy định về kiểm tra ,giám sát cho vay,cũng như việc đánh giá các thơng tín .Tại chỉ thị mới nhất về việc
tăng cường quản lý ,giám sát ,nhằm đảm bảo hoạt động tin dụng an toàn – hiệu quả -bền vững ,Thống đốc NHNN Việt Nam đã cảnh báo các TCTD
trong việc chấp hành quy chế cho vay ,quy định kiểm tra ,giám sát hoạt động chưa đầy đủ”.Nhiều TCTD chưa đảm bảo được một số chỉ tiêu an tồn tín
dụng trong hoạt động,đặc biệt là vấn đề cung cầu trên thị trường tín dụng chưa được quan tâm đứng mức ,dẫn đến hoạt động tín dụng còn tiềm ẩn
nhiều rủi ro,có những biểu hiện quay trở lại tình trạng nợ xấu tiếp tục phát sinh,gây khơng ít khó khăn cho hoạt động kinh doanh của các TCTD.
“Một trong những vấn đề nổi lên trong thời gian qua đó là :”Ngân hàng khơng thiếu vốn, nhưng doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV lại rất khó tiếp
cận nguồn vốn ngân hàng. Điều này đang cản trở sự vươn lên của cộng đồng DN Việt Nam, nhất là khi hơn 90 DN Việt Nam có quy mơ nhỏ và vừa trong
đó gồm nhiều DN siêu nhỏ, DN gia đình.
“Về mặt tâm lý, nhìn chung, các ngân hàng vẫn cảm thấy yên tâm hơn khi cho
4
vietbao.com
Quyết định số 092008QĐ-NHNN QĐ 09
DN nhà nước vay, do chưa có cơ quan đánh giá tín nhiệm của DN để đảm bảo tính khách quan, nên DNNVV càng ngày càng khó tiếp cận nguồn vốn. “Dù ở
Việt Nam đã có quỹ bão lãnh tín dụng, nhưng các quỹ này chưa hoạt động theo mơ hình kinh tế thị trường, vẫn nặng tính bao cấp, nên chưa hỗ trợ được
DNNVV”. Dẫn chứng kinh nghiệm của Mỹ, theo đó, cơ quan bảo lãnh tín dụng nước này
là tổ chức độc lập, bảo lãnh vay vốn ngân hàng cho DNNVV. Trong trường hợp DN không trả được nợ, cơ quan này sẽ trả cho ngân hàng 70 vốn vay,
ngân hàng chỉ chịu lỗ 30. Kết quả là hơn 90 số DN ở Mỹ được bảo lãnh vay tiền đã trả được nợ.
Nhưng lý do cơ bản khiến DNNVV không tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng, theo các đại biểu, là do báo cáo tài chính của DN chưa có độ tin cậy cao,
nhiều DN chưa phân định rành mạch tài sản, tài chính của DN với tài sản riêng của người lãnh đạo DN.
Do thiếu thơng tin tài chính DN, nên nhiều ngân hàng cho rằng, cho vay đối với các DN tư nhân, đặc biệt là DNNVV, thường chịu chi phí và rủi ro cao.
Điều này khiến ngân hàng buộc DNNVV phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe hơn về tài sản đảm bảo. DNNVV nên chủ động xây dựng chiến lược để cán bộ
ngân hàng có lòng tin vào DN.Cụ thể, DN cần phối hợp với kế toán, kiểm tốn để minh bạch về tài chính, từng bước nâng cao việc áp dụng các chuẩn mực kế
toán trongDN”. Các chủ DNNVV cần nhận ra rằng, sự tiếp cận nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài
phụ thuộc rất lớn vào tính minh bạch, trao đổi thơng tin cơng khai, cởi mở về thực trạng và triển vọng của DN.
Chính những thủ tục hành chính phiền hà cũng là lý do khiến DNNVV khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Một ví dụ đó là trước kia người dân có sổ đỏ cầm
đến ngân hàng là được thế chấp vay vốn, nhưng nay phải qua sở địa chính địa phương đóng dấu. “Tới đây, phải kiên quyết xóa bỏ những thủ tục thêm vào
này”, Có thể nói, còn rất nhiều việc phải làm cả từ ba phía, gồm DN, tổ chức tín dụng và Chính phủ để các DNNVV Việt Nam nâng cao tính minh bạch tài
chính. Về phía Chính phủ, các chuyên gia cho rằng, cần tăng cường các thể 52
chế quản lý và giám sát các DNNVV. Sự minh bạch tài chính rất khó được đảm bảo, nếu thiếu các phương tiện quản lý, giám sát thường xuyên và hiệu
quả. Nếu DN có tài chính minh bạch khơng được khuyến khích và hưởng những lợi
ích thích đáng hơn so với các DN thiếu minh bạch tài chính, thì khó lòng tạo được cuộc ganh đua giữa các DN trong vấn đề này. Nâng cao tính minh bạch
tài chính là yêu cầu cấp bách đối với các DNNVV, nếu các DN muốn phát triển và thành công trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt”
5
.Đặt ra vấn đề đối với việc thiết lập mạng lưới thông tin khách hàng cũng như các
quy định về kiểm toán ,kế toán ,cho phù hợp với các thơng lệ quốc tê.
Một số ví dụ có thể kể tới “Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vừa có Cơng văn số 1676 u cầu các ngân hàng thương mại tiến hành rà soát, đánh giá
chất lượng tín dụng các khoản cho vay bất động sản.
5
vietbao.com
Đánh giá chất lượng tín dụng các khoản cho vay
bất động sản để có biện pháp thích hợp xử lý, thu
hồi nợ vay đúng hạn. 53
Việc rà sốt này được tiến hành để có biện pháp thích hợp xử lý, thu hồi nợ vay đúng hạn. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ đạo việc cho vay bất
động sản của các ngân hàng thương mại phải đáp ứng các yêu cầu: Thực hiện đúng quy định của pháp luật về đất đai, đầu tư và xây dựng, tín dụng ngân
hàng;Thẩm định cho vay các dự án kinh doanh bất động sản trên cơ sở chủ đầu tư đã hoàn tất các thủ tục đầu tư, xây dựng theo qui định của pháp luật, có
phương án vay vốn và trả nợ phù hợp với phương án tiêu thụ sản phẩm khả thi; khống chế tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay hợp lý.
6
Ba là, vấn đề nợ quá hạn Trong nên kinh tế thị trường, các TCTD thu lợi chủ yếu từ các khoản
cho vay với khách hàng, nhưng những khoản cho vay này lại rất dễ gặp những rủi ro dẫn đến những khoản nợ quá hạn ngày càng lớn. Hiện nay, nợ quá hạn
của các ngân hàng thương mại bị coi là vấn đề bức xúc và phức tạp chất trong hoạt động cho vay của các TCTD. Những khoản nợ quá hạn khổng lồ mà hiện
tại ngành ngân hàng đang phải gánh chịu đã làm ảnh hưởng rất lớn tới khả năng thanh toán, giảm số tiên dự trữ và vốn của các TCTD.Chính “tảng băng”
về nợ quá hạn đang lặng lẽ nhấn chìm các TCTD vào vòng xốy nợ nần mà các TCTD vẫn “khơng hề hay biết”.Nợ quá hạn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu
quả hoạt động của các TCTD, tới các doanh nghiệp sử dụng vốn và kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, việc tìm ra những giải pháp khắc phục
tình trạng nợ quá hạn, đảm bảo việc thực hiện nợ tín dụng đã trở thành một
6
BVOM.COM-tin tuc.
đòi hỏi cấp thiết, cần giải quyết không chỉ cho ngành ngân hàng mà còn cho cả các cơ quan hữu quan.

3.1.2. Một số giải pháp nhằm làm hoàn thiện pháp luật HĐTD


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quy định nhằm đảm bảo an toàn trong cho vay đối với khách hàng

Tải bản đầy đủ ngay(64 tr)

×