Tải bản đầy đủ - 30 (trang)
Các giải pháp chung cho phát triển, hoàn thiện TTTC ở Việt Nam.

Các giải pháp chung cho phát triển, hoàn thiện TTTC ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ - 30trang

Với bất cứ một quốc gia nào đi theo nền kinh tế thị trường, TTTC là phong vũ biểu, là dấu hiện đặc trưng của nền kinh tế. Các tín nhiệm trên TTTC có ảnh hưởng
lớn đến tâm lý tiêu dùng, đầu tư. TTTC lành mạnh, ổn định sẽ giúp, đảm bảo cho các hoạt động kinh tế bền vững, an tồn, tạo một khơng khí n tâm, thoải mái trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Xuất phát từ nhu cầu cấp bách hiện nay, chúng ta phải đẩy mạnh công nghiệp hố, hiện đại hố đất nước, cần có một TTTC hoàn thiện nhằm phát huy mọi nguồn
nội lực và ngoại lực, tài trợ đủ vốn, công nghệ kỹ thuật cho q trình phát triển hồn thành cơng nghiệp hố đất nước.
Xuất phát từ thực trạng nhỏ bé, yếu kém của TTTC Việt Nam hiện nay cần phải phát triển và hồn thiện để có thể đáp ứng được u câùa đặt ra, từng bước nâng cao
vai trò của mình đối với nền kinh tế và hội nhập vào quốc tế, khu vực.
Xuất phát từ thực tiễn của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, hồn thiện TTTC luôn là một điều tất yếu khách quan do tầm quan trọng cũng như tính
nhạy cảm của nó. Đứng trước xu thế tồn cầu hố, TTTC dễ chịu những cú sốc bên ngồi. Dù TTTC có phát triển ở một trình độ cao như Nhật Bản, Hàn Quốc thì vẫn
chịu những hậu quả nặng nề từ cuộc khủng hoảng.
Chính vì vậy, phát triển, hồn thiện TTTC ở Việt Nam ln là tất yếu.

2. Các giải pháp chung cho phát triển, hoàn thiện TTTC ở Việt Nam.


+ Để phát triển TTTC cần dựa trên một nền kinh tế thị trường hoàn thiện đây là điều hiển nhiên. TTTC vững mạnh góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, ngược lại
kinh tế thị trường hoàn thiện sẽ tác động ngược trở lại chính TTTC và làm nền tảng cơ sở, làm mơi trường cho TTTC phát triển bền vững.
Để phát triển hoàn thiện kinh tế thị trường, từ ngay bây giờ cần có các chính sách cho phù hợp. Đường lối phát triển kinh tế đóng một vai trò quyết định bao trùm
lên cả sự phát triển, điều này phụ thuộc lớn vào hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước.
Phát triển đồng bộ các ngành, lĩnh vực dựa trên việc khai thác tối đa các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào và giá nhân công
thấp. Mặc dù vậy vẫn phải hướng nền kinh tế vào mơ hình hướng về xuất khẩu mà nhiều nước châu á Nhật Bản, các nước NICs đã rất thành công; ưu tiên vào các
ngành mũi nhọn và ngành thế mạnh: chế biến nông lâm thủy sản, dệt may, dầu khí... và đặc biệt là điện tử - tin học, ngành học có nhiều triển vọng. Ln ln coi nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu do chúng ta có gần 80 dân số nơng thơn, nâng cao thu
19 19
nhập cho họ sẽ là tăng thu nhập cho một bộ phận rất lớn dân cư, từ đó tăng được tiêu dùng, tích lũy cho nền kinh tế và vượt được ra khỏi đường giới hạn khả năng sản
xuất.
Đối với Việt Nam, cần lưu ý rằng, phát triển hoàn thiện TTTC phải dựa trên một nền kinh tế thị trường XHCN đề cao vai trò của Nhà nước và thành phần kinh tế
Nhà nước về quản lý kinh tế, dựa trên chế độ đa sở hữu song công hữu vẫn là ưu thế, đại bộ phận nhân dân làm chủ.
+ Nâng cao vai trò điều tiết kinh tế vĩ mơ của nhà nước, đặc biệt là NHTW cũng như kiện toàn hệ thống ngân hàng thương mại.
Đối với Nhà nước, cần có biện pháp quản hành chính song song với quản lý kinh tế. Thơng qua các chính sách tài khố và tiền tệ có thể điều chỉnh ổn định nền
kinh tế vĩ mô.
Thực tiễn không chỉ đối với Việt Nam mà còn rất nhiều nhà nước khác, để đạt được mục tiêu kinh tế này thì lại bị ảnh hưởng mục tiêu kinh tế khác. Chẳng hạn, để
giảm lạm phát thì có thể thất nghiệp tăng, để kích cầu nền kinh tế có thể dẫn đến thâm hụt ngân sách, lạm phát tăng, hay tăng thuế thì giảm thâm hụt ngân sách song
kinh tế lại trì trệ vv... Chính vì vậy, cần chú ý rằng nhà nước đang theo đuổi mục tiêu vĩ mô nào, và khi thực thi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến TTTC - tiền tệ, vì hầu hết
các chính sách vĩ mơ đều tác động đến TTTC: lạm phát, tỷ giá hối đoái thâm hụt ngân sách, lãi suất chiết khấu.v.v...
Tuỳ theo chế độ tỷ giá hối đối mà áp dụng chính sách tài khố mạnh hay chính sách tiền tệ mạnh. Ở nước ta, với NHTW cần từng bước nâng cao tính độc lập tự
chủ. Hiện tại, mơ hình NHTW t rực thuộc chính phủ vẫn là tối ưu vì nền kinh tế thị trường còn chưa phát triển, cần phát huy mạnh mọi nguồn lực xã hội. Tuy vậy tránh
sự áp đặt hoạt động từ phía chính phủ, đặc biệt là chính phủ nên tự cân đối ngân sách, trong trường hợp khẩn cấp mới dựa vào cơ chế phát hành tiền của NHTW.
+ Tạo điều kiện cho mọi chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia vào thị trường bình đẳng. Điều này là cần thiết cho một TTTC XHCN. Tạo cho tất cả mọi
chủ thể có cùng một cơ hội như nhau, khi đó sẽ tạo ra được mơi trường cạnh tranh hồn hảo, tất cả mọi chủ thể sẽ phát huy được năng lực của mình, góp phần thúc đẩy
lực lượng sản xuất phát triển.
Khơng được phân biệt nhà nước - tư nhân, trung ương - địa phương, có như vậy mới đảm bảo tính năng động của thị trường cũng như khai thác tối đa mọi nguồn lực
của mọi thành phần kinh tế.
20 20
+ Hình thành cơ chế đồng bộ, về hoạt động cho TTTC Việt Nam thống nhất từ trung ương đến địa phương:
Cơ chế hoạt động cho tổng thể TTTC Việt Nam phải dựa trên cơ chế thị trường XHCN, có sự quản lý thống nhất giữa NHTW và các ngân hàng địa phương làm rõ
chức năng phát hành tiền tệ, quy định tỷ lệ dự trữ, liên hệ lãi suất chiết khấu, giám sát hoạt động của NHTW đối với hệ thống ngân hàng thương mại.
Đối với hệ thống ngân hàng, làm rõ chức năng luân chuyển vốn, hướng vào thị trường vốn dài hạn, còn lĩnh vực vốn tiền tệ ngắn hạn thì chủ yếu cho các tổ chức tín
dụng phi ngân hàng, đẩy nhanh xí nghiệp hố hệ thống ngân hàng đảm bảo động lực thúc đẩy cạnh tranh nâng cao phục vụ cho nền kinh tế. Có chế độ quản lý các tổ chức
tài chính tín dụng ngân hàng bằng việc chịu trách nhiệm kinh tế và pháp luật tránh dựa hoàn toàn vào ngân hàng TW cung cấp vốn. Nâng cao tính tự chịu trách nhiệm
của hệ thống tổ chức tài chính - ngân hàng, đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh song vẫn phải phục tùng các u cầu vĩ mơ tài chính của nhà nước và chấp hành chính
sách tài chính.
+ Cải tiến phương thức phát hành các cơng cụ tài chính, tăng thêm hàng hố giao dịch và khuyến khích mua đi bán lại trên TTTC.
Các cơng cụ tài chính như trái phiếu chính phủ, doanh nghiệp, cổ phiếu, tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu, thương phiếu...
Hầu như hình thức phát hành còn mang tính nội bộ, chưa công khai nhiều khi gây nên những thái độ tiêu cực trong nhân dân và nhiều nhà đầu tư. Do đó, đối với
các trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, cần được thơng báo rộng rãi trên các phương diện thơng tin đại chúng: truyền hình, phát thanh, báo chí đến mọi người dân.
Đồng thời tránh các thủ tục rườm rà, đặc biệt là nên nâng cao, tính lỏng của các cơng cụ tài chính này sẽ góp phần đắc lực cho việc trao đổi, mua đi bán lại trên thị trường
cấp II.
Về trái phiếu doanh nghiệp, tránh tình trạng khơng cơng khai hố thơng tin doanh nghiệp. Điều này gây tâm lý e ngại cho công chúng cũng như các nhà đầu tư.
Đặc biệt hiện nay rất nhiều ngân hàng thương mại khơng có tình hình tài chính lành mạnh, thiếu thơng tin cơng khai làm giảm hiệu năng của ngân hàng và hạn chế việc
thanh tốn ngồi thị trường bằng các cơng cụ nợ này. Do đó, đi đơi và việc xã hội hố phát hành phát hành rộng rãi là việc xã hội hố thơng tin.
Để tăng hàng hố giao dịch, đặc biệt là trên TTCK, cần khuyến khích tăng cường phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Đặc biệt là tăng số công ty niêm yết trên thị
21 21
trường chứng khoán từ 4 cơng ty như hiện nay, có thể giảm số vốn quy định để nhiều cơng ty có cơ hội tham gia.
+ Phát triển, đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tài chính đảm bảo hoạt động chính xác, kịp thời, an tồn.
Việc điện tử hố các hệ thống giao dịch, trao đổi đảm bảo xử lý cơng bằng và hình thành hệ thống giá thị trường tốt nhất cho các nhà đầu tư, cho phép các trung
tâm lớn ... kết nối với nhau tạo nên một thị trường thống nhất trên cả nước. Đây là một giải pháp khác hợp lý cho tình hình phát triển công nghệ quốc tế và sự ứng dụng
công nghệ viễn thông đang diễn ra với tốc độ nhanh tại Việt Nam.
Không chỉ đảm bảo sự thống nhất trong nước ứng dụng, cơng nghệ thơng tin còn giúp TTTC Việt Nam hoà nhập dễ hơn vào TTTC quốc tế và khu vực, tranh thủ
thông tin của quốc tế vào tạo điều kiện tốt hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Phát triển mạnh cơ sở hạ tầng kỹ thuật sản xuất điện, đường, nhà xưởng... góp phần tạo ra một mơi trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư giúp huy động các nguồn lực
tài chính, đặc biệt là nước ngồi. Thực tiễn ở Việt Nam, cơ sở hạ tầng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Vùng Đơng Nam bộ Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai -
Bình Dương - Vũng Tàu... là vùng có cơ sở hạ tầng phát triển nhất Việt Nam hiện nay hàng năm thu hút hầu hết vốn tư bản nước ngoài và cũng là vùng có TTTC phát
triển nhất Việt Nam hiện nay, đang thử nghiệm trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên của Việt Nam.
+ Đào tạo đội ngũ nhân viên hoạt động trên TTTC năng động, có chuyên môn nghề nghiệp. Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất trong bất cứ tổ chức nào,
đặc biệt là lĩnh vực tài chính ngân hàng ln ln cần có sự nhạy bén, sáng tạo, biết phân tích đánh giá tình hình thị trường.
Cần đào tạo các nhân viên hoạt động và nhân viên quản lý đảm bảo đủ cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là chất lượng vì hoạt động ln đòi hỏi sự nhạy bén,
năng động. Có thể đào tạo theo các chương trình đại học, đào tạo tại chỗ và hợp tác đào tạo với nước ngoài... đảm bảo đủ cung cấp nhu cầu đổi mới thường xuyên trên
TTTC.
+ Hình thành hệ thống pháp luật đồng bộ và hồn chỉnh. Pháp luật là cơng cụ để Nhà nước quản lý về kinh tế trên TTTC đảm bảo sự
hoạt động an tồn, có hiệu quả. Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh vừa đảm bảo tính thống nhất của thị trường, vừa lành mạnh hố các quan hệ tài chính lại là mơi trường
đảm bảo cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
22 22
Hệ thống pháp luật phải rõ ràng, thống nhất, nghiêm minh mà vẫn đảm bảo được tính hấp dẫn cho các nhà đầu tư chân chính. Luật cần được điều chỉnh kịp thời
cho phù hợp với sự phát triển của TTTC, đặc biệt là luật kinh tế, doanh nghiệp, tuy vậy vẫn phải đảm bảo sự thích ứng kịp thời từ các doanh nghiệp. Cần tham khảo hệ
thống luật kinh tế từ các nước phát triển đảm bảo phù hợp mặt bằng chung. Hạn chế tối đa các kẽ hở pháp luật gây nhiều hiệu quả cho TTTC và hoạt động sản xuất kinh
doanh.
+ Từng bước đưa TTTC Việt Nam hội nhập vào quốc tế và khu vực. Hội nhập từng bước qua nhiều hoạt động: Đầu tư nước ngoài, vay thương mại, viện trợ ODA,
đầu tư chứng khoán...
Thực hiện hợp lý giữa bảo hộ và mở cửa, đảm bảo cho TTTC Việt Nam hội nhập song tránh bị phụ thuộc, lũng đoạn từ thị trường quốc tế, đảm bảo tranh thủ
vốn, công nghệ khoa học kỹ thuật cũng như các kinh nghiệm từ bên ngoài. Đây là điều bắt buộc với chúng ta hiện nay trong xu thế quốc tế hố các TTTC, do đó bước
đầu chúng ta có thể tham gia tích cực vào hoạt động của TTTC khu vực ASEAN, Châu á - Thái Bình Dương.
Để việc hội nhập đạt được kết quả, cần sớm hoàn thiện TTTC với các hoạt động trong nước, tạo sân chơi bình đẳng cho các cá nhân, tổ chức trong nước tham gia và
sớm hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đồng bộ.
Xây dựng, hồn thiện TTTC Việt Nam khơng phải là một việc đơn giản mà chúng ta có thể thực hiện được ngay. Cần hoàn thiện từng bước, áp dụng đồng bộ các
giải pháp và đặc biệt chú ý răng TTTC Việt Nam chỉ có thể phát triển hồn thiện trong một mơi trường xã hội ổn định có nền kinh tế thị trường phát triển và một Nhà
nước vững mạnh.

3. Xây dựng một mơ hình cho các loại thị trường ở Việt Nam.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các giải pháp chung cho phát triển, hoàn thiện TTTC ở Việt Nam.

Tải bản đầy đủ ngay(30 tr)

×