Tải bản đầy đủ - 30 (trang)
Thị trường vốn:

Thị trường vốn:

Tải bản đầy đủ - 30trang

đầu, trái phiếu và tín phiếu kho bạc tăng nhanh, từ 220,5 nghìn tỷ năm 91 lên 6.186 tỷ năm 97 và có lãi suất từ 9 - 12năm.
Hiện nay, đặc biệt sau năm 98, thị trường đi vào hoạt động trì trệ, mặc dù đã có lúc nâng đến một mức lãi suất rất cao chưa từng có 2,1tháng 25,2năm năm 93
nhưng vốn huy động vẫn còn nhỏ bé so với tiềm năng.
Đối với thị trường thương phiếu, kỳ phiếu hoạt động còn nhỏ bé, chủ yếu mới trên thị trường sơ cấp.

2. Thị trường vốn:


+ Thị trường trái phiếu chính phủ: Đi vào hoạt động từ tháng 7.94 đã giúp Nhà nước huy động được nguồn vốn dài hạn đầu tư xây dựng được một số cơng trình lớn,
trọng điểm quốc gia đặc biệt là đường dây 500KV, đường Hồ Chí Minh đang thực hiện và nhiều cơng trình khác, với số vốn có thể lên đến hàng chục tỷ đồng.
Thời hạn của cả trái phiếu kho bạc và trái phiếu chính phủ hiện nay đang có xu hướng tăng lên, lãi suất gắn liền với thị trường và có xu hướng giảm dần, làm giảm
gánh nặng trả lãi cho ngân sách nhà nước. Hoạt động của thị trường đang ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn và phổ biến trên cả nước.
Trong năm 1996, cả hai cơng trình thủy điện Yaly và Bình Thuận đã thu hút được 196,6 tỷ đồng loại kỳ hạn 1 năm, còn đường dây 500 KV tổng số là 334 tỷ.
Đây là kết quả bước đầu khả quan.
+ Thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Đi vào hoạt động từ năm 94, có đặc điểm chủ yếu là tồn tại duy nhất thị trường
sơ cấp, mà tại đó chỉ có một phần trái phiếu là được thanh ngắn, tỷ trọng trái phiếu của các cơng ty kinh doanh còn rất nhỏ, chiếm khoảng 9 so với trái phiếu do ngân
hàng phát hành và chủ yếu là bán trực tiếp.
Hiện nay, trái phiếu doanh nghiệp có thời hạn dài nhất mới chỉ là 5 năm như của công ty điện lạnh TP Hồ Chí Minh, nhà máy xi măng Anh Sơn.
+ Thị trường cổ phiếu. Bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 6 - 2000, trước đó 9.94 đã được chính phủ
ban hành quy chế hoạt động. Theo đó, chỉ có các cơng ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu.
Hiện tại đã có hơn 200 cơng ty cổ phần và nhiều doanh nghiệp đã phát hành cổ phiếu mong chỉ được sở hữu mà chưa được đưa vào lưu thông do chưa được phép
niêm yết trên TTCK. Điều này đã gây nhiều khó khăn cho việc cung ứng với cho nền
17 17
kinh tế, làm chậm quá trình đổi mới. Đặc biệt là tiến trình cổ phần hố diễn ra còn chậm, kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hố khơng được thơng tin hoạt
động.
Tuy vậy, sự ra đời của TTCK với 4 công ty được niêm yết bắt đầu gây dựng cơ sở cho TTCK sau này REE, SACOM, HAPHACO, TRANSIMEX. Các phiên giao
dịch đã bắt đầu sơi động mặc dù còn nhỏ bé, hàng giao dịch còn ít. Trước đó, năm 97m, SACOM nhờ phát hành cổ phiếu 240.000 cổ phiếu mệnh giá 500.000đ mà
tăng tài sản lên 10 lần, thông qua hoạt động giao dịch trên TTCK, các công ty trên đã mở rộng được sản xuất kinh doanh, nâng cao được uy tín vị thế của mình trên thị
trường cạnh tranh tạo được những hướng đi mới. Nhìn chung TTCK Việt Nam còn mới mẻ song bước đầu đã tạo lòng tin cho nhân dân.
Thực trạng TTTC Việt Nam.
Nhìn về tổng thể, số vốn huy động được trên TTTC tăng, nhưng tổng giá trị tín phiếu cổ phiếu giai đoạn 91 - 97 đạt 2,5 GDP. Nó còn q nhỏ bé so với nhu cầu
kinh tế xã hội trong khi ở các quốc gia phát triển, khoản vay trong nước chiếm hơn 50 GDP.
Kho bạc nhà nước, theo ước tính, mới chỉ huy động được 15 số tiền nhàn rỗi trong dân, khi mà lượng tiền này ước đạt 25 - 30 nghìn tỷ đồng. Lãi suất trái phiếu
ln cao hơn lãi suất như là một điều không thực tế so với nhiều nước trên trong mà một nguyên nhân chính là do sự yếu kém của hệ thống ngân sách, do tài sản này của
họ thiếu, nợ khó đòi tăng, tình hình kinh doanh khó khăn buộc phải tăng lãi suất tiền gửi lên cao hơn quy định, do đó mà người dân thích gửi tiền vào ngân sách hơn là
mua trái phiếu cổ phiếu và trái phiếu công ty. Để có thể thu hút cổ phiếu đã phải nâng lãi suất lên rất cao.
Hiện tại mới chỉ có khi bạc nhà nước và NHTW được quyền tham gia vào việc phát hành vay nợ. Điều này, mặc dù thể hiện sự non yếu của thị trường về các thiết
chế thị trường khác vẫn chưa xuất hiện nhưng hiện tại là chấp nhận được.
Mặc dù còn nhiều yếu kém, bất cập, song về cơ bản, TTTC Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, đã thu hút được một lượng vốn nhất định cho đầu tư phát triển đất
nước. Bước đầu hình thành TTCK ở Việt Nam tạo cho mọi cá nhân tham gia, tiếp xúc với một TTTC hiện đại, phát triển.
III. PHÁT TRIỂN VÀ HOÀN THIỆN TTTC Ở VIỆT NAM. 1. Hoàn thiện TTTC ở Việt Nam là một tất yếu khách quan.
18 18
Với bất cứ một quốc gia nào đi theo nền kinh tế thị trường, TTTC là phong vũ biểu, là dấu hiện đặc trưng của nền kinh tế. Các tín nhiệm trên TTTC có ảnh hưởng
lớn đến tâm lý tiêu dùng, đầu tư. TTTC lành mạnh, ổn định sẽ giúp, đảm bảo cho các hoạt động kinh tế bền vững, an tồn, tạo một khơng khí yên tâm, thoải mái trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Xuất phát từ nhu cầu cấp bách hiện nay, chúng ta phải đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước, cần có một TTTC hồn thiện nhằm phát huy mọi nguồn
nội lực và ngoại lực, tài trợ đủ vốn, cơng nghệ kỹ thuật cho q trình phát triển hồn thành cơng nghiệp hố đất nước.
Xuất phát từ thực trạng nhỏ bé, yếu kém của TTTC Việt Nam hiện nay cần phải phát triển và hồn thiện để có thể đáp ứng được yêu câùa đặt ra, từng bước nâng cao
vai trò của mình đối với nền kinh tế và hội nhập vào quốc tế, khu vực.
Xuất phát từ thực tiễn của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, hồn thiện TTTC ln là một điều tất yếu khách quan do tầm quan trọng cũng như tính
nhạy cảm của nó. Đứng trước xu thế tồn cầu hố, TTTC dễ chịu những cú sốc bên ngoài. Dù TTTC có phát triển ở một trình độ cao như Nhật Bản, Hàn Quốc thì vẫn
chịu những hậu quả nặng nề từ cuộc khủng hoảng.
Chính vì vậy, phát triển, hồn thiện TTTC ở Việt Nam luôn là tất yếu.

2. Các giải pháp chung cho phát triển, hoàn thiện TTTC ở Việt Nam.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thị trường vốn:

Tải bản đầy đủ ngay(30 tr)

×