Tải bản đầy đủ - 37 (trang)
1: NGUYÊN LIỆU CHO SẢN XUẤT KHOAI M

1: NGUYÊN LIỆU CHO SẢN XUẤT KHOAI M

Tải bản đầy đủ - 37trang

1

Chương 1: NGUYÊN LIỆU CHO SẢN XUẤT KHOAI M


Ì
1.1 Lịch sử phát triển của khoai mì Khoai mì có ngu ồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh Crantz, 1976
và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm CIAT, 1993. Trung tâm phát sinh cây khoai mì được giả thiết tại vùng đông bắc của nước Brazil thuộc lưu vực sơng
Amazon, nơi có nhiều chủng loại khoai mì trồng và hoang dại De Candolle 1886; Rogers, 1965. B ằng chứng về nguồn gốc khoai mì trồng là những di tích khảo cổ ở
Venezuela niên đại 2.700 năm trước công nguyên , di vật thể hiện củ khoai mì ở cùng ven biển Peru khoảng 2000 năm trước công nguyên, những lò n ướng bánh
khoai mì trong ph ức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niên đại khoảng 1.200 n ăm trước công nguyên, những hạt tinh bột trong phân hóa th ạch được phát hiện tại
Mexico có tuổi từ năm 900 đến năm 200 trước công nguyên Rogers 1963, 1965. Cây khoai mì được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi vào thế
kỷ 16. Tài liệu nói tới khoai mì ở vùng này là của Barre và Thevet viết n ăm 1558. Ở châu Á, khoai mì được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ 17 P.G. Rajendran et al,
1995 và Sri Lanka đầu thế kỷ 18 W.M.S.M Bandara và M Sikurajapathy, 1992. Sau đó, khoai mì được trồng ở Trung Quốc, Myanma và các nước châu Á khác ở
cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 Fang Baiping 1992. U Thun Than 1992. Khoai mì đựơc du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18, Phạm V ăn Biên, Hồng Kim,
1991.
Hình 1.1: Cây khoai mì và c ủ khoai mì Cây sắn - khoai mì Manihotesculenta Crantz, tiếng anh là cassava hay còn
gọi là manioc. Là loai cây sinh trư ởng khỏe, cây sử dụng tốt đất cạn kiệt, thích hợp với vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, nhiệt độ thích hợp là 18 - 30
C, thời gian sinh
2
trưởng 8 - 9 tháng, trồng vào tháng 2 - 3 cho năng suất cao nhất [1], khoai mì được trồng chủ yếu để lấy củ để sản xuất tinh bột khoai mì.
Khoai mì là cây l ương thực đứng hàng thứ sáu trên thế giới và một trong 15 cây trồng phổ chiếm di ện tích lớn nhất trong sản xuất nơng nghiệp của lồi ng ười.
Các nước sản xuất khoai mì đứng hàng đầu thế giới là Nigeria, Brazil, Thailand. Tổng sản lượng khoai mì trên thế giới n ăm 1984 khoảng 129,020 triệu
tấn, trong đó Việt Nam chiếm khoảng 2,2 [1]. N ăm 2001 tổng sản lượng củ khoai mì trên thế giới là 175,617389 triệu tấn, được phân bố theo bảng 1.1 .
Bảng 1.1 Sản lượng khoai mì thế giới n ăm 2001 [7]. Nước
Sản lượng triệu tấn Nigeria
33,854000 Brazil
24,481356 Thailand
18,238000 Congo
15,959000 Indonesia
15,800000 Ghana
7,845440 Tanzania
5,757968 ấn Độ
5,800000 Môdămbich
5,361974 Trung Quốc
3,750900 Các nước khác
38,723571 Tổng
175,617389
3
Ở Việt Nam trải dài từ Nam trí Bắc n ơi nào cũng trồng được khoai mì, nhưng tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ, vùng núi phía Bắc, vùng ven biển
miền Trung và vùng khu 4 cũ. Hiện sản l ượng khoai mì n ước ta xấp xỉ 3 triệu tấnnăm, chủ yếu sản xuất trên quy mô hộ gia đình. Sản lượng khoai mì n ước ta
trong thập niên 80 đến nay không tăng đáng k ể, bảng 1.2. Theo bảng tin ngày 19112002 VnExpress. Hi ện nay cả nước đã có 24 nhà máy ch ế biến tinh bột khoai
mì đi vào hoạt động, chủ yếu ở phía nam. Các nhà máy ở miền Trung và phía Bắc đang trong giai đo ạn hồn thiện.
Bảng 1.2 : Diện tích, sản l ượng khoai mì củ t ươi ở Việt Nam 1988 - 1992 Năm
Diện tích 1000 ha Sản lượng 1000 tấn
1988 317,7
2838,3 1989
284,6 2585,4
1990 256,8
2275,8 1991
273,2 2454,9
1992 277,2
2470,2 Ở Việt Nam khoai mì chủ yếu làm thức ăn gia súc 61, dùng cho s ản xuất
tinh bột chỉ chiếm 16 , xuất khẩu chiếm 5 dưới dạng khoai mì lát khơ, còn lại chủ yếu dùng cho ng ười dạng củ [11]. Gần 50 tinh bột khoai mì ở nước ta dùng
sản xuất bột ngọt. Trong khi ở Thailand hơn 50 tinh bột khoai mì dùng để sản xuất tinh bột
biến tính dùng cho cơng nghiệp thực phẩm và công nghiệp khác [11 ], Việt Nam chỉ có khoảng 15 - 20 dùng cho cơng nghi ệp.
1.2 Phân loại Có nhiều cách phân loại khoai mì.
Phân loại theo đặc điểm thực vật của cây: xanh, tía, lá 5 cánh, lá 7 cánh. Phân loại theo đặc điểm củ: khoai mì trắng hay khoai mì vàng .
4
Phân loại theo hàm lượng độc tố có trong khoai mì: khoai đắng hay khoai mì ngọt.
Khoai mì đắng M. UTILISSIMA có hàm l ượng HCN hơn 50 mgkg c ủ. Giống này thường có 7 lá cánh mũi mác cây thấp và nhỏ.
Khoai mì ngọt M. DULCIS có hàm lư ợng HCN dưới 50 mgkg củ. Giống cây này thường có 5 lá cánh mũi mác, cây cao thân to.
1.3 Đặc điểm sinh học  Thân
Thuộc loại cây gỗ cao từ 2 - 3 m trắng giữa thân có lõi và xốp nên rất yếu.  Lá
Thuộc loại lá phân thuỳ sâu, có gân lá nổi r õ ở mặt sau, thuộc loại lá đơn mọc xen kẽ, xếp trên thân theo chiề u xoắn ốc. Cuống lá dài từ 9 - 20 cm có màu
xanh, tím hoặc xanh điểm tím.  Hoa
Là hoa đơn tính có hoa đ ực và hoa cái trên cùng một chùm hoa. Hoa cái không nhiều, mọc ở phía d ưới cụm hoa và nở trước hoa đực nên cây luôn luôn được
thụ phấn của cây khác nhờ gió và cơn trùng.  Quả
Là loại quả nang, có màu nâu nhạt đến đỏ tía, có hình lục giác, chia thành ba ngăn, mỗi ngăn có một hạt, khi chín quả tự khai.
 Rễ Mọc từ mắt và mô sẹo của hom, lúc đầu mọc ngang sau đó c ắm sâu xuống
đất. Theo thời gian chúng phình ra to ra và tích luỹ bột thành củ.  Củ
Khoai mì hai đầu nhọn, chiều dài biến động từ 25 - 200 cm, trung bình khoảng 40 - 50 cm. Đuờng kính củ thay đổi từ 2 - 25 cm, trung bình 5 - 7 cm. Nhìn
chung, kích thước cũng như trọng củ thay đổi theo giống, điều kiện canh tác và độ màu của đất.
5
Củ khoai mì có cấu tạo hình gậy, hai đầu vút nhỏ lại cuống và đuôi. Tuỳ vào giống và điều kiện trồng trọt, củ khoai mì có kích th ước khác nhau thơng
thường có chiều dài 300 - 400 mm, đường kính 40 - 60 mm. Cá biệt có củ dài đến 100 mm, và có đư ờng kính đến 100 mm, củ khoai mì gồm bốn phần chính sau đây:
 Củ khoai mì gồm 4 phần chính: •
Vỏ gỗ chiếm 0.5 - 3 khối lượng củ. •
Vỏ cùi chiếm 8 - 10 khối lượng củ. •
Thịt khoai mì à phần chủ yếu của củ khoa i mì, bao gồm các tế bào nhu mô thành mỏng. Thành phần vỏ tế bào nhu mô là xenluloz ơ,
pentozơ, bên trong là các h ạt tinh bột và nguyên sinh chất. •
Lượng tinh bột trong thịt khoai mì phân bố không đều nhiều nhất ở lớp ngoài rồi giảm dần vào trong.
1.4 Thành phần hố học của khoai mì  Tinh bột khoai mì
Là thành phần quan trọng của củ khoai mì, nó quyế t định giá trị sử dụng . Tinh bột chiếm khoảng 32,28 tổng các chất có trong khoai mì.
Tinh bột khoai mì có màu rất trắng , trong q trình sản xuất nếu củ được nghiền khi chưa bóc vỏ, tinh bột thu được có màu rất tối. màu xám của tinh bột ảnh hưởng đến
chất lượng cũng như giá cả của sản phẩm. Hạt tinh bột khoai mì có kích th ước từ 5 - 40 µm với những hạt lớn 25 - 36
µm, hạt nhỏ 5 - 15 µm và có nhiều hình dạng, chủ yếu là hình tròn, bề mặt nhẵn, một bên mặt có chỗ lõm hình nón và một núm nhỏ ở giữa. D ưới ánh sáng phân cực,
các liên kết ngang với mật độ từ trung bình tới dày đặc có thể thấy rõ Khi hạt tinh bột khoai mì bị phá v ỡ, có thể quan sát được rãnh tạo cấu trúc
xốp của hạt. Các rãnh vơ định hình kéo dài từ bề mặt tới tâm của hạt tạo thành các lỗ xốp. Chính các lỗ xốp này giúp n ước xâm nhập làm tr ương nở tinh bột, phá vỡ các
liên kết hydro giữa các phân tử trong cấu trúc tinh thể, tạo điều kiện cho các enzyme phân hủy. Tinh bột khoai mì có cấu trúc hạt tương đối xốp, liên kết giữa
6
các phần tử trong cấu trúc tinh thể yếu, vì vật bị phân hủy bởi các tác nhân nh ư acid và enzyme hơn so v ới các loại tinh bột khác.
Tinh bột khoai mì có hà m lượng amylopectin và phân tử l ượng trung bình khá cao 215.000 gmol, hàm lư ợng amylose nằm trong khoảng 8 - 29 , nhưng nói
chung đa số các giống khoai mì có tỉ lệ amylose 16 - 18 . Tinh bột khoai mì có những tính chất t ương tự như các loại tinh bột chứa
nhiều amylopectin như đ ộ nhớt cao, xu h ướng thoái hoá thấp và độ bền gel cao. Hàm lượng amylopectin và amylose trong tinh b ột khoai mì liên quan tới độ củ nấu
chín và nhiều tính chất ứng dụng trong cơng nghiệp. Tinh bột khoai mì có nhiệt độ hồ hố trong khoảng 58,5 - 70
C Độ nhớt là chất quan trọng giúp tinh bột có nhiều ứng dụng, như là chất đặc
trong công nghi ệp thực phẩm, chất hồ vải trong công nghiệp dệt hay chất phủ trong công nghiệp giấy.
Độ nở và độ hòa tan của tinh bột là tính chất rất quan trọng và cũng rất khác nhau giữa các loại tinh bột. Khả n ăng nở và hòa tan cao thể hiện lực liên kết yếu
trong cấu trúc hạt.  Đường
Đường trong khoai mì chủ y ếu là glucoze và một ít maltoze , saccaroze. Khoai mì càng già thì hàm l ượng đường càng giảm. Trong chế b iến, đường hoà tan
trong nước được thải trong n ước dịch.  Protein
Hàm lượng của thành phần protein có trong củ rất thấp nên cũng ít ảnh hưởng đến quy trình cơng nghệ, tỷ lệ khoảng 1 - 2 .
 Nước Lượng ẩm trong củ khoai mì t ươi rất cao, chiếm khoảng 70 khối lượng
toàn củ. Lượng ẩm cao khiến cho việc bảo quản củ t ươi rất khó khăn. Vì vậy ta phải đề ra chế độ bảo vệ củ hợp lý tuỳ từng điều kiện cụ thể.
7
 Độc tố trong củ mì Ngồi những chất dinh d ưỡng trên, trong khoai mì còn có độc tố. Chất độc
có trong cây k hoai mì ngày nay đã được nghiên cứu và xác định tương đối rõ đó chính là HCN. Trong c ủ khoai mì, HCN tồn tại d ưới dạng phazeolunatin g ồm hai
glucozit Linamarin v à Lotaustralin.  Hệ enzyme
Trong khoai mì, các c hất polyphenol và hệ enzy me polyphenoloxydaza có ảnh nhiều tới chất l ượng trong bảo quản và chế biến. Khi ch ưa đào hoạt độ chất
men trong khoai mì y ếu và ổn định, nhưng sau khi đào th ì chất men hoạt động mạnh.
Polyphenoloxydaza xúc tác quá trình oxy hoá poly phenol tạo thành octoquinon sau đó trùng hợp các chất khơng có bản chất phenol như axitamin để
hình thành sản phẩm có màu. Trong nhóm polyphenoloxydaza có nh ững enzyme oxy hoá các monophenol mà đi ển hình là tirozinnaza xúc tác sự oxy hoá acid amin
tirozin tạo nên quinon t ương ứng. Sau một số chuy ển hoá các quinon này sinh ra sắc tố màu xám đen gọi là melanin. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho thịt
khoai mì có màu đen mà thường gọi là khoai mì chạy nhựa. Vì enzyme tập trung trong mủ ở vỏ cùi cho nên các vết đen cũng xuất hiện trong thịt c ủ bắt đầu từ lớp
ngoại vi. Khi khoai mì đã chạy nhựa thì lúc mài xát khó mà phá v ỡ tế bào để giải
phóng tinh bột do đó hiệu suất lấy tinh bột thấp, mặt khác tinh bột không trắng. Ngoài tirozinaza các enzy me oxy hoá khử cũng hoạt động mạnh làm tổn thất chất
khơ của củ. Hàm lượng tannin trong khoai mì ít nh ưng sản phẩm oxy hoá tannin là chất flobafen có màu sẫm đen khó tẩy. Khi chế biến, tannin còn có tác dụng với Fe
tạo thành sắt tannat cũng có màu xám đen. Cả hai chất này đều ảnh huởng đến màu sắc của tinh bột nếu như trong chế biến không tách dịch bào nhanh và triệt để.
Trong bảo quản khoai mì t ươi thường nhiễm bệnh thối khô và thối ướt do nấm và vi khuẩn gây nên đặc biệt đối với những củ bị tróc vỏ và dập nát. Ngoài ra
nếu củ bị chảy nhựa nghiêm trọng cũng sẽ dẫn tới hiện t ượng thối khô. Đi sâu phân tích về phương diện tổ hợp thành các chất dinh d ưỡng chủ yếu là đạm
8
và tinh bột vì đó là hai thành ph ần quan trọng của củ khoai mì có giá trị kinh tế nhất.
Tỷ lệ tinh bột và đạm phân bố không đều trong nhưng bộ phận khác nhau của củ khoai mì. Quy luật chung: hàm l ượng tinh bột tập trung nhiều nhất ở phần
sát vỏ bao, càng đi sâu vào lớp thịt sát lõi l ượng tinh bột lại ít đi, nhưng lượng đạm lại tăng lên một phần so với những lớp bên ngoài.
1.5 Các chỉ tiêu và các dạng nguyên liệu trong sản xuất tinh bột khoai mì 1.5.1 Chỉ tiêu nguyên liệu
 Phương pháp c ảm quan: xác định củ tốt củ xấu và xác định tương đối hàm lượng tinh bột.
Củ khoai mì nhiều bột ít x ơ, vỏ củ và vỏ bao mỏng, cuống ngắn củ to là tốt. Loại củ cuốn dài khi chế biến n ăng xuất bột kém vì cuống thực chất gồm phần lớn là
xơ gỗ. Chọn củ trung bình rồi bẻ làm đôi, nếu ta chỉ dùng một lực vừa phải bẻ gãy củ và thấy thịt sắn chắc và khơ, trắng đục thì như vậy có thể coi là thu hoạch khoai
mì đúng tuổi, hàm lượng tinh bột cao nhất. Nếu bẻ gãy củ cũng dễ dàng nhưng thấy thịt sắn có màu vàng nhạt, tuy chắc thịt nh ưng phần giữa củ ướt thì đó là khoai
mì non ít b ột.  Phương pháp th ực nghiệm
Dùng loại cân thực nghiêm Thái lan thiết kế và sản xu ất xác định. Nguyên tắc hoạt động dựa trên sự khác nhau về tỷ trọng giữa bột và n ước. Qua nhiều lần
khảo sát các số liệu ng ười ta thiết kế cân xác định được hàm lư
ợng
tương ứng của 5 kg củ. Củ được chặt khúc từ 3 - 5 cm. Cân hoạt động như sau: củ được chặt khúc
cho vào giõ cân 1 cân xác định khối lượng 5 kg lúc này quả cân hàm lượng đặt tại điểm không, sau khi cân đúng 5 kg củ, đổ xuống giỏ được nhấn chìm trong n ước.
1.5.2 Nguyên liệu trong sản xuất Trong sản xuất khoai mì, nguyên liệu dùng trong sản xu ất gồm có 2 dạng:
khoai mì tươi và khoai mì lát khơ.  Chế biến khoai mì lát khơ
• Thái lát
9
Làm cầu thái lát bằng một l ưỡi dao bài mỏng và dài h ơn một gang tay. Tay trái đặt và giữ củ khoai mì đứng lưỡi dao. Tay phải kéo than h gạt cho củ khoai
mì ngập vào lưỡi dao, cắt thành lát. Sử dụng bàn thái lát quay tay có 4 - 5 lưỡi dao để giảm nhẹ sức lao động và
tăng năng suất thái lát. •
Phơi khơ Trước khi phơi, nếu khoai mì được rửa lát khoai mì khơ sẽ trắng. Tùy quy
mô sản xuất và điều kiện cụ thể mà ph ơi khoai mì... Rải khoai mì thành một lớp trên sàn phơi. T ốt nhất là nên dùng sân xi m ăng, nong, nia, phên , cót để phơi
khoai mì. Phơi khoai mì khi trời nắng. Ngày ph ơi, tối nên cất để tránh sương làm giảm chất lượng sản phẩm. Trời m ưa, đưa khoai mì vào mái che và ho ng
gió. khoai mì càng chóng khơ n ếu có gió hoặc ph ơi trên sàn cao. •
Để nguội Sau khi phơi khoai m ì phải để nguội rồi mới đem cất trữ.
● Bảo quản Cho khoai mì đã để nguội vào dụng cụ bảo quản nh ư chum, vại, thùng kim
loại hoặc bao ni lông nhiều lớp kín v à có biện pháp phòng chống chuột, gián cắn phá. Nếu số lượng lớn, có thể quây cót tráng nhựa đường và dán giấy xi m ăng làm
dụng cụ bảo quản, nếu bảo quản tốt có thể giữ sắn lát trong 8 - 9 tháng. Thường 3 kg khoai mì củ tươi cho 1 kg lá khoai mì lát khơ.
 Bảo quản ngun liệu khoai mì t ươi Khoai mì là loại củ khó bảo quản vì dễ bị biến chất dễ h ư hỏng .Khoai mì có
hàm lượng nước cao rất dễ bị các loại men phân li các hợp chất hữu c ơ, thông thường người ta gọi là chạy nhựa làm cho củ khoai mì biến thành x ơ và bán xơ có
khi cứng như gỗ. Thực tế khoai mì sau khi thu hoạch về th ường không chế biến kịp nên phải
bảo quản khoai mì tươi trong một khoảng thời gian nhất định. Khi bảo quản, nếu tạo điều kiện càng giống khi ch ưa đào thì càng bảo quản được lâu. Có những cách như
sau:
10
● Bảo quản trong hầm kín: mục đích của việc bảo quản trong hầm kín là để tránh sự hoạt động của các enzym e trong củ mì có nghĩa là tránh hiện t ượng hư
hỏng. Hầm phải hồn tồn kín và khơ ráo, phải có mái che để tránh nước chảy vào. Hầm sâu khoảng 0.8, chiều rộng phụ thuộc vào số khoai mì cần bảo quản.
● Bảo quản bằng cách phủ cát khô: ph ương pháp này d ựa trên nguyên tắc bảo quản kín giống nh ư bảo quản trong hầm. Chọn củ có kích th ước đồng đều
không bị dập, vỏ không bị xây xát, xếp 1.5 m, chiều dài khoảng 4 m. Sau khi sắp xếp 0.6 m, rộng 1.2 thành luống cao 0.5 xong , dùng cát khơ phủ kín đống khoai
mì, lớp cát dày ít nhất 20 cm. Ngồi ra có th ể bảo quản bằng cách nhúng vào n ước vơi .Khoai mì sau khi
thu hoạch chọn những củ còn nguyên vẹn đem nhúng vào nư ớc vôi 0.5 hoặc dùng bình chứa nước vôi phun đều vào đống củ sau đó dùng trấu hoặc cát phủ kín
đống khoai mì trong 25 ngày. Một số nhà nghiên cứu đã tìm ra là khoai mì có th ể được bảo quản trong thời gian khá dài nếu chúng được giữ ở điều kiện lạnh đông
.Tuy nhiên, cách b ảo quản này ít được sử dụng vì chí phí quá tốn kém và ng ười ta cho rằng rằng phương pháp bảo quản chi phí cao nh ư vậy không phù hợp với mặt
hàng có chi phí th ấp như khoai mì. Ta chỉ nên bảo quản những củ nguyên vẹn vì những củ gãy xây xát th ường
nhiễm vi sinh vật làm cho củ thối, đặc biệt bệnh thối ướt dễ dàng lây sang những củ lân cận rồi lan ra từng đống.
Khi bảo quản cần lưu ý tới nhiệt độ. Nhiệt độ được xác định bằng cách: cắm ống đo vào ống thông hơi, nếu nhiệt độ củ khoai mì lớn hơn nhiệt độ ngoài trời
50 C thì đảo khoai mì. Nếu thấy củ thối hỏng, chạy nhựa, biến màu trắng sang
vàng hoặc đen thì bỏ. Những cách bảo quản trên được sử dụng trước đây khi khoai mì chỉ được
trồng theo mùa. Những n ăm gần đây ở tỉnh Tây Ninh người ta trồng khoai mì quanh năm, những nhà máy thu hoạch khoai mì từ những đồn điền của nhà máy hoặc thu
mua ở những đồn điền xung quanh và đưa vào sản xuất ngay không cần phải bảo quản. 1.6 Thành phần hoá học của tinh bột khoai mì
1.6.1 Cấu tạo của tinh bột khoai mì
11
Tinh bột là polysaccarit chủ yếu có trong hạt, củ, thân cây và lá cây. Tinh bột cũng có nhiều ở các loại củ nh ư khoai tây, khoai m ì, củ mài. Một lượng đáng kể
tinh bột cũng có trong các loại quả nh ư chuối và nhiều loại rau. Tinh bột có nhiều trong các loại lương thực do đó các loại lương thực được coi là nguồn nguyên liệu
chủ yếu để sản xuất tinh bột. Hình dạng và thành phần hóa học của tinh bột phụ thuộc vào giống cây, điều kiện trồng trọt ...
Tinh bột không phải là một chất riêng b iệt, nó bao gồm hai thành phần là amylose và amylopectin. Hai ch ất này khác nhau về nhiều tính chất lí học và hóa
học. Dựa vào sự khác nhau đó có thể phân chia được hai thành phần trên để điều chế dạng tinh khiết.
Hình 1.2: Cấu tạo của tinh bột Các phương pháp đ ể tách và xác định hàm lượng amylose và amylopectin là:
• Chiết rút amylose bằng n ước nóng.
• Kết tủa amylose bằng r ượu.
• Hấp thụ chọn lọc amylose trên xellulose.
Tinh bột là loại polysaccarit khối l ượng phân tử cao gồm các đơn vị glucose được nối nhau bởi các liên kết α - glycozit, có cơng thức phân tử là C
6
H
10
O
5
n, ở đây có thể từ vài trăm đến hơn 1 triệu. Tinh bột giữ vai trò quan trọng trong công
nghiệp thực phẩm do những tính chất hóa lý của chúng. Tinh bột th ường dùng làm chất tạo độ nhớt sánh cho các th ực phẩm dạng lỏng hoặc là tác nhân làm bền keo
12
hoặc nhũ tương, như các y ếu tố kết dính và làm đặc tạo độ cứng, độ đàn hồi cho nhiều loại thực phẩm.
Trong thực vật, tinh bột th ường có mặt dưới dạng khơng hồ tan trong n ước. Do đó có thể tích tụ một lượng lớn ở trong tế bào mà vẫn không bị ảnh h ưởng đến
áp suất thẩm thấu. Các hy đrat cacbon đầu tiên được tạo ra ở lục lạp do quang hợp, nhanh chóng đư ợc chuyển thành tinh bột. Tinh bột ở mức độ này được gọi là tinh
bột đồng hoá, rất linh động, có thể được sử dụng ngay trong quá trình trao đổi chất hoặc có thể được chuyển hoá thành tinh bột dự trữ ở trong hạt, quả, củ, rễ, thân và bẹ
lá. Hạt tinh bột của tất cả hệ thống nêu trên có dạng hình tròn, hình bầu dục, hay
hình đa giác. Hạt tinh bột khoai tây lớn nhất và bé nhất là hạt tinh bột thóc. Kích thước các hạt khác nhau dẫn đến những tính chất c ơ lý khác nhau như:
nhiệt độ hồ hoá, khả năng hấp thụ xanh metylen ... Có thể dùng ph ương pháp lắng để phân chia một hệ thống tinh bột ra các đoạn có kích thước đồng đều để nghiên
cứu. Tinh bột khoai mì có dạng hình cầu, hình trứng hoặc hình mũ, có một số hạt
trũng.
Hình 1.3: Dùng vi ảnh điện tử quét tinh bột khoai mì 1500 X
13
Hình 1.4: Dùng vi ảnh điện tử quét tinh bột khoai mì 3500X 1.6.2 Thành phần cấu trúc của amylose
Trong vi hạt, tinh bột tồn tại d ưới dạng hạt có kích th ước trong khoảng từ 0,02 - 0,12nm. Hạt tinh bột của tất cả các hệ có dạng hình tròn, hình bầu dục hay
hình đa diện. Cấu tạo và kích th ước của hạt tinh bột phụ thu ộc vào giống cây, điều kiện trồng trọt cũng nh ư quá trình sinh trưởng của cây.
Cấu tạo bên trong của vi hạt tinh bột khá phức tạp. Vi hạt tinh bột có cấu tạo lớp, trong mỗi lớp đều có lẫn lộn các amylose dạng tinh thể và amylopectin xắp xếp
theo phương hư ớng tâm. Nhờ phương pháp hiển vi điện tử và nhiễu xạ tia X thấy rằng trong hạt tinh
bột “nguyên thuỷ” các chuỗi polyglucozit của amylose và amylopectin tạo thành xoắn ốc với ba gốc glucose một vòng.
Trong tinh bột của các hạt ngũ cốc, các phân tử có chiều dài từ 0,35 - 0,7µm, trong khi đó chi ều dày của một lớp hạt tinh bột là 0,1 µm. H ơn nữa, các phân tử lại
xắp xếp theo hướng tâm nên các mạch glucozit của các polysaccarit phải ở dạng gấp khúc nhiều lần.
Các mạch polysaccarit sắp xếp h ướng tâm tạo ra độ tinh thể, các mạch bên của một phân tử amylopectin này nằm xen kẽ giữa các mạch bên của phân tử kia.
14
Ngoài cách sắp xếp bên trong nh ư vậy, mỗi hạt tinh bột còn có vỏ bao phía ngồi. Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng vỏ h ạt tinh bột khác với tinh bột bên
trong, chứa ít ẩm hơn và bền đối với các tác động bên ngồi. Trong hạt tinh bột có lỗ xốp nhưng khơng đều. Vỏ hạt tinh bột cũng có lỗ nhỏ do đó các chất hòa tan có thể
xâm nhập vào bên trong bằng con đường khuếch tán. Hầu hết, các loại tinh bột đều chứa hai loại polyme khác nhau về khối l ượng
phân tử và cấu trúc hóa học. Amylose là loại mạch thẳng, chuỗi dài từ 500 - 2000 đơn vị glucose, liên kết
nhau bởi liên kết α - 1,4 glicozit. Amylose “nguyên th ủy” có mức độ trùng hợp không phải hàng tr ăm mà là
hàng ngàn. Có hai lo ại amylose: Amylose có mức độ trùng hợp tương đối thấp Khoảng 2000 th ường khơng
có cấu trúc bất thường và bị phân ly hồn tồn bởi β - amylase. Amylose có m ức độ trùng hợp lớn h ơn, có cấu trúc án ngữ đối với β -
amylase nên ch ỉ bị phân hủy 60 . Trong hạt tinh bột hoặc trong dung dịch hoặc ở trạng thái thối hóa, amylose
thường có cấu hình mạch giãn, khi thêm tác nhân kết tủa vào, amylose mới chuyển thành dạng xoắn ốc. Mỗi vòng xoắn ốc gồm 6 đơn vị glucose. Đường kính của xoắn
ốc là 12,97 A , chiều cao của vòng xoắn là 7,91 A
. Các nhóm hydroxyl c ủa các gốc glucose được bố trí ở phía ngồi xoắn ốc, bên trong là các nhóm C - H.
Hình 1.5 Cấu trúc phân tử amylose glucose -α - 1,4 - glucose
15
1.6.3 Thành phần cấu trúc của amylopectin Amylopectin là polyme m ạch nhánh, ngồi mạch chính có li ên kết α - 1,4
glucozit còn có nhánh liên k ết với mạch chính bằng liên kết α - 1,6 glucozit.
Hình 1.6 Cấu trúc phân tử amylopectin Mối liên kết nhánh này làm cho phân tử cồng kềnh h ơn, chiều dài của chuổi
mạch nhánh này khoảng 25 - 30 đơn vị glucose. Phân tử amylopectin có thể chứa tới 100000 đơn vị glucose.
Sự khác biệt giữa amylose và amylopectin không phải luôn luôn rõ nét. Bởi lẽ ở các phân tử amylose cũng th ường có một phần nhỏ phân nhánh do đó cũng có
những tính chất giống nh ư amylopectin. Cấu tạo của amylopectin còn lớn và dị thể h ơn amylose nhi ều. Trong tinh bột t
đổi phụ thuộc thời tiết, mùa vụ và cách chăm bón.
16
Hình 1.7 Amylose và amylopectin 1.6.4 Các đặc tính của tinh bột khoai mì
1.6.4.1 Khả năng hấp thụ nước và khả năng hòa tan của tinh bột Khả năng hấp thụ nước và khả năng hòa tan của tinh bột cho phép điều chỉnh
được tỉ lệ dung dịch tinh bột và nhiệt độ cần thiết trong quá trình cơng nghiệp, còn có ý nghĩa trong quá trình b ảo quản, sấy và chế biến thủy nhiệt. Rất nhiều tính chất
chức năng của tinh bột phụ thuộc vào t ương tác của tinh bột và nước tính chất thủy nhiệt, sự hồ hóa, tạo gel, tạo màng. Ngồi ra, nó cũng là c ơ sở để lựa chọn tinh bột
biến hình thích hợp cho từng ứng dụng cụ thể. Ví dụ: để sản xuất các sản phẩm nước uống hòa tan nh ư cà phê, trà hòa tan thì nên ch ọn tinh bột biến hình nào có độ
hòa tan cao nhất. 1.6.4.2 Sự trương nở của tinh bột
Khi ngâm tinh b ột vào nước thì thể tích hạt t ăng do sự hấp thụ nước, làm cho hạt tinh bột trương phồng lên. Hiện t ượng này gọi là hiện t ượng trương nở của hạt
tinh bột. Độ tăng kích thước trung bình của một số loại tinh bột khi ngâm vào n ước như sau: tinh b ột bắp: 9,1, tinh bột khoai tây: 12,7, tinh bột khoai mì: 28,4.
1.6.4.3 Tính chất hồ hóa của tinh bột
17
Nhiệt độ để phá vỡ hạt chuyển tinh bột từ trạng thái đầu có mức độ oxy hóa khác nhau thành dung d ịch keo gọi là nhiệt độ hồ hóa. Phần lớn tinh bột bị hồ hóa
khi nấu và trạng thái tr ương nở được sử dụng nhiều hơn ở trạng thái tự nhiên. Các biến đổi hóa lý khi hồ hóa như sau: hạt tinh bột trương lên, tăng đ ộ trong suốt và độ
nhớt, các phân tử mạch thẳng và nhỏ thì hòa tan và sau đó tự liên hợp với nhau để tạo thành gel. Nhiệt độ hồ hóa khơng phải là một điểm mà là một khoảng nhiệt độ
nhất định. Tùy điều kiện hồ hóa nh ư nhiệt độ, nguồn gốc tinh bột, kich th ước hạt và pH mà nhiệt độ phá vỡ và trương nở của tinh bột biến đổi một cách rộng lớn.
1.6.4.4 Độ nhớt của hồ tinh bột Một trong những tính chất quan trọ ng của tinh bột có ảnh h ưởng đến chất
lượng và kết cấu của nhiều sản phẩm thực phẩm đó là độ nhớt và độ dẻo. Phân tử tinh bột có nhiều nhóm hydroxyl có khả n ăng liên kết được với nhau làm cho phân
tử tinh bột tập hợp lại, giữ nhiều n ước hơn khiến cho dung dịch có độ đặc, độ dính, độ dẻo và độ nhớt cao hơn. Yếu tố chính ảnh h ưởng đến độ nhớt của dung dịch tinh
bột là đường kính biểu kiến của các phân tử hoặc của các hạt phân tán, đặc tính bên trong của tinh bột như kích thước, thể tích, cấu trúc, và sự bất đối xứng của phân tử.
Nồng độ tinh bột, pH, nhiệt độ, tác nhân oxy hóa, các thuốc thử phá hủy liên kết hydro đều làm cho tương tác của các phân tử tinh bột thay đổi do đó làm thay đổi
độ nhớt của dung dịch tinh bột. 1.6.4.5 Khả năng tạo gel và sự thối hóa gel
Tinh bột sau khi hồ hóa và để nguội, các phân tử sẽ t ương tác nhau và x ắp xếp lại một cách có trật tự để tạo thành gel tinh bột với cấu trúc mạng 3 chiều. Để
tạo được gel thì dung dịch tinh bột phải có nồng độ đậm đặc vừa phải, phải được hồ hóa để chuyển tinh bột thành trạng thái hòa tan và sau đó được để nguội ở trạng thái
yên tĩnh. Trong gel tinh bột chỉ có các liên kết hydro tham gia, có thể nối trực tiếp các mạch polyglucozit hoặc gián tiếp qua phân tử n ước. Khi gel tinh bột để nguội
một thời gian dài sẽ co lại và lượng dịch thể sẽ thoát ra, gọi là sự thoái hóa. Q trình này sẽ càng tăng mạnh nếu gel để ở lạnh đơng rồi sau đó cho tan giá.
1.6.4.6 Khả năng tạo màng của tinh bột Giống như các hợp chất cao phân tử khác tinh bột có khả n ăng tạo màng tốt.
Để tạo màng phân tử tinh bột sẽ dàn thẳng ra, sắp xếp lại và tương tác trực tiếp với
18
nhau bắng liên kết hydro hoặc gián tiếp qua phân tử n ước.Màng tinh bột có tính chất đàn hối cao.
1.6.34.7 Khả năng tạo sợ của tinh bột Tinh bột có khả năng tạo sợ. Nhờ khả năng này mà tinh b ột được ứng dụng
làm bún miến, hủ tiếu.
19

Chương 2: QUY TRÌNH S ẢN XUẤT TINH BỘT KHOAI MÌ


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1: NGUYÊN LIỆU CHO SẢN XUẤT KHOAI M

Tải bản đầy đủ ngay(37 tr)

×