Tải bản đầy đủ - 33 (trang)
Các chỉ tiêu vật lí.

Các chỉ tiêu vật lí.

Tải bản đầy đủ - 33trang

dịch vụ chứa nhiều chất ô nhiễm phần lớn chưa qua xử lý cũng là yếu tố trực tiếp gây ô nhiễm nguồn nước của các con sông.
Hiện tại, toàn thành phố mới có 40 cơ sở sản xuất cơng nghiệp, 29 cơ sở dịch vụ và 5 bệnh viện có trạm xử lý nước thải. Và con số các nhà máy,
xí nghiệp gây ơ nhiễm mơi trường thành phố đã lên xấp xỉ tới 500 nhà máy, xí nghiệp. Một trong những chất thải gây ô nhiễm nặng nhất là nguồn nước
thải. Điều đáng nói là đến tận thời điểm này, vẫn chỉ có hơn 10 trên tổng số những nhà máy có lượng nước thải lớn là có trạm xử lý, mặc dù cũng
không đạt tiêu chuẩn quy định. Một nguyên nhân nữa cũng được coi là thủ phạm gây ra tình trạng ơ
nhiễm đó là ý thức vơ trách nhiệm của khơng ít những người dân sinh sơng gần các con sơng đó. Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những đống rác thải,
phế thải to đùng của người dân đổ vô tội vạ xuống sông. Đã đến lúc chúng ta cần phải hành động ngay để cứu các con sơng
này. Trước tiên là cần có sự liên kết giữa các ban ngành chức năng có liên quan mà ở đây là sở Tài Nguyên Môi Trường Nhà Đất và Sở Khoa học
Công nghệ Mơi trường thành phố Hà Nội, cần tìm ra những giải pháp tích cực để cải tạo, khắc phục tình trạng ơ nhiễm ở các con sơng. Bên cạnh đó
Cơng ty mơi trường đơ thị cũng cần có những chiến dịch nạo vét, tu sửa, thu gom rác thải…Và cần nhất là đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho những hộ
dân sống gần các con sông về ý thức giữ gìn vệ sinh mơi trường và bảo vệ nguồn nước.
1.2 M ột số chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước thải chủ yếu. [2]

1.2.1 Các chỉ tiêu vật lí.


1.2.1.1 Màu sắc.
Phạm Thị Thu Hồi - K50a Hố Học 4
Nước sạch khơng màu. Nước có màu là biều hiện nước bị ô nhiễm. Nếu bề dày của nước lớn ta có cảm giác nước có màu xanh nhẹ đó là do
nước hấp thụ chọn lọc một số bước sóng nhất định của ánh sáng mặt trời. Nước có màu xanh đậm chứng tỏ trong nước có các chất phú dưỡng hoặc
các thực vật nổi phát triển quá mức và sản phẩm phân huỷ của thực vật đã chết.
Quá trình phân huỷ các chất hữu cơ sẽ làm xuất hiện acid humic hồ tan làm nước có màu vàng. Nước thải của các nhà máy, cơng xưởng, lò mổ
có nhiều màu sắc khác nhau. Nước có màu tác động đến khả năng xuyên qua của ánh sáng mặt trời
khi đi qua nước, do đó gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái nước. Màu do hoá chất gây nên rất độc với sinh vật trong nước.
Cường độ màu của nước thường xác định bằng phương pháp so màu sau khi đã lọc bỏ các chất vẩn đục.
1.2.1.2 Mùi vị. Nước sạch không mùi. Khơng vi. Nếu nước có mùi có vị khó chịu là
triệu chứng nước bị ô nhiễm. Mùi vị trong nước gây ra do 2 nguyên nhân chủ yếu:
Do các sản phẩm phân huỷ các chất hữu cơ trong nước Do nước thải có chứa những chất khác nhau, màu mùi vị của nước
đặc trưng cho từng loại. Mùi của nước được xác định theo cường độ tương đối quy ước, ví dụ
nếu mẫu nước có mùi nhẹ và pha lỗng bằng nước sạch đến thể tích bằng 1:1; mà mùi biến mất thì chỉ số ngưỡng có mùi ton bằng 1, còn nếu pha
lỗng gấp đơi mùi mới biến mất thì chỉ số mùi bằng 2. Nếu pha lỗng gấp 4,5,6... mùi mới biến mất thì chỉ số ngưỡng mùi tương ứng là 4.,5,6..
1.2.1.3 Độ đục.
Phạm Thị Thu Hoài - K50a Hoá Học 5
Nước tự nhiên thường bị vẩn đục do những hạt keo lơ lửng trong nước, các hạt keo này có thể là mùn, vi sinh vật, sét. Nước đục làm giảm sự
chiếu sáng của ánh sáng mặt trời qua nước. Độ đục của nước được xác định bằng phương pháp so độ đục với độ đục của 1 thang chuẩn.
1.2.1.4 Nhiệt độ. Nguồn gốc gây ô nhiễm nhiệt chính là nguồn gốc nước thải từ các bộ
phận làm nguội ở các nhà máy nhiệt điện, do việc đốt các vật liệu bên bờ sông, hồ...Nhiệt độ trong các loại nước thải này thường cao hơn 10-20 độ so
với nước thường. Tuỳ theo mùa và vĩ độ địa lý mà nước nóng có thể gây ơ nhiễm hoặc
có lợi. Ở vùng có khí hậu ơn đới nước nóng có tác dụng xúc tiến sự phát triển của sinh vật và quá trình phân huỷ. Nhưng ở những vùng nhiệt đới như
nước ta, nhiệt độ nước thải vào sông, hồ tăng sẽ làm giảm hàm lượng ơxi hồ tan vào nước và tăng nhu cầu ôxi của cá lên 2 lần, tăng nhiệt độ còn xúc
tiến sự phát triển của các sinh vật phù du. 1.2.1.5 Chất rắn trong nước.
Nước có hàm lượng chất rắn cao là nước kém chất lượng. Chất rắn trong nước gồm có 2 loại: chất rắn lơ lửng và chất rắn hoà
tan, và tổng 2 loại chất rắn trên gọi là tổng chất rắn. Chất rắn lơ lửng thường làm cho nước bi đục, là một phần của chất
rắn có trong nước ở dạng khơng hồ tan. Căn cứ vào tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng có trong nước, ta có thể xét đoán hàm lượng mùn, sét và những
phần tử nhỏ khác trong nước. Chúng có thể có hại vì làm giảm tầm nhìn của các động vật sống trong nước và độ dọi của ánh sáng mặt trời qua nước.
Tuy nhiên nước có chất rắn lơ lửng là đất mùn như nước phù sa thì là dùng làm nước tưới cho nơng nghiệp rất tốt.
Phạm Thị Thu Hồi - K50a Hoá Học 6
Để xác định tổng chất rắn lơ lửng, mẫu nước lấy về phải được làm ngay hoăc phải được bảp quản ở 4 độ nhằm ngăn ngừa sự phân huỷ chất hữu
cơ bởi vi sinh vật. Lấy một thể tích nước nhất định, lọc qua giấy lọc đã biết khối lượng.
Cặn trên giấy lọc đem sấy khô ở 105 độ thường dùng 108 độ. Cân và tính ra mgl.
Chất rắn hồ tan, mắt thường khơng thấy được, thường làm cho nước có mùi vị khó chịu, đơi khi cũng làm cho nước có màu. Các chất rắn tan
trong nước thường là các chất khống vơ cơ và đơi khi cả một số chất hữu cơ như các muối clorua, cacbonat, Hidrocac bonat, nitrat, sunfat, phophat...
của một số kim loại như Na, K, Ca, Mg, Fe ... các phân bón Nước có hàm lượng các chất rắn hồ tan cao không dùng trong sinh
hoạt được, không dùng để tưới trong nơng nghiệp trong thời gian dài được vì sẽ gây mặn cho đất. Nước có chứa nhiều chất rắn tan có thể dẫn tới các vi
sinh vật trong nước bị hoại sinh, oxi bị tiêu thụ nhiều và nước trở nên kị khí, dẫn đến hậu quả cá bị chết và do q trình kị khí chiếm ưu thế nên giải
phóng các bọt khí như CO
2,
NH
3
, H
2
S ,CH
4
...làm cho nước có mùi. Nước có hàm lượng các chất tan lớn cũng khơng dùng được trong cơng nghiệp vì
các chất rắn sẽ dẫn đến đóng cặn trong bể chứa, nồi hơi, máy móc, gây ra ăn mòn kim loại...
Để xác định tổng hàm lượng các chất rắn tan trong nước, ta lọc mẫu nước qua giấy lọc băng xanh để tách những phần tử không tan lơ lửng trong
nước. Lấy 250 ml nước đã lọc, làm bay hơi trên bếp cách thuỷ đến cạn khơ, sau đó xấy cặn ở 180 độ, đem cân cặn và tính tổng hàm lượng chất rắn tan
có trong nước ra mgl. 1.2.1.6 Độ dẫn điện.
Phạm Thị Thu Hồi - K50a Hố Học 7
Các muối tan trong nước tồn tại ở dạng ion nên làm cho nước có khả năng dẫn điện. Độ dẫn điện của nước phụ thuộc vào nơng độ, tính linh đơng
và hoá trị của các ion ở một nhiệt độ nhất định. Như vậy khả năng dẫn điện của nước phản ánh hàm lượng chất rắn tan trong nước.
Để xác định độ dẫn điện, người ta đo điện trở hoặc dùng máy đo độ dẫn điện trực tiếp với đơn vị là milisimen trên 1m.

1.2.2 Một số chỉ tiêu hoá học và sinh hoc.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các chỉ tiêu vật lí.

Tải bản đầy đủ ngay(33 tr)

×