Tải bản đầy đủ - 23 (trang)
Thực trạng nền kinh tế nớc ta và định hớng của Việt Nam

Thực trạng nền kinh tế nớc ta và định hớng của Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 23trang

®ỉi cùc k× cao, thc tÝnh tèc ®é biÕn ®ỉi nói lên rằng khả năng bắt kịp các n- ớc cũng nh khả năng tụt hậu sẽ lớn. Kinh tế tri thức có thể là chiếc chìa khóa
vàng cho các nớc nghèo, chậm phát mở lối đi tắt, đón đầu, vơn lên bằng trí tuệ của mình. Việc gia nhập vào mạng toàn cầu hàm chứa khả năng phải chịu rủi
ro. Trình độ phát triển càng cách xa tiến độ phát triển chung của mạng thì độ rủi ro càng lín. Song kinh nghiƯm cho thÊy r»ng, trong khi nh÷ng rủi ro
khi tham gia vào mạng là tiềm ẩn thì những rủi ro do không tham gia vào mạng là chắc chắn và lớn hơn bất kì rủi ro nào khi tham gia vào mạng.
Tuy nhiên, đối với các nớc chậm phát triển, rất nhiều vấn đề còn tồn tại hạn chế khả năng chuyển sang kinh tế tri thức. Những tồn tại đó là: lực lợng
lao động ít tri thức, thiếu kĩ năng chiếm tuyệt đại đa số làm cho bớc quá độ diễn ra chậm; nguồn lực tài chính khan hiếm; tiềm lực khoa học và công
nghệtri thức yếu và thấp kém.... Những yếu tố này tự nó chứa đựng năng lực nhập mạng yếu, cản trở khả năng tiếp cận với các cơ hội phát triển.

2. Thực trạng nền kinh tế nớc ta và định hớng của Việt Nam


Nền kinh tế Việt Nam vốn đi lên từ một xuất phất điểm thấp: một nền nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp hầu nh không có gì, đất nớc sau chiến tranh
bị tàn phá nặng nề... Trải qua chế độ quan liêu bao cấp, nền kinh tế đó càng thêm lạc hậu, què quặt. Năm1986, Đảng và Nhà nớc ta quyết định tiến hành
đổi mới trên tất cả các lĩnh vực. Sau 15 năm đổi mới, chúng ta cũng đạt đợc một số thành tựu quan trọng. Kinh tế tăng trởng khá, tổng sản phẩm trong nớc
năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990. Nềnkinh tế từ trạng thái khan hiếm nghiêm trọng, nay đã đáp ứng đợc nhu cầu thiết yếu của nhân dân; từ cơ chế
tập trung, quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa; từ chỗ nền kinh tế chỉ có hai thành phần cơ bản là kinh tế nhà nớc
và kinh tế tập thể đã chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo. Đời sống nhân dân đợc cải thiện. Đặc biệt đã v-
ợt qua đợc cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính ở một số nớc châu á. Tuy vậy nền kinh tế còn tồn tại nhiều hạn chế: Kinh tế phát triển nhng cha vững chắc,
hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp. Mức tăng trởng kinh tế hàng nămđạt tới
15
gần 7 nhng GDP bình quân tính theo đầu ngời chỉ bằng 112 bình quân thế giới. Cơ cấu kinh chậm chuyển dịch, nặng về nông nghiệp. Lao động nông
thôn dồi dào, cần cù nhng vẫn thiếu việc làm. Sản phẩm làm ra chất lợng thấp, giá thành cao... Bên cạnh đó giáo dục cha phát triển. Khoa học công nghệ còn
nhiều yếu kém. Việc phân bổ, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học hiện nay còn nhiều điều bất hợp lí. Chất lợng đào tạo còn thấp, trình độ cha cập nhật đợc tri
thức hiện đại, bị hông nhiều về hiểu biết công nghệ, quản lí kinh doanh, tiếp thị, ngoại ngữ...
Dân tộc ta kiên cờng bất khuất, tất nhiên sẽ không chịu lùi bớc trớc khó khăn nào. Tttrong báo cáo chính trị tại đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng
định: Con đờng công nghiệp hóa- hiện đại hóa của nớc ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nớc đi trớc, vừâ có bớc tuần tự, vừa có bớc nhảy vọt.
Phát huy mọi lợi thế của đất nớc, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến. Đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh häc, tranh
thđ øng dơng ngµy cµng nhiỊu, ë møc cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu khoa học công nghệ, từng bớc phát triển kinh tế tri thức. Đây cũng chính
là định hớng cho nền kinh tế ViƯt Nam. Chóng ta cã thĨ ®i theo con ®êng rút ngắn, dựa vào khoa học công nghệ để thực hiện Công nghiệp hóa- Hiện hóa
đất nớc. Và khi hoàn thành sự nghiệp đó chúng ta cũng đồng thời chuyển nền công nghiệp đó sang nền kinh tế tri thức. Thực tế, cách thức rút ngắn này cũng
đã đợc nhiều nớc trên thế giới áp dụng thành công nh Nam Triều Tiên, Singapo... công nghiệp hóa đất nớc trong vòng 30 năm, Ailen từ một nớc nông
nghiệp những năm 60, ngày nay đàng hoàng sánh vai cùng các nớc tiên tiến. Chúng ta có thể và nhất định sẽ thực hiện đợc điều đó, nh tổng bí th Lê Khả
Phiêu đã nói: Nhân dân Việt Nam đã biết cầm đũa thì biết vót chông, đã biết vót chông thì mời ngón tay ấy sẽ biết học tập, sử dụng máy vi tính, đi vào
công nghệ thông tin, cánh cửa của tri thức. Tất nhiên đó không phải là một con đờng bằng phẳng mà sẽ vô cùng chông gai, vất vả đối với Việt Nam.
16

3. Những giải pháp đa ra cho Việt Nam tiến vµo nỊn kinh tÕ tri thøc


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng nền kinh tế nớc ta và định hớng của Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(23 tr)

×