Tải bản đầy đủ - 23 (trang)
Tác động của xu thế phát triển kinh tế tri thức đến quan hệ kinh tế quốc tế

Tác động của xu thế phát triển kinh tế tri thức đến quan hệ kinh tế quốc tế

Tải bản đầy đủ - 23trang

4. Tác động của xu thế phát triển kinh tế tri thức đến quan hệ kinh tế quốc tế


Quá trình chun tõ kinh tÕ c«ng nghƯ c«ng nghiƯp sang kinh tế tri thức có tác động mạnh đến quan hệ kinh tế quốc tế, từ phơng thức hoạt động đến
nội dung, cấu trúc các mối quan hệ đó. Có thể ®a ra mét sè t¸c ®éng chđ u nh sau:
- Kinh tế tri thức đẩy nhanh quá trình toàn cầu hãa, lµm cho nã trë thµnh xu thÕ bao trïm quan hệ quốc tế hiện đại. Do kinh tế tri thức
chủ yếu dựa trên việc tạo ra và sử dụng tri thức vốn mang tính chất năng động, lan tỏa không biên giới, trớc hết là khoa học-công nghệ
nên lực lợng sản xuất thế giới và các hoạt động kinh tế của con ngời ngày càng đợc đa dạng hóa, đa phơng hóa trên phạm vi toàn cầu.
Trên thực tế, không ít công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng toàn cầu hóa ngày nay là một xu thế khách quan và phổ biến, đợc thúc đẩy chủ yếu bởi
những tiến bộ của khoa học và công nghệ. Hiện nay, mỗi ngày tổng giá trị các giao dịch tài chÝnh qc tÕ lªn tíi 3500 tØ USD. Trªn 50.000 công ty xuyên
quốc gia với khoảng 300.000 công ty con nằm khắp các nớc trên thế giới. Các công ty con cũng ra sức nắm bắt và ứng dụngnhững tiến bộ mới về khoa học
và công nghệ để tăng sức cạnh tranh và mở rộng thị trờng của mình. Trên ph- ơng diện vĩ mô, các nớc đều tăng cờng héi nhËp kinh tÕ qc tÕ ®Ĩ tËn dơng
tèi ®a các cơ hội và hạn chế các bất lợi của quá trình toàn cầu hóa.
- Quá trình phát triển kinh tế tri thức làm cho phân công lao động trở nên sâu sắc và rộng khắp toàn cầu. Cùng với quá trình chuyển từ
kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thøc, tri thøc mµ tríc hÕt lµ khoa häc và công nghệ sẽ phát triển nhanh chóng, làm cho phân
công lao động quốc tế phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Bởi vì trong thời đại kinh tế này, khoa học-công nghệ và con ngời sẽ áp
đảo các lợi thế về đất đai, tài nguyên.... Một xu thế khác là sự phân công chuyên sâu trong hợp tác quốc tế cũng đợc tăng cờng theo h-
ớng ngày càng có nhiều công ty đi chuyên sâu vào sản xuất một mặt
12
hàng, một chi tiết cụ thể nào đó của một sản phẩm hoặc chỉ cung cấp một dịch vụ chuyên môn nhất định.
- Phát triển kinh tế tri thức sẽ làm thay đổi sâu sắc cơ cấu kinh tÕ thÕ giíi vµ cÊu tróc cđa quan hƯ kinh tế quốc tế. Trong những năm 60,
cơ cấu sản phẩm thế giới với các ngành nông nghiệp công nghiệp dịch vụ có tỉ lệ là 10,4-28,4-50,4 thì đến những năm 90, cơ
cấu này đã có sự thay đổi mạnh mẽ với tỉ lệ 4,4-21-62,4. Chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong cơ cấu kinh tế thế giới là
các ngành kinh tế dựa vào tri thức. Sự thay đổi trong cơ cấu của kinh tế các nớc và kinh tÕ thÕ giíi kÐo theo sù biÕn ®ỉi trong cÊu
tróc kinh tÕ qc tÕ, thĨ hiƯn ë mét sè khía cạnh sau:
+ Hàng hóa dịch vụ có hàm lợng trí tuệ cao ngày càng chiếm vị trí chủ chốt trong thơng mại quốc tế. Năm 1990, trao đổi kinh tế và công nghiệp
trao đổi khoa học và công nghệ giữa các nớc đạt 110 tỉ USD, năm 1995 là 250 tỉ USD và 500 tỉ USD năm 2000.
+ Thơng mại điện tử là lĩnh vực phát triển nhanh nhất và sẽ đóng vai trò hàng đầu trong thơng mại thế giới. Thực tế cho thấy, từ năm 1997 đến
năm 2002, thơng mại điện tử đã phát triển với tốc độ ghê gớm từ 17 tỉ USD đến gần 1000 tỉ USD.
+ Tình trạng vừa cạnh tranh vừa hợp tác giữa các doanh nghiệp và tính năng động, linh hoạt trên phạm vi quốc tế của chúng ngày càng tăng. Để
tồn tại và phát triển trong quá trình toàn cầu hóa, các công ty luôn tìm cách đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Hai xu hớng sáp nhập và
chia nhỏ các công ty đang cùng diễn ra, tạo nên sự linh hoạt của nền kinh tế.
+ Lợi thế so sánh của các quốc gia trong thơng mại quốc tế thay đổi theo hớng giảm dần các lợi thế truyền thống nh đất đai, tài nguyên, nhân
công rẻ, vị trí địa lý... và tăng vai trò của các yếu tố tri thức. Trong điều kiện hiện tại, cấc nớc phát sẽ có lợi thế hơn các nớc đang phát triển vì trình độ khoa
học công nghệ của họ nhìn chung là phát triển hơn, lại nắm giữ hầu hết các
13
nguồn vốn và có đội ngũ công nhân tri thức đông đảo. Tuy nhiên, quá trình này cũng mở ra nhiều cơ hội để các nớc đang phát triển có thể tận dụng đi
tắt, đón đầu trên con đờng phát triển kinh tế và thu hẹp khoảng cách so với các nớc đi trớc.
- Đặc tính tăng trởng bền vững của nền kinh tế thị trờng sẽ tạo nên sự biến đổi lớn về chất trong quan hÖ kinh tÕ quèc tÕ. Kinh tÕ quèc tÕ
sÏ phát triển một cách ổn định, nguy cơ về khủng hoảng sẽ không còn là một bóng đen bao trùm lên quan hệ kinh tế quốc tế nữa.
Dới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, xu hớng chuyển sang kinh tế thị trờng đã và đang là một thực tế và
ngày càng đợc khẳng định trớc hết là trong các nớc phát triển và các nớc công nghiệp. Khi kinh tế thị trờng đợc khẳng định một cách mạnh mẽ và vững chắc,
nhất định nó sẽ kéo theo sự biến chuyển về mặt xã hội, dẫn tới sự thay đổi ph- ơng thức sản xuất. Vì lẽ đó có nhiều nhà khoa học cho rằng kinh tế tri thức
đang đợc hình thành mét c¸ch tÊt yÕu, kh¸ch quan trong x· héi t bản chủ nghĩa. Khi kinh tế tri thức phát triển lan rộng sẽ làm sâu sắc thêm những mâu
thuẫn cơ bản của chủ nghĩa t bản, mặt khác sẽ tạo ra tiền đề vật chất to lớn cho một xã hội cao hơn xã hội t bản chủ nghĩa.
III- Việt Nam với xu thế hình thành và phát triển nỊn kinh tÕ tri thøc
1. Kinh tÕ tri thøc lµ một tất yếu khách quan đối với các nớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Với những biểu hịên thay ®ỉi nh hiƯn nay cđa nỊn kinh tÕ thÕ giíi, chóng ta cã thĨ thÊy kinh tÕ tri thức đang dần trở thành xu thế phổ biến trên
toàn cầu. ở những nền kinh tế lớn trên thế giới, các ngành kinh tế tri thức chiếm tỉ lệ ngày càng cao trong cơ cấu GDP. Tỉ lệ này là 57,3 ở Xin-ga-po,
55,3 ở Mĩ, 53 ở Nhật Bản, 51 ở Canađa và 48 ở Ô-xtrây-lia. Và một điều tất yếu là kinh tế tri thức phát triển sẽ cuốn vào vòng xoáy của nó tất cả
các nớc đang phát triển và kém phát triển. Do kinh tế tri thức có tốc độ biến
14
đổi cực kì cao, thuộc tính tốc độ biến đổi nói lên rằng khả năng bắt kịp các n- ớc cũng nh khả năng tụt hậu sÏ lín. Kinh tÕ tri thøc cã thĨ lµ chiÕc chìa khóa
vàng cho các nớc nghèo, chậm phát mở lối đi tắt, đón đầu, vơn lên bằng trí tuệ của mình. Việc gia nhập vào mạng toàn cầu hàm chứa khả năng phải chịu rủi
ro. Trình độ phát triển càng cách xa tiến độ phát triển chung của mạng thì ®é “rđi ro” cµng lín. Song kinh nghiƯm cho thÊy rằng, trong khi những rủi ro
khi tham gia vào mạng là tiềm ẩn thì những rủi ro do không tham gia vào mạng là chắc chắn và lớn hơn bất kì rủi ro nào khi tham gia vào mạng.
Tuy nhiên, ®èi víi c¸c níc chËm ph¸t triĨn, rÊt nhiỊu vÊn đề còn tồn tại hạn chế khả năng chuyển sang kinh tế tri thức. Những tồn tại đó là: lực lợng
lao động ít tri thức, thiếu kĩ năng chiếm tuyệt đại đa số làm cho bớc quá độ diễn ra chËm; ngn lùc tµi chÝnh khan hiÕm; tiỊm lùc khoa học và công
nghệtri thức yếu và thấp kém.... Những yếu tố này tự nó chứa đựng năng lực nhập mạng yếu, cản trở khả năng tiếp cận với các cơ hội phát triển.

2. Thực trạng nền kinh tế nớc ta và định hớng của Việt Nam


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tác động của xu thế phát triển kinh tế tri thức đến quan hệ kinh tế quốc tế

Tải bản đầy đủ ngay(23 tr)

×