Tải bản đầy đủ - 63 (trang)
Giai đoạn từ 1987 - nay.

Giai đoạn từ 1987 - nay.

Tải bản đầy đủ - 63trang

59,85, quy mô bình quân mỗi HTX ở đồng bằng là 300 - 400 ha canh tác, ở Miền Nam có từ 1000 đến 2000 ha đất nông, lâm nghiệp. Trong nông, lâm tr-
ờng quốc doanh tiến hành quy hoạch lại sản xuất, tổ chức các phân trờng, các đội, tăng cờng sự quản lý chặt chẽ theo cơ chế bao cÊp.
- ë miỊn Nam: víi ý mn nhanh chãng dùa kinh tÕ miỊn Nam ®ång nhÊt víi kinh tÕ xã hội chủ nghĩa miền Bắc nên công cuộc hợp tác hoá trong
nông nghiệp ở miền Nam đợc xúc tiến sớm và đẩy nhanh theo mô hình miền
Bắc, song không phù hợp với điều kiện kinh tế hàng hoá đã phát triển tơng đối cao và tâm lý, thói quen với thị trờng của nông dân Nam bộ. Đến 1980, phần
lớn HTX và tập đoàn sản xuất tan rã, sự tranh chấp đất đai trở nên gây cấn. Trong thời gian này, các đồn điền đinh điền lớn dới chế độ cũ đợc tiếp quản và
chuyển thành các nông, lâm trờng quốc doanh, đồng thời xây thêm một loạt các nông, lâm trờng mới. Do tốc độ phát triển nhanh, quy mô quá lớn, cơ chế
quản lý tập trung bao cấp làm thui chột tính năng động, tính hiệu quả của sản xuất kinh doanh hàng hoá vốn đã có, nên sự trì trệ kinh doanh của loại hình
doanh nghiệp này cũng tơng tự nh ở miền Bắc. Trớc tính hình này, Đảng và Nhà nớc đã thận trọng, nghiêm túc, xem
xét phân tích và đa ra chỉ thị 100CT về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và ngời lao động ngày 1311981 của Ban bí th trung ơng Đảng khoá VI. Kết
quả đem lại 67 vụ đợc mùa liên tiếp, sản lợng lơng thực tăng gần 1 triệu tấnnăm. Tuy nhiên, động lực khoán sản phẩm đến nhóm và ngời lao động đến
cuối 1983 đầu 1984 thì chững lại và dần dần giảm xuống. Bởi lẽ khoán sản phẩm mới chỉ điều chỉnh cơ chế phân phối và cơ ché lao động giữa ngời lao
động và HTX, giữa công nhân lao động và nông trờng, cha thiết lập đợc quyền làm chủ đầy đủ của các bộ nông dân. Mặt khác việc kéo dài cơ chế kế hoạch
hoá tập trung làm cho nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng cha thoát ra khỏi tình trạng trì trệ. Tình hình đòi hỏi cần có sự đổi mới, có những
giải pháp thích hợp hơn, toàn diện hơn và sâu sắc hơn.

4.2. Giai đoạn từ 1987 - nay.


18
Trong giai đoạn này liên tục trong các nghị quyết đại hội VI, VII, VIII, IX, Đảng ta thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định h- ớng xã hội chủ nghĩa. Chính sách đó trong nông nghiệp đợc cụ thể và hoàn
thiện trong các văn bản quan träng mang tÝnh lÞch sư nh: NghÞ qut 10 cđa Bộ chính trị khoá VI 541988 Nghị quyết 6 Trung ơng khoá VII 31989, Luật
đất đai 1993, Nghị quyết V của Khoá VII 61993, Luật HTX 41996.v.v... a. Xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ,g iao đất, cấp sổ đỏ,
quy định 4 quyền sử dụng đất đai lâu dài cho hộ nông dân. Tính đến đầu năm 2000 cả nớc có 115 ngàn trang trại. Qua số liệu khảo
sát 3044 trang trại ở 15 tỉnh thuéc 7 vïng kinh tÕ trong ®ods cã 2619 trang trại nông nghiệp, 121 trang trại lâm nghiệp và 280 trang trại kinh doanh thuỷ sản.
Quy mô bình quân chung một trang trại về đất nông nghiệp là 663 ha, vốn là 291, 43 triệu; doanh thu hàng năm 105, 426 triệu đồng với tỷ suất hàng hoá
gần 87 và thu nhập đạt 43,723 triệu chiếm gần 41,5 doanh thu. b. Chuyển đổi các HTX nông nghiệp theo mô hình tập thể hoá
Tính đến đầu năm 2000 đã chuyển đổi vẫn còn hơn 4000 HTX, phần lớn là ở các tỉnh đồng bằng sông hồng và trung du, miền núi phía bắc. Trong số
HTX đợc chuyển đổi mới chỉ thay đổi về bộ máy tổ chức và con ngời quản lý chđ u, cha cã sù ®ỉi míi vỊ néi dung và phơng thức hoạt động kinh doanh.
Cũng trong thời gian này cả nớc đã thành lập thêm 1037 HTX nông nghiệp và hơn 50.000 tổ kinh tế hợp tác, đồng thời sông Cửu Long chiém 80.
c. Trong nông, lâm ng nghiệp, các trạm trại kỹ thuật và các doanh nghiệp khác trong ngành đã và đang thực hiện các nội dung:
Các nông, lâm ng trờng đã giao đất, giao vờn cây, mặt nớc thực hiện khoán sản phẩm đến hộ gia đình, công nhân viên và một số nông dân trong
vùng. Đến nay hầu hết các nông, lâm trờng đã chuyển thành DNNN với hình thức Công ty, tổng Công ty.
Phần lớn các tổng Công ty và các doanh nghiệp đã và đang chuyển mạnh vào kinh doanh, tự chủ hoàn toàn về tài chính, cố gắng phấn đấu tăng lợi
19
nhuận ở những doanh nghiệp làm ăn khá, giảm lỗ tiến tới hoà vốn và có lãi ở những doanh nghiệp kinh doanh yếu. Đặc biệt đã xuất hiện một số doanh
nghiệp giỏi liên kết nông, lâm, thơng nh: SOHAFARM - IMPORT - EXPOTR và liên hiệp mía đờng Lam Sơn. Tuy nhiên không ít tổng Công ty và doanh
nghiệp còn lúng túng về vốn, thị trờng, cha có hình thức tổ chức và cơ chế liên kết thích hợp và hiệu quả giữa nông hộ với nông trờng, giữa các khâu nông
nghiệp với chế biến - thơng nghiệp, giữa doanh nghiệp với các HTX và các tính toán hiệu quả kinh doanh một cách đích thực.
d. Biện pháp đối với các DNNN của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Bộ đã xây dựng đề án tổng hợp sắp xếp doanh nghiệp Nhà nớc trong ngành theo tinh thần chỉ thị 20 - 1998CT - TTG ngày 2141998 của Thủ tớng
Chính phủ. Trong đề án dự kiến . Nhóm 1: những doanh nghiệp cần duy trì 100 vốn Nhà nớc là 132 đơn
vị trong 32 doanh nghiệp công ích và 100 doanh nghiệp kinh doanh những ngành hàng xuất khẩu lớn tạm thời cha cổ phần hoá.
Nhóm 2: gồm những doanh nghiệp cần cổ phần hoá chuyển đổi cơ cấu sở hữu với 131 đơn vị trong đó có 37 doanh nghiệp đợc Nhà nớc giữ cổ phần
chi phối, cổ phần đặc biệt. Nhóm 3: nhóm các doanh nghiệp yếu kém thua lỗ cần thực hiện bán,
khoán, cho thuê và giải thể là 29 đơn vị trong đó có 7 doanh nghiệp cần giải thể.
Các DNNN Nhà nớc bao gồm các tổng Công ty và các doanh nghiệp độc lập nh trên đã nói đã tự giải phóng khỏi chức năng, trực tiếp làm nông
nghiệp, giao lại nó cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại, chỉ tập trung vào kinh doanh dịch vơ kü tht vµ kinh doanh thu gom, chÕ biÕn và tiêu thụ sản phẩm
cho thị trờng trong nớc và cho xuất khẩu. Các doanh nghiệp công ích vẫn hầu nh hoạt động mang tính kế hoạch
chung chung và hợp đồng trách nhiệm tơng tự nh khi còn là đơn vị sự nghiệp, ch tìm đợc mô hình và cơ chế kinh doanh phù hợp với đặc điểm của mình.
20

II. Đặc điểm công tác tổ chức và sử dụng lao động trong một số DNNN ở Việt Nam


Nhìn chung công tác tổ chức và sử dụng lao động trong quản trị DNNN ở Việt Nam là tơng đối hiệu quả. Một số DNNN luôn luôn có những thay đổi
trong công tác quản trị doanh nghiệp, những thay đổi này nhằm thích nghi hơn nữa của bộ máy quản trị doanh nghiệp sao cho phù hợp với sự phát triển của
thời đại. Trớc đây, trong thời kỳ bao cấp, tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp Nhà nớc chịu ảnh hởng của cơ chế tập trung, hành chính, bao cấp. Chức
năng của bộ máy quản trị doanh nghiệp lúc bấy giờ là quản lý trực tiếp toàn bộ t liệu sản xuất đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động...
Bộ máy quản trị DNNN Nhà nớc từ ban giám đốc đến các phòng ban, tổ đội của sản xuất khá cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, hạn chế tính tự chủ sáng
tạo của ngời lao động. Trong DNNN Nhà nớc, bộ máy quản trị thờng tổ chức theo cấp nh sau:
- Cấp giám đốc và các phòng ban làm việc - Cấp nhà máy chế biến
- Cấp đội sản xuất và các phân dởng chế biến đội, trởng, đội phó, quản đốc phân xởng, nhân viên thống kê, kế toán...
- Cấp tổ nhóm sản xuất. Một số nơi đã tổ chức hình thức xí nghiệp liên hiệp công nông nghiệp
với bộ máy quản trị gồm 5 cấp khá cồng kềnh. Đặc điểm của tổ chức bộ máy quản trị là các hoạt động sản xuất kinh doanh chịu sự điều hành của ban giám
đốc. Các mối quan hƯ thùc hiƯn chđ u theo c¬ cÊu trùc tun dọc từ giám đốc đến ngời lao động, thiếu các mối quan hệ ngang giữa các bộ phận.
Trớc tình hình đó đòi hỏi Nhà nớc cũng nh các doanh nghiệp nông nghiệp phải có những chủ trơng và chiến lợc đổi mới thích hợp cho công tác
quản trị trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Các DNNN Nhà nớc thực hiện chủ trơng chuyển từ chức năng trực tiếp sản xuất sang chức năng dịch vụ sản
xuất. Từ đó DNNN Nhà nớc giao đất đai, vờn cây lâu năm, đang gia súc cơ bản, một số t liệu sản xuất khác cho ntời và nhóm ngời lao động díi h×nh thøc
21

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giai đoạn từ 1987 - nay.

Tải bản đầy đủ ngay(63 tr)

×